ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang13/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

3.9. Khai thác khoáng sản


Trên cơ sở tổng hợp các kết quả nghiên cứu những dấu hiệu về khoáng sản cho thấy triển vọng khoáng sản cho thấy tiềm năng phát triển của các hoạt động khai thác khoáng sản tại vùng vịnh Tiên Yên khá lớn. Hiện nay, tình trạng khai thác khoáng sản trong khu vực chỉ mang tính chất nhỏ lẻ với những công nghệ thô sơ gây thất thoát tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường khu vực xung quanh.

Hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản luôn gắn liền với các tác nhân gây tác động xấu tới môi sinh, môi trường như: ô nhiễm không khí, nguồn nước, tàn phá rừng, làm mất hoặc phá vỡ cảnh quan thiên nhiên, cảnh quan du lịch, thậm chí cả các di tích lịch sử, văn hóa; cũng như các tác động nghiêm trọng tới môi trường do chất thải độc hại… Tuy nhiên, do các hoạt động khai thác khoáng sản tại vùng nghiên cứu còn đang trong giai đoạn tiền phát triển hoặc phát triển nhỏ nên hầu như không có ảnh hưởng gì đến tài nguyên môi trường ngoài việc gia tăng mức độ xói lở bờ sông. Việc khai thác cát lòng sông tạo thành những hố trũng cục bộ ở lòng sông, sát bờ sông, từ đó gây mất ổn định bờ sông. Mặt khác, do lấy đi một lượng cát lớn từ lòng sông đã gây nên sự mất cân bằng cục bộ của bùn cát trong đoạn sông, là nguyên nhân gia tăng mức độ xói lở bờ sông.

Bên cạnh đó, hoạt động khai thác cát làm xáo trộn lớp bùn cát dưới đáy hồ nên độ đục của nước tăng cao, đặc biệt ở khu vực gần tàu khai thác. Ảnh hưởng này rõ nét hơn vào mùa khô. Ngoài ra, dầu nhớt rò rỉ từ các tàu khai khác ngăn cản sự xâm nhập của oxy trong nước, ảnh hưởng đến quá trình quang hợp của rong tảo. Một phần dầu lắng xuống đáy gây độc hại và làm biến đổi môi trường sống của sinh vật đáy.



Thực trạng và tác động đối với TN-MT có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là những yếu kém, bất cập trong quản lý khai thác tài nguyên. Ngoài ra, do các mỏ nhỏ thường nằm ở vùng xa và công tác quản lý còn nhiều bất cập nên ở hầu hết các nơi khai thác khoáng sản sau khi kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ) thì việc hoàn thổ, phục hồi môi trường, cảnh quan hoặc cải tạo những vùng đất bị ảnh hưởng từ việc khai thác mỏ thường không được thực hiện và để lại những hệ quả xấu cho môi trường.

CHƯƠNG 4
LƯỢNG GIÁ TỔN THẤT TÀI NGHUYÊN - MÔI TRƯỜNG DO TÁC ĐỘNG CỦA HOẠT ĐỘNG TỰ NHIÊN VÀ NHÂN SINH


Tài nguyên - môi trường vịnh Tiên Yên cung cấp rất nhiều loại giá trị kinh tế cho người dân và cộng đồng xã hội. Các loại giá trị kinh tế quan trọng của TN-MT tại khu vực được nhận diện và phân loại trong bảng 4.1. Do điều kiện nguồn số liệu hạn chế, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu những giá trị quan trọng cốt yếu tại khu vực nghiên cứu. Một số các loại giá trị kinh tế khác mặc dù có hiện diện tại hiện trường những nếu được đánh giá là không quan trọng sẽ được nghiên cứu sơ bộ.

Bảng 4.1. Lượng giá tổn thất TN-MT vịnh Tiên Yên

Giá trị sử dụng

trực tiếp

Giá trị sử dụng

gián tiếp và phi sử dụng

  • Thủy hải sản

  • Lâm sản

  • Năng lượng

  • Giao thông thủy

  • Khai thác khoáng sản

  • Nông nghiệp

  • Phát triển đô thị

  • Công nghiệp

  • Cung cấp, tích lũy và tái tạo chất dinh dưỡng

  • Giá trị bảo vệ đê biển của RNM

  • Giá trị hấp thụ CO2 của RNM

  • Bảo tồn đa dạng sinh học

  • Cung cấp nơi cư trú, bãi đẻ, nơi sinh sản

Nghiên cứu và giáo dục

4.1. Lượng giá sự tổn thất các giá trị sử dụng trực tiếp

4.1.1. Thủy sản


Từ lợi thế sẵn có, Đầm Hà, Hải Hà và Tiên Yên đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp nhằm phát triển và đưa thuỷ sản thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của khu vực với tốc độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất tăng bình quân 15,5%/ năm trong giai đoạn 2005 - 2009.

Bảng 4.2. Giá trị sản xuất thủy sản tại huyện Hải Hà giai đoạn 2000 - 2007 (triệu đồng)

Năm

Nuôi trồng

Khai thác

Dịch vụ

Tổng số

2001

12,246

24,605

1,722

38,573

2002

17,452

22,695

1,589

41,736

2003

20,934

41,062

2,261

64,257

2004

27,821

44,771

3,134

75,726

2005

33,936

43,788

3,064

80,788

2006

35,325

56,406

3,964

95,695

2007

35,555

57,835

4,139

97,529

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà (2007)

Từ năm 2005 - 2009, diện tích NTTS tăng từ 1655 ha lên 2.318 ha, trong đó có 1.200 ha nuôi tôm. Các huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng quy hoạch ngành thuỷ sản và thực hiện dự án chuyển 524 ha cấy lúa kém hiệu quả sang NTTS. Đây là hướng chuyển dịch phù hợp và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Sau khi chuyển đổi, giá trị sản xuất bình quân đạt 96 triệu đồng/ ha/ năm, tăng 6,6 lần.



Tổng sản lượng thuỷ sản của khu vực nghiên cứu trong giai đoạn trên đã tăng từ 18.025 tấn lên 25.076 tấn (tăng 40%). Sự gia tăng sản lượng thuỷ sản những năm qua là kết quả của việc các huyện đã chỉ đạo đầu tư củng cố, tăng cường phương tiện đánh bắt hải sản cả về số lượng và công suất. Năm 2010, toàn khu vực có 1.011 phương tiện đánh bắt hải sản có gắn máy với tổng công suất đạt 27.765 CV. Sản phẩm chủ yếu trong khai thác hải sản là cá với sản lượng 7.798 tấn, chiếm khoảng 77% tổng sản lượng khai thác toàn huyện, tôm khai thác được 1.513 tấn; mực 352 tấn và một số hải sản khác (Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009).

Bảng 4.3. Biến động giá trị sản xuất thủy sản khu vực nghiên cứu (KVNC) giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

69,637

6,964

80,788

24,236

199,697

49,924

81,124

2006

74,970

7,497

95,695

28,709

236,545

59,136

95,342

2007

100,942

10,094

97,529

29,259

241,079

60,270

99,623

2008

108,696

10,870

99,398

29,819

245,699

61,425

102,114

2009

115,662

11,566

101,303

30,391

250,408

62,602

104,559

Trong tổng sản lượng thuỷ hải sản toàn khu vực, sản lượng NTTS chiếm tỷ trọng lớn hơn sản lượng khai thác hải sản, chiếm khoảng 59,7% tổng sản khai thác (năm 2009). Năm 2009, sản lượng NTTS đạt 14.976 tấn, tăng 4.701 tấn so với năm 2006.



Hình 4.1. Biến động giá trị thủy sản khu vực nghiên cứu theo giá so sánh giai đoạn 2006-2010 (tỷ đồng)

Trong 4 năm qua, giá trị sản xuất ngành thuỷ sản của khu vực nghiên cứu không ngừng tăng mạnh từ 81 tỷ đồng năm 2005 lên đến khoảng 105 tỷ đồng năm 2009 lên (tăng 20 %), là ngành tăng mạnh nhất trong 3 ngành thuộc cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp. Do đó, tỷ trọng ngành thuỷ sản tăng nhanh, năm 2009 chiếm 40% giá trị toàn ngành nông - lâm - ngư nghiệp của khu vực.



Trong giai đoạn 2005 - 2009 giá trị nuôi trồng và khai thác thủy sản tại khu vực nghiên cứu tăng xấp xỉ 1,29 lần. Cụ thể là giá trị tăng từ 81 tỷ đồng năm 2005 lên 104,5 tỷ năm 2009. Trong đó phần giá trị tăng mạnh nhất thuộc giai đoạn 2005-2007, với mức tăng trung bình hàng năm khoảng 17%.

4.1.2. Nông nghiệp


Sản xuất nông nghiệp luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của khu vực nghiên cứu (mục 1.3.2). Từ năm 2006 - 2009, cơ cấu ngành nông nghiệp khu vực đã biến chuyển. Trồng trọt là ngành chiếm ưu thế nhưng có xu hướng giảm từ 71,7% xuống còn 64,4% (giảm 7%). Sau 4 năm, tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng đều từ 28,3% - 33,6% (tăng 5,3%). Mặc dù vậy, tỷ trọng ngành chăn nuôi vẫn còn thấp trong cơ cấu ngành nông nghiệp và chưa tương xứng với tiềm năng phát triển ngành này tại khu vực nghiên cứu. Phân tích trên cho thấy, thời gian qua, khu vực đã bước đầu thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp (theo nghĩa hẹp) theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi.

Bảng 4.4. Giá trị sản xuất nông nghiệp khu vực nghiên cứu (KVNC) giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

Năm

Đầm Hà

Hải Hà

Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

106,094

10,609

124,060

37,218

264,503

66,125

113,953

2006

126,406

12,640

131,281

39,384

279,899

69,974

121,999

2009

205,229

20,522

208,399

62,519

444,320

111,080

194,122

Nguồn: Nhóm nghiên cứu xử lý từ dữ liệu thống kê (2011)



Hình 4.2. Biến động giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

Như vậy trong giai đoạn 2006-2009 giá trị sản xuất nông nghiệp của KVNC đã tăng từ khoảng 113 tỷ đồng lên 194 tỷ đồng với tốc độ tăn xấp xỉ 15%/năm.


4.1.3. Lâm nghiệp


Trong những năm qua, các huyện thuộc khu vực nghiên cứu đã thực hiện nhiều biện pháp hiệu quả trong việc phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng, chỉ đạo tập trung chăm sóc diện tích rừng trồng. Tiến hành rà soát đất rừng, giao đất rừng cho các tổ chức và nhân dân trồng rừng. Tại Hải Hà, kết quả đã trồng được 1.506,6 ha (bằng 376% kế hoạch). Công tác quản lý bảo vệ rừng mặc dù đã được chỉ đạo thường xuyên nhưng do ảnh hưởng của thời tiết, cuối năm 2006 có xảy ra cháy rừng ở một số xã như Quảng Thành, Quảng Sơn, Quảng Đức. Bên cạnh đó, vẫn có hiện tượng khai thác rừng trái phép. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 11.527 triệu đồng.

Bảng 4.5. Các sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu huyện Hải Hà giai đoạn 2001-2007

 

ĐVT

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Trồng rừng tập trung

ha

290,0

370,0

269,6

358,3

511,4

1506,6

1524,0

Trồng cây phân tán

1000 cây

29,6

36,7

58,0

27,8

62,7

29,8

26,4

Chăm sóc rừng

ha

3100,0

3500,0

5300,0

3500,0

5711,0

5800,0

5800,0

Quế

Tấn

5,0

7,0

29,9

15,0

30,9

31,0

40,8

Gỗ tròn khai thác

m3

601,0

700,0

1070,5

500,0

1077,4

850,0

2078,0

Củi các loại

1000 ster

13,3

14,4

17,4

10,4

15,5

15,4

18,3

Tre, nứa, luồng khai thác

1000 cây

400,0

500,0

265,0

135,5

562,9

200,0

113,0

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hải Hà, 2007

Tại huyện Đầm Hà, diện tích trồng rừng tập trung năm 2005 đạt 201 ha; các sản phẩm lâm nghiệp của huyện chủ yếu là khai thác nhựa thông, gỗ tròn, củi, tre, nứa, luồng. Giá trị sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện năm 2005 tính theo giá hiện hành đạt 7.232,5 triệu đồng, theo giá cố định năm 1994 đạt 6.400,4 triệu đồng.



Bảng 4.6. Giá trị lâm nghiệp của khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005-2009 (tỷ VNĐ)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

7,233

0,723

10,022

3,007

33,404

8,351

12,081

2006

13,176

1,318

12,598

3,779

41,990

10,498

15,595

2007

18,425

1,842

13,518

4,055

45,057

11,264

17,162

2008

24,892

2,489

14,505

4,352

48,347

12,087

18,928

2009

23,962

2,396

15,564

4,669

51,878

12,969

20,035

Nguồn: Nhóm nghiên cứu xử lý từ dữ liệu thống kê (2011)

Tiên Yên có nhiều diện tích đất đồi núi chưa sử dụng đòi hỏi phải có nhiều nguồn nhân lực, lao động, lấy khâu bảo vệ rừng là quan trọng. Trong giai đoạn 1995-2000 toàn huyện đã trồng được 3.697 ha rừng các loại. Trong đó có 2.189 ha cây lấy gỗ, 949 ha cây quế và 153 ha cây ăn quả, 406 ha RNM. Đã hình thành 140 trang trại vườn rừng cây ăn quả với quy mô từ một vài ha trở lên. Sản phẩm 5 năm qua (1996 - 2000) đã thu được 1.950 tấn quả vải nhãn với giá trị 16.700 triệu đồng. Một số gia đình đã chuyển sang sản xuất và kinh doanh nghề rừng, diện tích đất rừng được che phủ từ 23% năm 1996 lên 36% năm 2000. Công tác phòng chống cháy và bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ.



Như vậy, giá trị sản xuất lâm nghiệp của khu vực nghiên cứu đã tăng từ 12 tỷ đồng năm 2005 lên hơn 20 tỷ đồng năm 2009 với tốc độ tăng bình quân khoảng 16%/năm trong giai đoạn trên.



Hình 4.3. Biến động GTSX lâm nghiệp khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

4.1.4. Cung cấp năng lượng


Vùng RNM bãi triều các huyện ven biển là một nguồn cung cấp năng lượng cho địa phương. Thân cây ngập mặn và cành cây khô là nguồn chất đốt cho người dân nghèo địa phương. Đáng chú ý là có tới nhiều loài cây thuộc nhóm cây cho gỗ, củi đã được sử dụng để bảo vệ các vùng đất bồi, các bờ đầm và khu vực nuôi trồng thuỷ sản. Trong số đó tiêu biểu là các cây thuộc họ đước (Rhizophoraceae), Sú (Aegiceras corniculatum), Mắm biển (A. marina), Bần chua (S. caseolaris)...

Bảng 4.7. Giá trị cung cấp năng lượng TN-MT giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

13,927

1,393

16,158

4,847

39,939

9,985

16,225

2006

14,994

1,499

19,139

5,742

47,309

11,827

19,068

2007

20,188

2,019

19,506

5,852

48,216

12,054

19,925

2008

21,739

2,174

19,880

5,964

49,140

12,285

20,423

2009

23,132

2,313

20,261

6,078

50,082

12,520

20,912

Nguồn: Xử lý từ dữ liệu thống kê (2011)



Hình 4.4. Biến động giá trị cung cấp năng lượng khu vực nghiên cứu 2005 - 2009 (tỷ đồng)

Trong giai đoạn 2005 - 2009, giá trị cung cấp năng lượng của TN-MT tại khu vực nghiên cứu (chủ yếu gồm củi và tre nứa) cho sinh hoạt và tiêu dùng tại địa phương có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể là tăng từ hơn 16 tỷ đồng năm 2005 lên khoảng 20 tỷ đồng năm 2007 rồi xấp xỉ 21 tỷ đồng năm 2009. Tốc độ tăng bình quân về giá trị khai thác trong giai đoạn trên là khoảng 8%.


4.1.5. Giao thông vận tải


Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ. Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2, trong đó có 4 con sông lớn là hạ lưu sông Thái Bình, sông Ka Long, sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ. Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh. Các nhánh đa số đều vuông góc với sông chính.Đại bộ phận sông có dạng xoè hình cánh quạt, trừ sông Cầm, sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên, sông Phố Cũ có dạng lông chim. Ngoài 4 sông lớn trên, Quảng Ninh còn có 11 sông nhỏ, chiều dài các sông từ 15 - 35 km; diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng được phân bố dọc theo bờ biển, gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Đồng Cái Xương, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Man, sông Trới, sông Míp. 

Bảng 4.8. Giá trị vận tải thủy khu vực nghiên cứu (KVNC) giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

2005

24,5

38,8

53,0

116,3

2006

35,0

55,4

75,8

166,2

2007

50,0

79,1

108,3

237,4

2008

62,0

98,1

134,2

294,3

2009

75,0

118,7

162,4

356,1

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê khu vực nghiên cứu (2011).



Hình 4.5. Biến động giá trị vận tải thủy KVNC giai đoạn 2005-2009 (triệu đồng)

Phần ven bờ vùng nghiên cứu có mật độ sông tương đối dày đặc, đổ trực tiếp ra biển. Hầu hết các sông đều có diện tích lưu vực nhỏ, chiều dài sông ngắn và thuộc vùng núi giáp biển, nên độ dốc lớn. Đây cũng là đặc điểm nổi bật của hệ thống sông – suối khu vực miền núi. Mùa đông, các sông thường bị cạn nước, có chỗ lộ ra ghềnh đá nhưng vào mùa hè, lưu lượng nước lớn và tốc độ chảy rất cao nên phía hạ lưu nước dâng cao rất nhanh. Lưu lượng vào mùa khô khoảng 1,45 m3/s, mùa mưa lên tới 1.500 m3/s chênh nhau 1.000 lần.



Trong giai đoạn 2005 - 2009, giá trị vận tải thủy tại khu vực nghiên cứu có xu hướng tăng nhẹ. Cụ thể là tăng từ hơn 116 triệu đồng năm 2005 lên khoảng 237 triệu đồng năm 2007 rồi xấp xỉ 356 triệu đồng năm 2009. Tốc độ tăng bình quân về giá trị khai thác trong giai đoạn trên là khoảng 13%.

4.1.6. Khai thác khoáng sản


Khu vực nghiên cứu có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng. Trong giai đoạn 2005 - 2009, giá trị khai thác khoáng sản tại KVNC đã tăng từ 11,7 tỷ đồng năm 2006 lên xấp xỉ 17,5 tỷ đồng năm 2009. Trong đó tăng mạnh tại huyện Đầm Hà và tăng nhẹ tại huyện Hải Hà. Tốc độ gia tăng giá trị khai thác khoáng sản giai đoạn trên tại KVNC là 13,5%/năm.

Bảng 4.9. Giá trị khai thác khoáng sản giai đoạn 2006 - 2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

2,380

0,238

14,333

4,300

28,730

7,183

11,720

2006

2,958

0,296

14,819

4,446

29,704

7,426

12,168

2007

5,429

0,543

16,179

4,854

32,430

8,108

13,504

2008

17,100

1,710

17,664

5,299

35,407

8,852

15,861

2009

17,855

1,786

19,285

5,785

38,656

9,664

17,235

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê khu vực nghiên cứu (2011)



Hình 4.6. Biến động giá trị khai thác khoáng sản giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

4.1.7. Công nghiệp


Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp huyện Tiên Yên tăng đều qua các năm bao gồm hệ thống quốc doanh và ngoài quốc doanh, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 8,5%. Sản phẩm chủ yếu gồm có: đóng tàu thuyền, gạch nung, đồ mộc, giấy, quần áo may sẵn, sửa chữa ô tô, xe máy, cơ khí, đồ điện, chế biến thuỷ sản. Hiện nay, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là vừa và nhỏ và một cơ sở quốc doanh sản xuất công nghiệp là nhà máy sản xuất giấy của Công ty thương mại Hạ Long liên doanh với Đài Loan bắt đầu sản xuất từ năm 1995 và nhà máy thuỷ điện Khe Xoong với công suất 680.800 KW/h (năm 1996).

Bảng 4.10. Giá trị sản xuất công nghiệp tại huyện Đầm Hà 2000 - 2009 (triệu đồng)

 

2000

2005

2006

2007

2008

2009

Tổng số

5799

37705

45040

56403

64535

78202

1. Ngành công nghiệp khai thác

353

2380

2958

5429

17100

17855

Khai thác và chế biến tham

47

 

55

110

150

180

Khai thác đá, cát, sỏi

306

2380

2903

5319

16950

17675

2. Ngành cồn nghiệp chế biến

5446

31495

37480

45406

44943

51410

Sản xuất thực phẩm và đồ uống

691

4950

5399

8954

4973

6270

Dệt

 

2800

3500

4120

3850

4675

Sản xuất trang phục và giày da

272

3230

3608

4126

5890

6950

Chế biến gỗ

60

 

189

687

1274

1520

Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy

 

 

 

 

 

 

In sao ghi bản

57

185

190

193

220

320

Sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại

1196

13534

16372

17873

20556

21990

Sản xuất sản phẩm đúc sẵn từ kim loại

1258

2999

3628

4533

2720

3451

Sản xuất xe có động cơ rơ moóc...

 

 

 

 

 

 

Sản xuất phương tiện vận tải khác

1912

3797

4594

4920

5460

6234

Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế

 

 

 

 

 

 

3.Công nghiệp sản xuất và phânphối điện, khí đốt và nước

 

3830

4602

5568

2492

8937

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đầm Hà (2009)

Nhìn chung, tình hình phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của các huyện xung quanh vịnh Tiên Yên trong thời gian qua có tăng nhưng còn chậm, quy mô nhỏ, thiết bị công nghệ lạc hậu, chủng loại sản phẩm không đa dạng, chất lượng sản phẩm chưa cao, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường, chưa đưa được công nghiệp vào địa bàn nông thôn, chưa có tác động mạnh thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển.



Chuỗi số liệu phân tích cho thấy, trong giai đoạn 2005 - 2009, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực nghiên cứu đã tăng từ 37 tỷ đồng năm 2005 lên 43 tỷ đồng năm 2006. Sau đó tiếp tục tăng nhanh lên 67 tỷ đồng năm 2008 và đạt xấp xỉ 85 tỷ đồng năm 2009. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp giai đoạn trên là 12,5%/năm

Bảng 4.11. Giá trị khai thác khoáng sản của khu vực nghiên cứu (KVNC) giai đoạn 2006 - 2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

37,705

3,771

49,970

14,991

73,078

18,270

37,031

2006

45,040

4,504

58,305

17,492

85,267

21,317

43,312

2007

56,403

5,640

73,283

21,985

107,172

26,793

54,418

2008

64,535

6,454

92,109

27,633

134,703

33,676

67,762

2009

78,202

7,820

115,771

34,731

169,307

42,327

84,878

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê khu vực nghiên cứu (2011)



Hình 4.7. Biến động giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

4.1.8. Phát triển đô thị


Tình hình phát triển đô thị ở địa phận 3 huyện Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên tương đối thấp, mỗi huyện chỉ có 1 đô thị loại V là các thị trấn Quảng Hà, Đầm Hà và Tiên Yên. Các huyện này chủ yếu là phát triển các khu dân cư nông thôn, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, đời sống nhân dân còn thấp do thiếu nhiều điều kiện hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở khu vực này tuy đã được quan tâm nhưng vẫn còn chậm và chưa đồng bộ, chưa có sự quản lý chặt chẽ nên mức độ phát triển chưa cao. Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường ở khu vực nông thôn có nhiều hạn chế, chất thải, rác thải sinh hoạt chủ yếu vẫn tự phát theo phương pháp truyền thống, chưa có quy định cụ thể nên gây ô nhiễm nguồn nước, môi trường đất.
Giao thông

Hoạt động giao thông vận tải được mô tả cụ thể trong mục 1.3.5.
Thủy lợi

Hệ thống sông suối trên địa bàn huyện Hải Hà khá thuận lợi cho việc tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp, đây cũng chính là cơ sở để xây dựng hệ thống tưới tiêu trong huyện khá hoàn chỉnh. Toàn huyện có khoảng 20 công trình trọng điểm với hệ thống kênh mương dài 322,5km trong đó kênh chính dài 36km, kênh cấp 1 dài 66km, kênh cấp 2 dài 107,5km và kênh cấp 3 dài 123km. Huyện còn có những công trình đầu mối lớn như đập Chúc Bài Sơn. Hệ thống đê biển dài 32km và 53 cửa cống dưới đê. Gần đây, một số công trình thuỷ lợi đã xuống cấp, hiệu quả sử dụng kém, diện tích tưới tiêu chủ động bị hạn chế nên thời gian qua huyện đã tập trung đẩy mạnh việc kiên cố hoá 12km đê, trong tổng số 8 tuyến đê hiện có, kiên cố hoá 2 đập dâng nước là đập Sơn Tiến, Lý Nà và kiên cố hoá 19km kênh mương (trong đó kênh chính dài 4,8km; kênh cấp 1 dài 7km, kênh nội đồng 7,2km).

Toàn huyện Tiên Yên có 5 xã giáp vịnh, nhưng chỉ có một xã duy nhất là Hải Lạng có tuyến đê bao kiên cố dài 4,5 km cho toàn bộ vùng nuôi. Các xã còn lại hầu hết chưa có được tuyến đê bao vững chắc để chống lại các sự cố gây thiên tai từ phía biển. Đặc biệt xã Đồng Rui là xã có diện tích lớn nhất (khoảng 1200 ha) đã đưa vào nuôi trồng thuỷ sản nhưng chưa có một tuyến đê bao ngoài mà chỉ là các bờ đầm vừa thấp vừa mỏng nối lại với nhau.



Hệ thống kênh mương: do quá trình phát triển tự phát, thiếu quy hoạch trong việc xây dựng các ao đầm nuôi tôm, hầu hết các vùng đầm nuôi trồng thuỷ sản các xã đều không hình thành các hệ thống kênh mương cấp và tiêu nước một cách khoa học, dễ gây hậu quả về môi trường và gây khó khăn cho việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến sau này. Trừ xã Hải Lạng, trên hệ thống đê ngăn nước biển đã có các cống điều tiết nước cho khu vực đầm nuôi, các xã khác chỉ có các cống điều tiết nước cho từng đầm. Cống xây dựng sơ sài hoặc theo kiểu đúc sẵn (cống thuyền) nên không đảm bảo độ kiên cố trước áp lực của nước, dễ bị trôi vào mùa mưa lũ.

Bảng 4.12. Giá trị xây dựng của khu vực nghiên cứu (KVNC) giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

38,017

3,802

29,873

8,962

61,706

15,427

28,190

2006

46,760

4,676

41,523

12,457

85,770

21,443

38,576

2007

57,100

5,710

48,000

14,400

99,149

24,787

44,897

2008

58,877

5,888

55,487

16,646

114,615

28,654

51,188

2009

61,198

6,120

64,143

19,243

132,494

33,123

58,486

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê của các huyện KVNC (2011)
Giáo dục – đào tạo

Tổng số trường phổ thông toàn huyện Hải Hà là 30 trường, trong đó có 29 trường phổ thông cơ sở và tiểu học với 458 lớp, 1 trường phổ thông trung học với 29 lớp; mẫu giáo có 61 lớp. Tổng số học sinh phổ thông là 10.999 em, mẫu giáo 1.371 cháu. Tổng số giáo viên phổ thông là 578 người, giáo viên mẫu giáo 67 người. Số học sinh tốt nghiệp phổ thông các cấp là 2.240 em.

Huyện Đầm Hà có 100% số xã được công nhận xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học; đặc biệt trường tiểu học thị trấn Đầm Hà là trường đạt tiêu chuẩn quốc gia. Năm học 2004-2005, toàn huyện có 8 trường trung học cơ sở với 92 lớp học, 1 trường phổ thông trung học với 23 lớp học. Tổng số học sinh tiểu học là 3.257 em, học sinh trung học cơ sở là 2.952 em, phổ thông trung học là 1.118 em. Tổng số giáo viên phổ thông trong toàn huyện là 460 người.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Tiên Yên trong những năm gần đây phát triển khá, tỉ lệ huy động học sinh đến trường ngày càng tăng. Toàn huyện có 23 trường, trong đó có 1 trường phổ thông trung học, 1 trường dân tộc nội trú, 5 trường trung học cơ sở, 3 trường phổ thông cơ sở, 8 trường tiểu học, 5 trường mầm non. Tổng số học sinh là 11.772 em. Đội ngũ giáo viên hàng năm được bồi dưỡng nâng cao trình độ, tỉ lệ học sinh các cấp tốt nghiệp khá cao, nhiều học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các trường dạy nghề.

Tuy nhiên, theo điểu tra khảo sát thì khu vực dân cư khu vực cảng Mũi Chùa nói riêng và vùng xung quanh vịnh Tiên Yên nói chung thì số học sinh phải bỏ học vì điều kiện gia đình cũng như điều kiện trường học xa khá cao so với toàn huyện. Tỉ lệ học sinh bỏ học càng lên lớp cao càng cao và chất lượng giáo dục ở những khu vực này tương đối thấp.


Y tế

Trong những năm qua công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được nâng cao, việc phòng bệnh, điều trị bệnh được duy trì thường xuyên. Tuy nhiên, các cơ sở y tế trong các huyện quanh vịnh Tiên Yên chưa thực sự được đầu tư phát triển. Trên địa bàn huyện Hải Hà có 1 bệnh viện khu vực với 45 giường bệnh, 19 trạm y tế xã, phường và cơ quan xí nghiệp với 58 giường bệnh. Tổng số cán bộ y tế có 18 người có trình độ bác sỹ, 37 y sỹ, 43 y tá và 15 nữ hộ sinh. Ngành dược có 1 dược sỹ cao cấp, 1 dược sỹ trung cấp và 1 dược tá.

Toàn huyện Tiên Yên có 11 trạm xá và 1 bệnh viện trung tâm với tổng số 113 giường bệnh. Với 117 thầy thuốc và các nhân viên y tế vừa làm công tác khám chữa bệnh, vừa tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh và làm công tác kế hoạch hoá gia đình. Trong những năm qua, công tác y tế chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng được nâng cao, việc phòng bệnh, khám chữa bệnh được duy trì thường xuyên, mạng lưới y tế cơ sở xã đều được củng cố nâng cấp. Y tế huyện đã điều trị, cấp cứu cho hàng vạn lượt người, giảm bớt những trường hợp bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên.



Riêng cơ sở y tế của huyện Đầm Hà kém phát triển hơn hai huyện Hải Hà và Tiên Yên; cả huyện không có bệnh viện cũng không có phòng khám đa khoa khu vực mà chỉ có 1 trung tâm y tế với 50 giường bệnh và 9 trạm y tế xã, thị trấn với 36 giường bệnh. Tổng số cán bộ y tế của huyện là 97 người, trong đó có 8 người có trình độ bác sỹ, 24 y sỹ, 11 y tá và nữ hộ sinh, 1 dược sỹ đại học, 7 dược sỹ trung học và 2 dược tá. Như vậy, các cơ sở y tế trong khu vực nghiên cứu không phát triển mạnh, chưa thực sự đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân.
Thương mại, du lịch, dịch vụ

Trên địa bàn huyện Hải Hà năm 2006 có 850 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ 28 công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân hoạt động sản xuất và kinh doanh. Tình hình thương mại dịch vụ tương đối ổn định, hàng hoá lưu thông đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt của nhân dân. Tuy vậy, do chịu ảnh hưởng của biến động thị trường nên giá cả một số mặt hàng tăng nhanh và không ổn định như xăng dầu, vàng,… Giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụ đạt 125 tỉ đồng. Tổng số cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch, khách sạn, nhà hàng trên địa bàn huyện Đầm Hà là 593 cơ sở; trong đó tập trung chủ yếu ở thị trấn Đầm Hà. Hoạt động thương mại và dịch vụ ở Tiên Yên hầu như chưa phát triển, chủ yếu là buôn bán nhỏ. Hiện nay, huyện đang xây dựng khu thương mại tập trung tại thị trấn Tiên Yên nhằm thúc đẩy lưu thông hàng hoá trong tỉnh và khu vực với nước ngoài. Hoạt động du lịch hiện nay ở Tiên Yên cũng chưa phát triển, tuy nhiên trong những năm tới, cùng với sự phát triển du lịch của Quảng ninh, Tiên Yên sẽ đẩy mạnh phát triển du lịch với các hướng như: kết hợp với tuyến du lịch Hạ Long - Trà Cổ khai thác tiềm năng sẵn có như cảng Mũi Chùa, phố cổ Tiên Yên, kết hợp đón khách du lịch từ tuyến du lịch Móng Cái - Vịnh Hạ Long với Trung Quốc.

Bảng 4.13. Giá trị TNMV của KVNC giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

Năm

Huyện Đầm Hà

Huyện Hải Hà

Huyện Tiên Yên

Tổng KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

Toàn huyện

KVNC

2005

132,883

13,288

165,432

49,630

213,265

53,316

116,234

2006

154,670

15,467

229,527

68,858

295,893

73,973

158,298

2007

176,360

17,636

259,124

77,737

334,048

83,512

178,885

2008

189,682

18,968

292,537

87,761

377,122

94,281

201,010

2009

196,652

19,665

330,260

99,078

425,752

106,438

225,181

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê khu vực nghiên cứu (2011)

Bảng 4.14. Giá trị phát triển đô thị KVNC giai đoạn 2005-2009 (tỷ đồng)

Năm

Đầm Hà

Hải Hà

Tiên Yên

Tổng KVNC

2005

17,090

58,592

68,743

144,424

2006

20,143

81,315

95,416

196,874

2007

23,346

92,137

108,299

223,782

2008

24,856

104,407

122,934

252,198

2009

25,785

118,321

139,561

283,667

Nguồn: Xử lý từ số liệu thống kê khu vực nghiên cứu (2011)



Hình 4. 8. Biến động giá trị phát triển đô thị khu vực nghiên cứu giai đoạn 2005 - 2009 (tỷ đồng)



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương