ĐẠi học quốc gia hà NỘi trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo



tải về 1.54 Mb.
trang10/14
Chuyển đổi dữ liệu05.11.2017
Kích1.54 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14

3.5. Nông nghiệp


Hoạt động sản xuất nông nghiệp khu vực nghiên cứu được mô tả trong mục 1.3.2. Hiện nay, việc đánh giá các giá trị bị mất đi của TN-MT do các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp chưa được nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết, hầu hết các tài liệu chỉ mới đánh giá định tính về thiệt hại và hậu quả do hoạt động sản xuât nông nghiệp tác động đến tài nguyên đất, nước, không khí, hệ sinh thái nông nghiệp và đa dạng sinh học.

Bảng 3.5. Diện tích gieo trồng các cây hàng năm và cây lâu năm ở các huyện ven biển tỉnh Quảng Ninh (ha)

Huyện

2005

2006

2007

Đầm Hà

Hải



Tiên Yên

Đầm Hà

Hải



Tiên Yên

Đầm Hà

Hải



Tiên Yên

1. Cây hàng năm

5.809,5

7.854,0

 -

6.056,3

8.179,0

 -

5.873,4

8.167,0

 -

­ Cây lương thực

4.193,1

5.857,0

 -

4.415,0

6.022,0

 -

4.411,9

6.085,0

 -

Lúa

3.197,2

4.294,0

 -

3.398,2

4.425,0

 -

3.256,9

4.392,0

 -

­ Cây công nghiệp

527,0

619,0

 -

530,4

581,0

 -

481,8

534,0

 -

­ Cây thực phẩm

272,8

588,0

 -

317,8

746,0

 -

286,2

636,0

 -

­ Cây hàng năm khác

816,6

790,0

 -

793,1

830,0

 -

693,5

912,0

 -

2. Cây lâu năm

442,7

1.338,0

 -

498,2

1.369,0

 -

537,3

1.393,0

 -

­ Cây công nghiệp lâu năm

99,5

896

 -

154,5

927

 -

192,2

957

 -

­ Cây ăn quả

343,2

442

 -

343,7

442

 -

345,1

436

 -

­ Cây lâu năm khác

 

 

 -

 

 

 -

 

 

 -

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, Hải Hà, 2007

Trên cơ sở thu thập, phân tích và nhận định những tác động gây ra của hoạt động sản xuất nông nghiệp có thể xác định hoạt động này gây tổn thất về mặt tài nguyên đất do sử dụng để canh tác và do ô nhiễm môi trường từ các chế phẩm trong quá trình trồng trọt, chăn nuôi làm cho hệ sinh thái đất bị biến đổi. Năm 2007, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện Đầm Hà và Hải Hà là 5.873,4ha, 8.167,0ha; tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm của hai huyện này lần lượt là 537,3ha và 1.393,0 ha.

Như vây, so sánh diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp với diện tích gieo trồng ở hai huyện Đầm Hà và Hải Hà có thể thấy diện tích đất gieo trồng gấp khoảng 2 lần diện tích đất nông nghiệp hiện có. Đáp ứng mục tiêu tăng năng suất cây trồng người nông dân thường tăng tốc độ sử dụng đất và áp dụng các kỹ thuật trong canh tác nông nghiệp. Với tốc độ khai thác như vậy diện tích đất nông nghiệp không có thời gian cải tạo và phục hồi. Đây là một trong những nguyên nhân gia tăng hiện tượng thoái hóa đất.

Bảng 3.6. Hệ số sử dụng đất cây hàng năm ở các huyện ven biển tỉnh Quảng Ninh (ha)


Huyện

2005

2006

2007

Đầm Hà

Hải Hà

Tiên Yên

Đầm Hà

Hải Hà

Tiên Yên

Đầm Hà

Hải Hà

Tiên Yên

Hệ số sử dụng đất cây hàng năm

2,1

1,9

 -

2,1

2,0

 -

2,2

2,0

 -

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, Hải Hà, 2007

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến 2007, diện tích đất trồng cây lương thực có hạt ở các huyện ven biển Quảng Ninh có xu hướng tăng, cụ thể huyện Đầm Hà từ 4.193 ha năm 2005 tăng lên 4.412 ha năm 2007 (Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2007), huyện Hải Hà từ 5.857 ha năm 2005 tăng lên 6.085 ha năm 2007 (Niên giám thống kê huyện Hải Hà, 2007), huyện Tiên Yên từ 3.300 ha tăng lên 3.500 ha (Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009). Trong số các cây lương thực thì lúa vẫn chiếm diện tích chủ yếu. Diện tích trồng lúa ở hai huyện Đầm Hà và Hải Hà từ năm 2005 - 2006 gia tăng và từ 2006 - 2007 lại giảm. Năm 2007, diện tích trồng lúa ở huyện Đầm Hà và huyện Hải Hà lần lượt tăng lên 1,86% và 2,28% so với năm 2005. Diện tích trồng lúa ở huyện Tiên Yên ổ định là 2.900ha từ năm 2005 đến năm 2007. Cũng trong giai đoạn này, diện tích một số cây màu lương thực như khoai lang, sắn, ngô có chiều hướng phát triển không đồng bộ. Ở huyện Đầm Hà diện tích cây khoai lang và sắn giảm lần lượt là 85,7 ha, 42,9 ha, ngược lại diện tích ngô tăng lên được 159 ha trong vòng 3 năm (Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2007). Trong khi đó ở huyện Hải Hà diện tích cây khoai lang và ngô tăng lên lần lượt là 69ha, 130ha, diện tích sắn giảm 1ha. Diện tích các cây màu lương thực ở huyện Tiên Yên ổn định trong giai đoạn 2005 - 2007 (Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2007). Ngoài ra, tổng diện tích các cây công nghiệp mía, lạc, đậu tương ở huyện Đầm Hà và Hải Hà năm 2007 giảm 54,2 ha và 85 ha (Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, Hải Hà, 2007) so với năm 2005.

Hoạt động nông nghiệp ngoài việc sử dụng tài nguyên đất phục vụ cho trồng trọt còn làm suy giảm đa dạng sinh học, thay đổi các hệ sinh thái nông nghiệp do sử dụng hình thức độc canh và lạm dụng các loại thuốc trừ sâu, diệt cỏ…làm gia tăng hàm lượng hóa chất trong môi trường khiến cho nhiều loài sinh vật có ích không thích nghi được và bị suy giảm về số lượng như các loài thiên địch có lợi.

Bên cạnh đó, các chất thải trong chăn nuôi cũng là nguyên nhân đe dọa tới chất lượng môi trường vịnh Tiên Yên. Số lượng trang trại liên tục tăng trong giai đoạn 2006-2009, năm 2007 tổng số trang trại ở cả 3 huyện là 200, đến năm 2009 là 266 trang trại. Với số lượng gia súc gia cầm ngày càng tăng trong những năm gần đây kéo theo gia tăng các chất thải từ các vật nuôi. Năm 2007, tổng số lượng gia súc, gia cầm ở các huyện Đầm Hà, Hải Hà và Tiên Yên lần lượt tăng 59.041 con (Niên giám thống kê huyện Đầm Hà, 2007), 14.013 con (Niên giám thống kê huyện Hải Hà, 2007), 5.700 con (Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh, 2009). Hiện nay, các chất thải chăn nuôi được người dân sử dụng một phần làm phân bón và lượng chất thải ra môi trường bên ngoài vẫn đáp ứng khả năng đồng hóa của môi trường. Vì vậy, hoạt động nông nghiệp chưa phải là tác nhân chính gây tổn hại đến TN-MT.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương