ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang11/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

3.6. Công nghiệp


Ngành công nghiệp nói chung tại khu vực nghiên cứu phát triển với tốc độ trung bình trong những năm qua, công nghiệp tập trung vào khai thác và chế biến khoáng sản. Tại Hải Hà, tình hình sản suất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của huyện Hải Hà tập trung vào một số sản phẩm như gạch chỉ nung, chè sơ chế, khai thác cát, đá xây dựng, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền,… Các sản phẩm chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong khu vực. Ngoài ra, huyện đang có những chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Đối với huyện Đầm Hà, ngành công nghiệp chế biến là ngành đem lại giá trị kinh tế cao cho huyện, tiếp đến là công nghiệp khai thác (chủ yếu là khai thác và chế biến than, khai thác đá, cát, sỏi).

3.6.1. Hoạt động cảng biển


Hiện nay trong vùng nghiên cứu có một số cảng đang hoạt động như cảng Mũi Chùa (Tiên Yên), cảng Đầm Buôn (Đầm Hà) với số lượng tàu thuyền và hàng hóa ra vào tăng theo các năm. Trong tương lai khu công nghiệp - cảng biển Hải Hà (thuộc 2 xã Quảng Phong, Quảng Điền) đi vào hoạt động sẽ đóng vai trò là khu vực kinh tế động lực phía Bắc. Phát triển cảng biển, vận tải biển là một thành tố thiết yếu thúc đẩy các ngành kinh tế cùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động địa phương, góp phần tăng trưởng kinh tế toàn khu vực. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng cảng biển và mật độ tàu thuyền trong hoạt động hàng hải cũng đang làm gia tăng mối đe dọa về ô nhiễm môi trường vùng biển và ven bờ. Có thể thống kê một số loại ô nhiễm có thể gây ra bởi các hoạt động cảng biển và vận tải biển như sau:

Ô nhiễm dầu

Tại các cảng biển, hiện tượng ô nhiễm dầu mỡ là do các phương tiện để rò rỉ hoặc bơm trực tiếp nước lacanh, nước buồng máy ra biển. Việc cung cấp dầu mỡ, nhiên liệu cho tàu, việc sửa chữa nhỏ và vứt bừa bãi các loại chất thải dính dầu mỡ cũng là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm vùng nước cảng biển. Các sự cố như vỡ đường ống, tràn dầu hoặc tai nạn do đâm va là những nguyên nhân gây ô nhiễm dầu ở mức nghiêm trọng.



Ô nhiễm rác thải sinh hoạt

Ô nhiễm do rác trên tàu bao gồm các loại dung môi, nhựa hữu cơ, thủy tinh, bao gói và nước thải sinh hoạt không được thu gom đưa đi xử lý mà thải thẳng xuống biển. Một phần đáng kể các chất thải này là từ các con tàu đậu trong khu vực cảng. Số lượng và tính chất của rác thải do tàu sinh ra phụ thuộc nhiều vào kích cỡ và loại tàu. Theo ước tính, mỗi ngày một người trên tàu hàng tạo ra một lượng chất thải sinh hoạt là 1,5kg và số lượng này sẽ gấp đôi với một người trên tàu khách. Trong đó có khoảng 20% là chất thải thực phẩm (gồm cả chất lỏng), 40 - 55% là những chất thải dễ cháy (như giấy, giẻ…), những chất thải không cháy được thường chiếm từ 25 - 40%, 8 - 10% chất thải còn lại là thủy tinh.



Ô nhiễm do nước ballast

Nước ballast đóng vai trò quan trọng đối với an toàn và hoạt động hiệu quả của ngành vận tải hiện đại, giúp cho tàu cân bằng và giữ được ổn định khi không có hàng hay chở hàng không hết tải. Điều đáng quan tâm là trong nước ballast có chứa hàng ngàn loại sinh vật biển bao gồm vi khuẩn, động vật không xương sống, nang, ấu trùng của nhiều loại sinh vật khác nhau. Các loài sinh vật không mong muốn này sẽ gây ra các ảnh hưởng xấu đến đời sống của môi trường biển tại nơi mới đến, tiêu diệt thủy hải sản, đến ngành công nghiệp ven biển và cả sức khỏe con người.



Ô nhiễm do sử dụng sơn chống hà độc hại

Sơn chống hà bảo vệ vỏ tàu, chống lại bám dính của các loại như hà, các phù du khác của biển. Tàu không được phủ bởi các chất chống hà có thể có tới 150 kg hà/m2 trong khoảng thời gian dưới 6 tháng tàu hoạt động trên biển. Chỉ cần một lượng nhỏ hà cũng có thể làm tăng lượng nhiên liệu tiêu thụ lên tới 40% và có thể lên tới 50%. Chất độc trong sơn chống hà sẽ làm tăng hiệu quả việc giữ cho vỏ tàu, thuyền sạch và nhẵn, tuy nhiên loại độc tố này cùng góp phần làm ô nhiễm môi trường.



Ô nhiễm khí thải từ động cơ

Để duy trì hoạt động nhiều ngày trên biển, tàu phải có hệ thống động lực như máy chính, một vài tổ hợp máy phát điện, các hệ thống bơm, các hệ thống tàu bè, một mạng lưới đường ống và các két chứa nhiên liệu, dầu mỡ… Trong đó, máy chính và các máy phát điện trên tàu thường là các động cơ đốt trong chạy bằng nhiên liệu diezel. Khí thải từ các máy này đem theo các khí độc hại như CO2, CO, NO2, CmHn, muội than vào môi trường không khí. Lượng khí xả có trong các động cơ tàu thủy là nguồn ô nhiễm không khí đáng kể nhất từ vận tải biển.



Ô nhiễm môi trường do hoạt động xây dựng cảng, nạo vét duy tu luồng lạch

Quá trình xây dựng cảng như xây kè, đóng cọc, nạo vét, xây dựng đê chắn sóng gây xáo trộn mạnh trầm tích đáy biển và môi trường nước tại khu vực xây dựng cảng. Đây chính là nguyên nhân làm tăng độ đục, tăng chất ô nhiễm trong nước và nhu cầu ôxy sinh hóa. Việc nạo vét, duy tu luồng trước cảng cũng gây những xáo trộn rất lớn đối với lớp trầm tích bề mặt, làm mất ổn định tạm thời trầm tích đáy, gia tăng hàm lượng các chất lơ lửng gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước.



Ô nhiễm môi trường do sự cố tai nạn hàng hải

Tai nạn và sự cố hàng hải là một trong những nguồn gây ô nhiễm biển trong quá trình khai thác và sử dụng phương tiện giao thông đường biển. Nguyên nhân của các sự cố có thể từ đâm va, va quệt, mắc cạn, thủng vỏ tàu, cháy nổ, tràn dầu, thiên tai, sự cố máy… Có thể nói, bất kỳ sự cố tai nạn hàng hải nào cũng đều gây thiệt hại lớn về vật chất và gây ô nhiễm môi trường biển.



Bảng 3.7. Ô nhiễm nước vịnh Tiên Yên – Hà Cối bởi dầu

STT

Ký hiều mẫu

Hàm lượng dầu

(mg/l)

Khu vực

1

QTY-1

0,11

Cửa sông Đầm Hà ( 5 m nước )

2

TY07-6

0,11

Phía tây bắc đảo Cái Chiên ( 5 - 10 m nước )

3

TY07-57

0,09

Phía tây đảo Cái Chiên (10 m nước)

4

TY07-82

0,10

Phía đông nam đảo Cái Chiên (10 m nước)

5

TY07-180

0,11

Lạch vào sông Đầm Hà

6

TY07-208

0,09

Phía nam cửa Bò Lang (5 - 10 m nước )

7

TY07-213

0,10

Phía tây nam núi Cuống ( 5 - 10 m nước )

8

TY07-228

0,09

Phía đông nam cửa Lân (10 - 15 m nước )

Theo kết quả phân tích từ Đề tài KC.09.05/06-10 cho thấy nồng độ dầu trong nước vịnh Tiên Yên - Hà Cối trong mùa mưa năm 2007 dao động trong khoảng 0,09 - 0,11 mg/l, đều vượt giới hạn QCVN 10: 2008/BTNMT cho phép đối với nước biển ven bờ dành cho bãi tắm và NTTS. Các điểm ô nhiễm phân bố trên diện rộng từ gần bờ đến xa bờ; Cửa sông Đầm Hà (5 m nước); Phía tây bắc đảo Cái Chiên (5 - 10 m nước); phía tây đảo Cái Chiên (10 m nước); Phía đông nam đảo Cái Chiên (10 m nước); Lạch vào sông Đầm Hà; Phía nam cửa Bò Lang (5 - 10 m nước); Phía tây nam núi Cuống (5 - 10 m nước); Phía đông nam cửa Lân (10 - 15 m nước). Nồng độ dầu trong nước tăng vượt giới hạn cho phép đối với bãi tắm và NTTS, chủ yếu có nguồn gốc từ nguồn dầu vương vãi của tàu thuyền, dầu xả thải và dò rỉ của động cơ, vương vãi từ các trạm cung cấp xăng dầu ven biển. Thực tế cho thấy hàm lượng dầu tại cửa sông Đầm Hà và dải ven bờ cao hơn tại các khu vực khác là do chịu ảnh hưởng mạnh hơn bởi hoạt động nhân sinh.

3.6.2. Hoạt động khai thác, sản xuất, vận chuyển vật liệu xây dựng


Hoạt động khai thác sa khoáng ven biển, điển hình là khai thác titan ở xã Phú Hải - Hải Hà cũng là vấn đề đáng quan tâm. Hoạt động này nếu không được kiểm soát sẽ gây ra các hậu quả như: tăng cao độ phóng xạ tại khu vực khai thác, cạn kiệt nguồn nước ngầm, nhiễm mặn nước sinh hoạt... Vấn đề khai thác cát lòng sông phục vụ cho công nghiệp xây dựng cũng làm tăng nguy cơ sạt lở bờ sông, biến động luồng lạch,… ảnh hưởng đến diện tích đất canh tác nông nghiệp và nhà cửa của các hộ dân ven sông, cường hóa hậu quả của lũ lụt khi hệ thống đê kè bị xói lở.

Các lò gạch thủ công cũng góp phần gây ra ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí. Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe người dân, sự ô nhiễm từ khói bụi, mùi than của các lò gạch này còn gây thiệt hại về tài sản, hoa màu gieo trồng gần khu vực các lò gạch hoạt động. 





Hình 3.5. Nhà máy gạch Tuynel Tiên Yên

Hình 3.6. Dàn tuyển titan xã Phú Hải - Hải Hà

Trong khu vực, việc vận chuyển vật liệu xây dựng trên hầu hết các tuyến đường đều gây ra ô nhiễm bụi và chất thải xây dựng.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương