ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo


Lượng giá tổn thất các giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng



tải về 1.54 Mb.
trang14/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

4.2. Lượng giá tổn thất các giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng

4.2.1. Biến động ĐNN ven biển vịnh Tiên Yên


Tại khu vực nghiên cứu, trong giai đoạn 2000 - 2009, các kiểu ĐNN ven biển có sự thay đổi và luân chuyển về diện tích giữa các kiểu ĐNN ven biển. Trong đó, RNM và NTTS có sự chuyển dịch diện tích lớn nhất. Vùng nước cửa sông, vùng biển nông ngập nước thường xuyên có độ sâu dưới 6 m khi triều thấp, bãi bùn gian triều, bãi cát, cuội, sỏi ít biến động hơn. Hướng chuyển đổi chủ yếu giữa các kiểu ĐNN ven biển là sự gia tăng diện tích của các ao, đầm NTTS do mở rộng diện tích và suy giảm RNM. Ngoài ra, còn có sự chuyển đổi từ RNM (I) sang bãi bùn gian triều (G), bãi bùn gian triều sang NTTS (1), RNM (I) sang NTTS (1), bãi cát, cuội, sỏi (E) chuyển thành vùng nước cửa sông (F) và vùng biển nông ngập nước thường xuyên có độ sâu dưới 6 m khi triều thấp (A), và một phần nhỏ diện tích RNM được phục hồi từ các ao, đầm NTTS đã thoái hóa. Cụ thể sự biến động đối với từng kiểu ĐNNVB tại vịnh Tiên Yên như sau:

Bảng 4.15. Biến động diện tích các kiểu ĐNNVB năm 2000 - 2009

Kiểu ĐNNVB

Năm 2000 (ha)

Năm 2009 (ha)

Thay đổi 2000 - 2009 (ha)

I

9.400,08

9.005,64

-394,44

G

17.791,12

17.820,93

29,81

F

13.679,30

13.686,18

6,88

E

1.942,39

1.919,46

-22,93

Kiểu 1

1.956,15

2.320,78

364,63

A

49.912,83

49.928,88

16,05

Nguồn: Lê Thị Nga, 2011

Bảng 4.16. Ma trận biến động diện tích các kiểu ĐNN tại KVNC 2000 - 2009

Năm

Kiểu ĐNNVB

Năm 2000 (ha)

Tổng diện tích

năm 2009

Tổng thay đổi

năm 2009

Phần trăm

I

G

F

E

Kiểu 1

A

2009 

 

 



I

8.998,76










6,88




9.005,64

6,88

1%

G

128,42

17.692,51













17.820,93

128,42

25%

F







13.679,30

6,88







13.686,18







E










1.919,46







1.919,46







Kiểu 1

272,9

98,61







1.949,27




2.320,78

371,51

71%

A










16,05




49.912,83

49.928,88

16,05

3%

Tổng diện tích

năm 2000

9.400,08

17.791,12

13.679,30

1.942,39

1.956,15

49.912,83

94.681,88







Tổng thay đổi năm 2000

401,32

98,61




22,93

6,88







522,86




Phần trăm

77%

19%




4%

1%










100%


Diện tích giữ nguyên, không thay đổi Diện tích luân chuyển từ kiểu này sang kiểu khác

Biến động RNM (I)

Khu vực nghiên cứu có diện tích RNM khá lớn, chiếm khoảng 34% diện tích RNM toàn tỉnh Quảng Ninh. RNM có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái cho các vùng ĐNNVB và ổn định của đới bờ. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2000 - 2009, diện tích RNM tại đây có xu hướng giảm dần, từ năm 2000 – 2009 giảm 394,44 ha. Các vùng bị suy giảm RNM tập trung chủ yếu ở ven sông Ka Long và sông Tiên Yên. Đặc biệt là các xã Phú Hải, Quảng Điền, Quảng Minh (huyện Hải Hà), xã Đầm Hà (huyện Đầm Hà), Tiên Lãng, Đông Ngũ, Đông Hải (huyện Tiên Yên).





Hình 4.9. Vùng chuyển đổi từ RNM (2000) sang NTTS (2009)

Nguồn: Lê Thị Nga, 2011

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm diện tích RNM ở đây: tự nhiên (các tai biến: bão, bồi tụ, xói lở…) và các hoạt động nhân sinh. Trong đó, các hoạt động nhân sinh (NTTS, khai thác titan) đóng vai trò chủ yếu. Trong hơn một thập kỷ qua, do lợi nhuận đem lại từ NTTS đáng kể nên nghề này đã phát triển mạnh mẽ và chủ yếu theo mô hình tự phát. Việc chặt phá RNM đã diễn ra thường xuyên và thay vào đó là hệ thống các ao, đầm NTTS. Từ năm 2000 – 2009, có 272,9 ha RNM bị chuyển sang các ao, đầm NTTS tập trung tại các xã: Quảng Trung, Quảng Điền, Phú Hải (Huyện Hải Hà), xã Đầm Hà (Huyện Đầm Hà), xã Đông Hải, Đông Ngũ (Huyện Tiên Yên).

Việc mở rộng diện tích NTTS đã tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho người dân, song đã ảnh hưởng đáng kể đến RNM và môi trường khu vực nghiên cứu. Ngoài ra, quá trình khai thác titan ven biển cũng đã làm mất đi một phần diện tích RNM khá lớn ở xã Phú Hải (huyện Hải Hà). RNM còn bị phá hủy do quá trình san lấp mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp – cảng biển Hải Hà tại khu vực Hòn Miều, huyện Hải Hà, cảng Mũi Chùa, huyện Tiên Yên, cảng Đầm Buôn, cảng Đầm Hà huyện Đầm Hà.

Bên cạnh sự suy giảm diện tích RNM do các nguyên nhân trên, còn có sự chuyển đổi 128,42 ha RNM sang các bãi bùn gian triều (I2000 - G2009) tại xã Đông Ngũ, huyện Tiên Yên (Hình 3.10). Nguyên nhân chính của sự chuyển dịch này là do quá trình bồi tụ tại khu vực cửa sông ven biển, đất bồi làm một phần thân cây bị ngập trong đất, khiến chúng không thích nghi được và gây chết hàng loạt, sau một thời gian hình thành nên các bãi bùn gian triều.





Hình 4.10. Vùng chuyển đổi từ RNM (2000) sang bãi bùn gian triều (2009)

Nguồn: Lê Thị Nga, 2011

Tại khu vực nghiên cứu, mặc dù diện tích RNM bị suy giảm, song vẫn có một diện tích nhỏ RNM được phục hồi từ các ao, đầm NTTS bị thoái hóa (6,88 ha), chiếm 1% so với tổng thay đổi năm 2009. Quá trình phục hồi này chủ yếu do hoạt động trồng RNM tại xã như xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà. Song, con số phục hồi 6,88 ha là quá nhỏ so với sự suy giảm 394,44 ha từ năm 2000 – 2009. Tóm lại, tổng diện tích biến động của RNM từ năm 2000 – 2009 là 394,44 ha chuyển sang kiểu NTTS và bãi bùn gian triều. Như vậy, RNM có xu hướng giảm dần theo thời gian.


4.2.1. Chắn sóng, gió bão bảo vệ bờ biển


RNM tại vịnh Tiên Yên đóng vai trò như một “tấm đệm” chắn sóng có khả năng bảo vệ giảm bớt thiệt hại của bão gây ra cho đê biển, giúp duy trì được tính bền vững của đê, đồng thời bảo vệ tài sản, mùa màng cho cộng đồng nhân dân các xã ven biển.

Hệ thống đê biển của khu vực có với chiều dài khoảng hơn 70 km, trong đó có tổng diện tích RNM phòng hộ ngoài đê biển năm 2009 là 9005 ha, trải dài dọc theo tuyến đê biển.

Để ước lượng được giá trị phòng hộ đê biển của RNM Tiên Yên, nghiên cứu chuyển giao lợi ích giá trị phòng hộ đê biển của RNM tại cửa Sông Hồng có điều chỉnh theo hệ số co giãn về thu nhập giữa Nam Định và Quảng Ninh.

Vj = Vi(Yj/Yi)e

Trong đó:

Y: thu nhập theo đầu người

e: Độ co giãn của giá trị theo thu nhập.

Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người Quảng Ninh là 31,7 triệu đồng trong khi con số tương ứng của Nam Định là 19,2 triệu đồng (Tổng Cục thống kê 2010). Ở đây nghiên cứu để độ co giãn của giá trị theo thu nhập là 1.

Trong nghiên cứu của nhóm đề tài năm 2011, giá trị bảo vệ đê biển của RNM tại cửa Sông Hồng là 4,92 triệu đồng/ha/năm. Sử dụng hệ số điều chỉnh thu nhập trên thì giá trị tương ứng của 1ha RNM tại Tiên Yên là:

Vj = (31,7/19,2)* 4,92 = 8,12 triệu đồng/ha/năm

Theo thống kê, diện tích RNM tại khu vực nghiên cứu năm 2009 là 9.005 ha, và năm 2000 là 9.400 ha. Như vậy diện tích RNM bị suy giảm giai đoạn trên là khoảng 395 ha (trung bình một năm mất 44 ha) và qui đổi theo xu hướng mất rừng trung bình cho giai đoạn 2000-2009 thì lượng RNM bị mất giai đoạn 2005- 2009 là 220 ha. Dựa vào kết quả tính toán trên về các giá trị phòng hộ đê biển của RNM thì trong giai đoạn 2005-2009 giá trị phòng hộ đê biển của RNM bị suy giảm 32 tỷ đồng tại khu vực nghiên cứu.

4.2.2. Cung cấp, tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng


Các quan sát thực tế tại khu vực NTTS vùng cửa vịnh Tiên Yên cho thấy có một sự chênh lệch giữa năng suất thủy sản (cụ thể là nuôi tôm) tại các đầm nuôi có rừng và không có RNM. Sự chênh lệch về năng suất nuôi trồng này là do vai trò của RNM trong việc tạo ra điều kiện môi trường thuận lợi cho sinh vật tăng trưởng như điều hòa vi khí hậu, ổn định nền ao và cung cấp chuỗi dinh dưỡng trong ao. Giá trị hỗ trợ sinh thái, cung cấp tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng cho NTTS của RNM được đánh giá trong nghiên cứu bằng phương pháp hàm sản xuất hộ gia đình và giá trị trường.

Nghiên cứu này kế thừa và sử dụng phương pháp chuyển giao lợi ích để tính giá trị cung cấp tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng của RNM tại vịnh Tiên Yên, kế thừa chuyển giao các giá trị tương đương tại cửa Sông Hồng. Hàm Cobb-Douglas mở rộng được sử dụng để tính ra tác động của tỷ lệ RNM trong ao với năng suất nuôi tôm:



LnY = a*lnK + b*lnL + c*LAND + d*FOREST

Kết quả nghiên cứu cho thấy RNM có tác động có ý nghĩa tới năng suất nuôi tôm, từ đó tính được giá trị của 1 ha RNM trong việc hỗ trợ, cung cấp và tích lũy chất dinh dưỡng là 16,51 triệu đồng/năm.

Giá trị cung cấp tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng của RNM tại cửa sông vịnh Tiên Yên có điều chỉnh theo hệ số co giãn về thu nhập giữa Nam Định và Quảng Ninh.

Vj = Vi(Yj/Yi)e

Trong đó:

Y: thu nhập theo đầu người

e: Độ co giãn của giá trị theo thu nhập.

Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người Quảng Ninh là 31,7 triệu đồng trong khi con số tương ứng của Nam Định là 19,2 triệu đồng (Tổng Cục thống kê 2010). Ở đây nghiên cứu để độ co giãn của giá trị theo thu nhập là 1.

Lượng giá giá trị bảo vệ đê biển của RNM tại cửa Sông Hồng là 16,51 triệu đồng/ha/năm. Sử dụng hệ số điều chỉnh thu nhập trên thì giá trị tương ứng của 1ha RNM tại Tiên Yên là:

Vj = (31,7/19,2)* 16,51 = 27,3 triệu đồng/ha/năm

Theo thống kê, diện tích RNM tại khu vực nghiên cứu trung bình một năm mất 44 ha và qui đổi theo xu hướng mất rừng trung bình cho giai đoạn 2000-2009 thì lượng RNM bị mất giai đoạn 2005- 2009 là 220 ha. Dựa vào kết quả tính toán trên về các giá trị cung cấp, tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng của RNM thì trong giai đoạn 2005-2009 giá trị trên của RNM bị suy giảm 60,6 tỷ đồng tại khu vực nghiên cứu.

4.2.3. Hấp thụ cacbon của RNM


Giá trị hấp thụ cacbon của RNM đã trở thành chủ đề được nghiên cứu rộng rãi trong những năm gần đây cùng với những vấn đề môi trường toàn cầu như biến đổi khí hậu, hiệu ứng nhà kính. Hệ sinh thái RNM có khả năng hấp thụ khí CO2 thông qua quá trình quang hợp và lưu trữ cacbon. Có rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để xác định giá trị hấp thụ cacbon của RNM, một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay là đánh giá tỷ lệ hấp thụ cacbon thông qua chỉ số diện tích bề mặt của lá (Leaf Area Index - LAI). Thông thường, LAI được ước lượng bằng ba cách là phương pháp là đo trực tiếp, đo gián tiếp và thông qua công nghệ viễn thám xử lý ảnh vệ tinh. Phương pháp đánh giá trực tiếp có kết quả và độ tin cậy cao nhưng tốn kém chi phí. Phương pháp sử dụng ảnh vệ tinh có thể cho kết quả nhanh chóng nhưng độ chính xác không cao bằng phương pháp đo trực tiếp. Vì vậy, cách tiếp cận phổ biến hiện nay là kết hợp giữa sử dụng công nghệ ảnh vệ tinh và phương pháp đo lường gián tiếp. Sử dụng cách tiếp cận kết hợp này sẽ cho kết quả khá chính xác và tiết kiệm được chi phí đo lường

Nghiên cứu này kế thừa và chuyển giao lợi ích từ kết quả ước lượng giá trị hấp thụ cacbon RNM tại cửa Sông Hồng. Kết quả về hàm lượng chì Pb-210 tìm thấy trong các tinh thể cacbon trong mùn đất cho thấy tỷ lệ dòng hấp thụ cacbon (cacbon flow) của RNM tại cửa Sông Hồng đạt mức 2,5 tấn/ha/năm. Để chuyển hóa thành tiền giá trị hấp thụ cacbon của RNM, nghiên cứu sử dụng giá quốc tế của việc cắt giảm một đơn vị cacbon. Các mức giá dao động từ 150 USD/1tấn cacbon (theo định mức giá tại Nauy) cho đến 15 USD/1tấn cacbon tính tại Argentina. Mức giá được tính trong nghiên cứu này là 15,67 USD/1tấn cacbon (tham khảo số liệu của Thái Lan có điều chỉnh theo hệ số sức mua tương đương của Việt Nam). Từ đó giá trị gián tiếp hấp thụ cacbon của 1 ha RNM tại cửa Sông Hồng là 39 USD/năm tương đương 800 ngàn đồng/năm (tính theo tỷ giá chuyển đổi 1USD =20.500 VND).

Giá trị cung cấp tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng của RNM tại cửa sông vịnh Tiên Yên có điều chỉnh theo hệ số co giãn về thu nhập giữa Nam Định và Quảng Ninh.

Vj = Vi(Yj/Yi)e

Trong đó:

Y: thu nhập theo đầu người

e: Độ co giãn của giá trị theo thu nhập.

Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người Quảng Ninh là 31,7 triệu đồng trong khi con số tương ứng của Nam Định là 19,2 triệu đồng (Tổng Cục thống kê 2010). Ở đây nghiên cứu để độ co giãn của giá trị theo thu nhập là 1.

Trong nghiên cứu của nhóm đề tài năm 2011, giá trị bảo vệ đê biển của RNM tại Ba Lạt là 0,8 triệu đồng/ha/năm. Sử dụng hệ số điều chỉnh thu nhập trên thì giá trị tương ứng của 1ha RNM tại Tiên Yên là:

Vj = (31,7/19,2)* 0,8 = 1,3 triệu đồng/ha/năm

Theo thống kê, diện tích RNM tại khu vực nghiên cứu trung bình một năm mất 44 ha và qui đổi theo xu hướng mất rừng trung bình cho giai đoạn 2000-2009 thì lượng RNM bị mất giai đoạn 2005- 2009 là 220 ha. Dựa vào kết quả tính toán trên về giá trị hấp thụ carbon của RNM thì trong giai đoạn 2005 - 2009 giá trị hấp thụ carbon của RNM bị suy giảm 2,86 tỷ đồng tại khu vực nghiên cứu.

4.2.4. Bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp nơi cư trú và nghiên cứu giáo dục


Các giá trị trên thuộc nhóm giá trị phi sử dụng tức là sự tồn tại của chúng nằm trong sự nhận thức và thỏa mãn của các các nhân, tổ chức trong xã hội nên họ có thể sẵn sang chi trả một phần thu nhập của mình để duy trì và bảo tồn các giá trị đó.

Nghiên cứu này kế thừa và chuyển giao lợi ích từ nghiên cứu về giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ của sinh vật và giá trị giáo dục nghiên cứu của ĐNN tại vùng cửa Sông Hồng. Trong nghiên cứu tại cửa Sông Hồng, các giá trị trên được ước tính thông qua mô hình đánh giá ngẫu nhiên và ước lượng mức sẵn sàng chi trả của các hộ gia đình (WTP) để bảo tồn các nhóm giá trị nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận trò chơi đấu giá (bidding game) để thu thập dữ liệu về WTP. Trong đó có 4 mức chi trả của hộ gia đình được thiết kế trong bảng hỏi gồm là 0, 50, 100 và 150 ngàn đồng/1 năm để duy trì các giá trị trên.



Bảng 4.17. Mô tả các biến trong mô hình phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới WTP tại nghiên cứu giá trị phi sử dụng cửa Sông Hồng

Tên biến

Giải thích

Mã hoá

WTP

Mức sẵn sàng chi trả để bảo tồ, duy trì các giá trị phi sử dụng được định sẵn trong bảng hỏi và hỏi người dân có sẵn sàng chi trả mức đó không (nghìn đồng/năm)

Nhận các giá trị 0, 50, 100, 150

SEX

Giới tính của người trả lời

Nam = 1

Nữ = 0


EDU

Trình độ giáo dục (số năm đi học) của người được phỏng vấn

Biến liên tục

MEMBER

Số nhân khẩu trong hộ gia đình (người)

Biến liên tục

INCOME

Thu nhập hộ gia đình (triệu đồng/năm)

Biến liên tục

Nguồn: Nhóm nghiên cứu (2011)

Mức sẵn sàng chi trả của một quan sát bất kỳ có dạng:



WTPi = a1+ b1*BIDi + b2*SEXi + b3*AGEi + b4*EDUi + b5*MEMBERi + b6*INCOMEi+ єi

Trong đó a1 là hệ số chặn, b1 là hệ số hồi qui của các biến độc lập, єi là tác động của các biến khác không có trong mô hình lên mức sẵn sàng chi trả.



Giải thích các mô hình ước lượng WTP

Mô hình

Giải thích

Mô hình 1

Mức sẵn sàng chi trả để bảo tồn đa dạng sinh học

Mô hình 2

Mức sẵn sàng chi trả để bảo tồn, duy trì giá trị cung cấp nơicư trú, nơi kiếm ăn và bãi đẻ cho sinh vật

Mô hình 3

Mức sẵn sàng chi trả để duy trì giá trị nghiên cứu và giáo dục

Bảng 4.18. Kết quả ước lượng mô hình 1, 2, 3 tại vùng cửa Sông Hồng

Biến số

Đa dạng sinh học

Cung cấp nơi cư trú, nơi kiếm ăn và bãi đẻ

Giá trị nghiên cứu và giáo dục

SEX

14,367*

13,41*

8,76

EDU

4,54**

0,51

4,33**

MEMBER

-1,479

5,32*

1,66

INCOME

1,408*

0,772*

0,51*

Hệ số chặn

6,290*

17,69*

6,55

Hệ số R điều chỉnh của mô hình

0,68

0,48

0,36

F test về tính phù hợp của mô hình

6,662**

2,946*

3,79**

Chú thích: ***: có ý nghĩa ở mức sai số 1%. **: có ý nghĩa ở mức sai số 5%.

Bảng 4.19. Chuyển giao hàm lợi ích và giá trị môi trường từ cửa Sông Hồng sang vịnh Tiên Yên




Đa dạng sinh học

Giá trị tại vịnh Tiên Yên

Cung cấp nơi cư trú, nơi kiếm ăn và bãi đẻ

Giá trị tại vịnh Tiên Yên

Nghiên cứu và giáo dục

Giá trị tại vịnh Tiên Yên

SEX

14,367*

0,5

13,41*

0,5

8,76

0,5

EDU

4,54**

9

0,51

9

4,33**

9

MEMBER

-1,479

4

5,32*

4

1,66

4

INCOME

1,408*

20

0,772*

20

0,51*

20

Hệ số chặn

6,290*

1

17,69*

1

6,55

1

Mức WTP ước lượng cho Tiên Yên




68,87




47,15




38,4

Nguồn: Xử lý mẫu điều tra (2011)

Kết quả ước tính cho thấy mức chi trả trung bình để bảo tồn giá trị ĐDSH của ĐNN tại vịnh Tiên Yên của một người trong khu vực nghiên cứu là khoảng 68,87 ngàn đồng/năm. Mức chi trả tương ứng của 1 người để bảo tồn giá trị nơi cư trú, bãi đẻ, nơi kiếm ăn của ĐNN là 47,15 ngàn đồng/năm. Mức chi trả để duy trì giá trị khoa học và giáo dục của ĐNN là 38,4 ngàn đồng/người/năm. Kết quả tính toán trên khá phù hợp với kỳ vọng nghiên cứu vì trong các nhóm giá trị trên, thông thường giá trị ĐDSH mang tính hữu hình cao nhất, được người dân nhận thức tốt hơn nên chỉ trả để bảo tồn cao hơn giá trị nơi cư trú và giá trị nghiên cứu khoa học và giáo dục của ĐNN.

Nếu suy rộng kết quả từ mẫu cho tổng thể dân cư trên địa bàn khu vực nghiên cứu thì mức chi trả (giá trị) để bảo tồn giá trị đa dạng sinh học là 90,2 tỷ đồng/1 năm; giá trị cung cấp nơi cư trú, nơi kiếm ăn và bãi đẻ cho sinh vật là 61,7 tỷ đồng/năm; giá trị nghiên cứu và giáo dục là 50,3 tỷ đồng/năm.

Bảng 4.20. Kết quả ước lượng WTP theo mô hình chuyển giao lợi ích


Mô hình

Trung bình của WTP (nghìn đồng/năm)

Tổng mức chi trả của cả cộng đồng (tỷ đồng)

Giá trị bảo tồn ĐDSH

68,87

90,2

Giá trị cung cấp nơi cư trú, nơi kiếm ăn và bãi đẻ cho sinh vật

47,15

61,7

Giá trị nghiên cứu khoa học và giáo dục

38,4

50,3

Nguồn: Xử lý mẫu điều tra (2011)

Dựa vào các giá trị nền của năm 2010 đã ước lượng ở phần trước, nghiên cứu sẽ ước tính sự suy giảm giá trị của đa dạng sinh học và giá trị cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ và nơi kiếm ăn của ĐNN tại khu vực vịnh Tiên Yên. Giả định rằng với dưới tác động của các nhân tố đe dọa và trong điều kiện không có các biện pháp quản lý bảo tồn ĐNN có hiệu quả, RNM sẽ suy giảm tại khu vực kéo theo sự thay đổi về giá trị bảo tồn đa dạng sinh học và giá trị cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi kiếm ăn cho sinh vật với tỷ lệ tương ứng.



Bảng 4.21. Lượng giá tổn thất TN-MT vịnh Tiên Yên giai đoạn 2006 - 2010 (tỷ đồng)




Bảo tồn ĐDSH

Cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi kiếm ăn cho sinh vật

Nghiên cứu khoa học và giáo dục

Giá trị tại 2009

90,2

61,7

50,3

Giá trị tại 2005

92,4

63,2

51,5

Suy giảm giai đoạn 2005 - 2009

2,2

1,5

1,2

Tổng mức suy giảm giá trị bảo tồn ĐDSH, cung cấp nơi cư trú và nghiên cứu giáo dục 2005 - 2009

4,9 tỷ đồng

Theo thống kê, diện tích RNM tại khu vực nghiên cứu năm 2009 là 9.005 ha, và năm 2000 là 9.400 ha. Như vậy diện tích RNM bị suy giảm giai đoạn trên là 395 ha (trung bình một năm mất 44 ha) và qui đổi theo xu hướng mất rừng trung bình cho giai đoạn 2000-2009 thì lượng RNM bị mất giai đoạn 2005- 2009 là 220 ha. Kết quả tính toán cho thấy các giá trị bảo tồn ĐDSH; cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi kiếm ăn cho sinh vật; nghiên cứu khoa học TN-MT giai đoạn 2005 - 2009 bị tổn thất 4,9 tỷ đồng.

Bảng 4.22 cho thấy tổng giá trị sử dụng trực tiếp giai đoạn 2005 - 2009 tăng lên 278,6 tỷ đồng, giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng giảm đi 100,36 tỷ đồng. Như vậy biến động giá trị TN-MT vịnh Tiên Yên giai đoạn 2005 - 2009 tăng lên 178,24 tỷ đồng.



Kết quả này có sự chênh lệch về giá trị so với DATP4, nguyên nhân là do hai nghiên cứu tiến hành tại hai địa điểm hoàn toàn khác nhau, nghiên cứu của DATP4 tiến hành tại Vịnh Hạ Long, còn nghiên cứu của DATP5 thực hiện tại Vịnh Tiên Yên.

Bảng 4.22. Tổng hợp về sự biến động giá trị kinh tế của TN-MT vịnh Tiên Yên giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

STT

Giá trị

Giá trị năm 2005

Giá trị năm 2009

Biến động giai đoạn 2005 -2009

GIÁ TRỊ SỬ DỤNG TRỰC TIẾP

1

Nông nghiệp

113,953

194,123

+80,169

2

Lâm nghiệp

12,081

20,035

+7,954

3

Thủy sản

81,124

104,559

+ 23,435

4

Năng lượng

16,225

20,912

+4,687

5

Giá trị vận tải thủy

0,388

0,760

+0,372

6

Khai thác khoáng sản

11,720

17,235

+5,515

7

Công nghiệp

37,031

84,878

+47,847

8

Phát triển đô thị

225,181

116,234

+ 108,947

Tổng biến động giá trị sử dụng trực tiếp giai đoạn 2005 - 2009

+278,6

GIÁ TRỊ SỬ DỤNG GIÁN TIẾP VÀ PHI SỬ DỤNG

11

Cung cấp, tích lũy chất dinh dưỡng







- 60,6

12

Chắn sóng, gió bão bảo vệ bờ biển







- 32

13

Hấp thụ CO2







- 2,86

14

Đa dạng sinh học

92,4

90,2

- 2,2

15

Nơi cư trú, nơi kiếm ăn, bãi đẻ sinh vật

63,2

61,7

-1,5

16

Khoa học và giáo dục

51,5

50,3

-1,2

Tổng biến động giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng giai đoạn 2005 - 2009

-100,36

TỔNG BIẾN ĐỘNG GIÁ TRỊ TN-MT GIAI ĐOẠN 2005 - 2009

+178,24

TỔN THẤT GIÁ TRỊ TN-MT TRUNG BÌNH NĂM

+35,65

Ghi chú: + : Biến động tăng - : Biến động giảm

KẾT LUẬN

Tài nguyên - môi trường là một tài sản vì nó cung cấp cho con người và hệ thống kinh tế các nhóm giá trị khác nhau phục vụ cho quá trình phát triển của con người. Tuy nhiên, do tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên ĐNN ở Việt Nam nói chung và tại vùng vịnh Tiên Yên nói riêng có xu hướng suy giảm, ảnh hưởng tới chính quá trình phát triển kinh tế và phát triển bền vững.

Lượng giá thiệt hại tài nguyên và môi trường có rất nhiều ứng dụng quản lý. Thứ nhất, kết quả lượng giá thiệt hại góp phần tính toán và lựa chọn các phương án sử dụng tài nguyên tối ưu nhất cho cộng đồng và xã hội, phục vụ xây dựng các qui hoạch, kế hoạch, chương trình khai thác sử dụng tài nguyên hiệu quả. Thứ hai, kết quả lượng giá cung cấp các thông tin đầu vào quan trọng để các nhà quản lý có những chính sách và giải pháp quản lý tài nguyên bền vững. Thứ ba, lượng giá thiệt hại là cơ sở để giải quyết các tranh chấp giữa các nhóm lợi ích cho xã hội, từ đó tìm ra giải pháp dung hòa lợi ích nhóm. Thứ tư, lượng giá thiệt hại cung cấp bằng chứng để lý giải về tính lợi ích cho các chương trình bảo tồn. Ngoài ra, lượng giá thiệt hại là tiền đề cơ bản để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường hoặc các tài khoản môi trường để kiểm kê, giám sát sự biến động của kho tài nguyên trong vùng hoặc quốc gia.

Nghiên cứu lượng giá TN-MT tại vịnh Tiên Yên được tiến hành theo hai cách tiếp cận là (i) so sánh giá trị kinh tế của TN-MT tại hai thời điểm để tìm hiểu sự biến động và chênh lệch và (ii) nghiên cứu giá trị kinh tế của TN-MT tại một thời điểm rồi tính toán biến động cho thời điểm khác dựa vào kết quả phân tích sự biến động vật lý của tài nguyên theo chuỗi thời gian. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp lượng giá thiệt hại phổ biến trên thế giới hiện nay, đồng thời thiết kế qui trình nghiên cứu chuẩn mực để đảm bảo độ tin cậy của kết quả. Các phương pháp đánh giá chia thành 3 nhóm là (i) thị trường thực, (ii) thị trường giả định và (iii) thị trường thay thế. Số liệu nghiên cứu thu thập từ nguồn sơ cấp thông qua điều tra kinh tế - xã hội và nguồn dữ liệu thứ cấp từ các phòng, ban, bộ ngành, đơn vị quản lý chức năng và cộng đồng tại vùng vịnh Tiên Yên.



Kết quả nghiên cứu cho thấy gần như tất cả các giá trị sử dụng trực tiếp của ĐNN tại vịnh Tiên Yên có xu hướng tăng trong giai đoạn 2005 - 2009, đặc biệt tăng với tốc độ cao là các nhóm giá trị như NTTS, công nghiệp, nông nghiệp và thương mại dịch vụ (tổng mức tăng của các giá trị sử dụng trực tiếp là 278,9 tỷ đồng). Ở chiều ngược lại, các giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng gồm các giá trị dịch vụ sinh thái của TN-MT và các giá trị lưu truyền cho tương lai có xu hướng giảm (khoảng 100 tỷ đồng). Điều này thể hiện mối quan hệ ngược chiều giữa phát triển và bảo tồn. Trong các nhân tố gây suy giảm giá trị TN-MT thì ngoài các yếu tố tự nhiên như thiên tai, biến đổi khí hậu, các yếu tố kinh tế xã hội như NTTS, khai thác lâm sản, du lịch cũng có tác động đáng kể tới sự suy giảm các giá trị sinh thái của TN-MT tại khu vực nghiên cứu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


Tiếng Việt

  1. Báo cáo kinh tế xã hội năm 2010 và mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2011 huyện Hải Hà.

  2. Báo cáo kinh tế xã hội năm 2010 và mục tiêu, giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2011 huyện Đầm Hà.

  3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004. Thông tư số 18/2004/TT-BTN& MT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước tại Việt Nam.

  4. Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2004. Quyết định số 04/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN giai đoạn 2004-2010.

  5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004), Thông tư số 18/2004/TT-BTN& MT của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước tại Việt Nam.

  6. Nguyễn Thế Chinh, 2003. Kinh tế và quản lý môi trường, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.

  7. Nguyễn Hữu Cử, Trần Đức Thạnh, 2005. Ảnh hưởng của xói lở bờ biển và sa bồi luồng lạch tới nuôi thuỷ sản. Kỷ yếu Hội thảo toàn quốc Bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ sản - Bộ Thuỷ sản. - no. 0. -tr. 77-82.

  8. Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2007. Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2007

  9. Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2007. Niên giám thống kê huyện Hải Hà, 2007

  10. Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009. Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2009.

  11. Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009. Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009.

  12. Đinh Đức Trường, 2008). “Sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường nhằm hướng tới sự phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Kinh tế phát triển, Số Đặc san tháng 3, tr. 4-7.

  13. Đinh Đức Trường, 2008. Đánh giá thiệt hại kinh tế đối với hệ sinh thái san hô do sự cố dầu tràn – Nghiên cứu điểm tại Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam, Báo cáo Dự án “Điều tra, khảo sát, đánh giá thiệt hại về kinh tế, môi trường và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm dầu”, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội.

  14. Lê Thị Nga, 2011. Đánh giá biến động đất ngập nước vịnh Tiên Yên-Tỉnh Quảng Ninh phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên môi trường, Luận án Thạc sĩ, Đại học quốc gia Hà Nội.

  15. Mai Trọng Nhuận và nnk, 2008. Báo cáo lập bản đồ hiện trạng địa chất tai biến và dự báo tai biến vịnh Tiên Yên - Hà Cối tỉ lệ 1/50.000.

  16. Mai Trọng Nhuận và nnk, 2008. Báo cáo thành lập bản đồ hiện trạng và dự báo biến động tài nguyên vịnh Tiên Yên - Hà Cối.

Tiếng Anh

  1. Aguukai, T, 1998. Carbon fixation and storage in mangroves. Mangrove and Salt Mash 2, 189 - 247.

  2. Barbier, E.B, 1994. Valuing environmental functions: tropical wetlands. Land Economics 70 (2), 155 - 173.

  3. Barbier, E.B., M. Acreman, D. Knowler, 1997. Economic valuation of wetlands: a guide for policy makers and planners. IUCN Publications, Cambridge, UK.

  4. Bateman, I.J., K.G. Willis, 1999. Valuing Environmental Preferences, Oxford University Press, UK.

  5. Carson, R.T., R.C. Mitchell, 1993. Contingent Valuation and the Legal Arena. In R.J. Kopp and V.K. Smith (eds.), Valuing Natural Assets: The Economics of Natural Resource Damage Assessment., Washington D.C.: Resources for the Future, 231 - 242.

  6. Dixon, J.A., P.B. Sherman, 1993. Economic Analysis of Environmental Impacts. Earthscan Publications Ltd, London, UK.

  7. Desvousges, W.H., H.S. Spencer, 1998. Environmental Analysis with Limited Information. Edward Elgar Publishing, UK.

  8. Environmental Economics Program of Southeast Asia, 1998. “The economic valuation of mangroves: a manual for reseachers”, Environmental Economics Program of Southeast Asia EEPSEA,

  9. Haab, T,C., K.E. McConnell, 2002. Valuing environmental and natural resource-the econometrics of non-market valuatio. Edward Elgar, USA.

  10. Turner, R.K., R. Brouwer, T.C. Crowards, S. Georgiou, 1995. The economics of wetland management. In R.K. Turner, J.C.J.M. van den Bergh and R. Brouwer (eds), Managing Wetlands: an ecological economics approach, Edward Elgar, Chltenhan, U.K, 73 - 107.

  11. UNEP (2008), Valuing wetlands in decision-making: where are we now?. Wetland Valuation Issues Paper 1, May 2008.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương