ĐẠi học huế trưỜng đẠi học khoa học nguyễn thành khánh truyện trinh thám việt nam


Truyện trinh thám trong tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại



tải về 93.31 Kb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu18.11.2017
Kích93.31 Kb.
#2140
1   2   3   4   5

2.2.3. Truyện trinh thám trong tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại

Truyện trinh thám ảnh hưởng tích cực đến “văn hóa đọc” của người Việt Nam, sự phổ biến của truyện trinh thám trong cộng đồng nhiều khi còn tỏ ra vượt trội so với các thể loại văn học khác và thường xuyên tạo ra những hiện tượng “sách ăn khách”. Không ít tác phẩm trinh thám của Biến Ngũ Nhy, Phú Đức, Thế Lữ, Phạm Cao Củng… đã gây nên những “cơn sốt” – điều chưa từng có trong sinh hoạt tinh thần người Việt trước đó. Và như thế, cũng có nghĩa là chúng mặc nhiên xác lập được một vị thế đáng kể trong đời sống văn học. Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh chức năng giải trí, tiêu khiển của truyện trinh thám có lẽ chúng ta chưa thấy hết giá trị của nó. Trên thực tế, thể loại này còn hàm chứa nhiều giá trị, còn có nhiều chức năng quan trọng khác thuộc phương diện giáo dục, nhận thức…

Thể loại truyện trinh thám hấp dẫn người đọc (và người đọc tự giáo dục, nhận thức) bằng cách riêng của nó, đó chính là tấm gương để tự soi mình, phán xét người khác. Mỗi tác phẩm đều khơi dậy ở người đọc khát vọng vươn tới cái lý tưởng, bắt chước để làm theo điều thiện, theo cái tốt đẹp mà tác phẩm đã phản ánh.

TIỂU KẾT:

Nhận diện truyện trinh thám Việt Nam là một việc không dễ, bởi vì ngay cả nội hàm của khái niệm truyện trinh thám nói chung, hiện tại vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến thỏa đáng, hợp lý của những người đi trước. Trong Chương 1, chúng tôi đưa ra quan niệm riêng về truyện trinh thám Việt Nam: Là một thể loại văn chương tự sự, viết về quá trình điều tra của nhân vật thám tử; dựa trên tư duy logic để làm sáng tỏ vụ án. Hình thức nghệ thuật truyện trinh thám có những đặc điểm riêng, từ cốt truyện, kết cấu, cách kể chuyện, cho đến ngôn ngữ nghệ thuật.

Truyện trinh thám Việt Nam là sự dung hợp nhiều thể loại, là sự tiếp biến văn hóa, văn học phương Đông, phương Tây (kết hợp với các yếu tố truyền thống). Do sự chi phối của điều kiện lịch sử, văn hóa, truyện trinh thám Việt Nam không thuần túy là một lối văn chương giải trí mà thông qua câu chuyện điều tra vụ án, nhà văn còn lồng ghép trong đó nhiều chức năng khác của văn học.

Truyện trinh thám Việt Nam là một thể loại được sinh thành muộn, nhưng lại phát triển với một tốc độ rất nhanh. Chỉ trong vòng nửa thế kỷ, diện mạo của một thể loại văn học mới mẻ đã được định hình và tiến tới chỗ hoàn thiện. Từ chỗ thử nghiệm bằng những tác phẩm mang yếu tố trinh thám những năm đầu thế kỷ XX, đến giữa thế kỷ, truyện trinh thám Việt Nam đã có nhiều thành tựu đáng kể, góp phần trong việc đẩy nhanh sự phát triển của văn học dân tộc trên con đường hiện đại hóa.


CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

3.1. HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT

3.1.1. Nhân vật thám tử

3.1.1.1. Thám tử: Những con người tài đức, nghĩa hiệp

Để trở thành thám tử, kỹ năng xử lý tình huống là không thể thiếu, song điều quan trọng nhất lại là nhân cách, lý tưởng. Nhân vật thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam rất giàu tình thương yêu đối với con người, nhất là các nạn nhân của xã hội. Chính nhân cách sáng ngời này đã giúp họ có đủ nghị lực vượt qua thử thách khi đối mặt với vụ án, tạo cho họ một bản lĩnh vững vàng. Thám tử bao gồm nhiều hạng người trong xã hội, họ có công ăn việc làm riêng và trở thành thám tử với nhiều hoàn cảnh và mục đích khác nhau. Họ có những nét tính cách vừa giống, vừa khác kiểu nhân vật thám tử phương Tây. Điều đáng quý ở các nhân vật thám tử Việt Nam là bất vụ lợi: “Thám tử không phải là một trinh thám nhà nghề nên không hề có lấy của ai một xu nhỏ…”

Thám tử sẵn sàng thay mặt công lý và lẽ phải để trừ gian diệt bạo, rõ ràng là hình ảnh mang tính lý tưởng của cộng đồng. Công chúng tìm thấy trong tác phẩm trinh thám mẫu hình con người tài đức, trượng nghĩa, có thể đáp ứng được nỗi khát khao được sống trong một xã hội trật tự, công bằng của họ.

3.1.1.2. Thám tử tiếp cận vụ án do tình cờ, ngẫu nhiên

Nhân vật thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam khi tiếp cận vụ án, phần nhiều thường do tình cờ hoặc ngẫu nhiên, được tác giả sắp xếp một cách khéo léo, tài tình.

Các yếu tố tình cờ, ngẫu nhiên đã trở thành một môtíp phổ biến trong cốt truyện trinh thám Việt Nam. Đối với thám tử chuyên nghiệp, yếu tố ngẫu nhiên không phải không xảy ra, song chắc chắn là cá biệt, hiếm hoi. Trái lại, đối với các thám tử “không chuyên”, theo lối tài tử, nghĩa hiệp thì yếu tố ngẫu niên được tác giả sử dụng thường xuyên.

3.1.1.3. Thám tử kết hợp tư duy lôgic với “mưu mẹo” để giải mã mọi bí ẩn.

Những suy luận của nhân vật thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, dù là diễn dịch hay quy nạp vẫn rất “hiển nhiên” và “đơn giản”, phù hợp với nhận thức của người Việt Nam lúc bấy giờ. Hầu hết, các suy luận của nhân vật thám tử đều dựa trên các chứng cứ khoa học và thực tiễn, kết hợp với trình độ hiểu biết sâu rộng trong tất cả các lãnh vực đời sống.

Dùng mưu trí, mẹo mực để giải quyết các tình huống hàng ngày là một lối ứng xử mang đậm dấu ấn trong tính cách của người Việt Nam; vừa thực tế, thực dụng, tháo vát đồng thời cũng có gì đó mang tính chất láu lỉnh, tinh khôn (Gói thuốc lá, Những nét chữ). Chỉ với tài suy luận, quan sát hiện trường thôi chưa chắc đã xử lý được vấn đề; đôi khi nhờ mưu mẹo, xảo thuật cá nhân, thám tử dễ dàng qua mặt hung thủ. Kỹ thuật phá án trong truyện trinh thám là một yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, phương pháp giải mã các bí mật thông qua những bức thư, những nét chữ là một kiểu “trò chơi trí tuệ” mang nặng tính cách của người Việt Nam nên có lẽ chỉ hấp dẫn đối với độc giả người Việt.
3.1.2. Nhân vật tội phạm

3.1.2.1. Tội phạm giết người cướp của

Tội ác đáng ghê tởm nhất là giết người chiếm đoạt tài sản. Kẻ gây tội ác lại là những trí thức thì càng đáng sợ hơn, bởi mức độ tinh vi và sự chai lì về nhân cách kẻ gây án. Kế đó, truyện trinh thám cũng miêu tả tội ác bắt cóc, đánh tráo trẻ con vào các nhà giàu để mong nhờ cậy về sau, hoặc vì lòng tham mà cho đồng bọn giết chết người bạn cùng hùn vốn làm ăn với mình để giành tài sản.

Xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, cùng với sự lỏng lẻo của luật pháp, sự xuống cấp của đạo lý, đạo đức, trong xã hội bắt đầu xuất hiện kiểu tội phạm như ở các nước phương Tây: những thế lực ngầm trong xã hội, nhất là các băng đảng, hội kín… Ngoài ra, còn có những nhân vật liều lĩnh để gây nên tội ác cũng tạo nên sự đa dạng về những tên tội phạm sẵn sàng giết người để thực hiện âm mưu gian ác của mình.

Khi âm mưu bại lộ, tội ác bị phát hiện, chúng phải nhận lãnh hậu quả. Sự trừng phạt dành cho kẻ thủ ác trong truyện trinh thám được coi là tất yếu, hợp quy luật. Đây cũng là ý nghĩa giáo dục mà các tác giả truyện trinh thám muốn gởi đến người đọc.



3.1.2.2. Tội phạm giết người vì ái tình

Trong truyện trinh thám Việt Nam, dạng tội phạm liên quan đến đời sống tình cảm (tình yêu, sự ghen tuông, lừa dối, ngoại tình …) được các tác giả đề cập có số lượng vượt trội hơn so với các dạng khác. Dạng tội phạm này đặc biệt ở chỗ trong mối quan hệ gần gũi, thân thiết với nạn nhân. Thế nhưng do mù quáng, ích kỷ nên trở thành tội phạm. Điều ít ai ngờ là kẻ giết người trong truyện trinh thám không chỉ nam giới mà có cả phái nữ, Nhung (trong Bóng người áo tím), Cô Huệ (Mảnh trăng thu), kế mẫu của Kỳ Phát trong Chiếc tất nhuộm bùn. Ngoài ra còn có những dạng tội phạm khác: do lòng tham, do sống đua đòi.

Các kiểu nhân vật tội phạm chịu ảnh hưởng văn học truyền thống khá đậm nét thường được mô tả theo các công thức, các môtip quen thuộc. Cụ thể, cái xấu cái ác thường mang tính chung chung, không rõ ràng; nhân vật tội phạm chủ yếu được nhà văn miêu tả thông qua các hành động một cách bí ẩn, không đi sâu nội tâm, nhất là tính cách và diện mạo chưa được khắc họa rõ nét, kể cả ngoại hình.

3.2. HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN, THỜI GIAN TRONG TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM

3.2.1. Hình tượng không gian

3.2.1.1. Không gian phố thị

Cảnh phố thị với những con đường phố sầm uất, nhộn nhịp của Hà Nội, các căn nhà kín cổng cao tường, những nhà hàng sang trọng, những tửu điếm đầy khói thuốc phiện, những chuyến tàu điện rì rầm trong đêm tối cùng khung cảnh, không gian Nam Bộ rộng lớn, phố thị Sài Gòn văn minh, hiện đại. Chìm khuất dưới bề nổi phù hoa lại là một xã hội khác; nó chứa đựng đầy những bất ổn mà ít ai có thể đoán trước được. Thế giới tội phạm gắn với những tệ nạn xã hội, những mánh khóe lọc lừa, những người giàu lại muốn giàu thêm bằng những mưu mô, toan tính thâm hiểm...

Nhà văn thường miêu tả các sự kiện mấu chốt diễn ra trong một không gian nhỏ hẹp; môi trường quen thuộc của những người làm thuê làm mướn, đi ở cho bọn nhà giàu…. Quá trình phát triển của câu chuyện cũng là quá trình mở rộng không gian hành động của nhà điều tra, thám tử bắt đầu vượt qua giới hạn, liên kết, mở rộng nhằm tìm chứng cứ để vén bức màn bí mật. Một số trường hợp, tác giả hạn chế việc mở rộng không gian vụ án, câu chuyện chỉ quẩn quanh trong một phạm vi hạn hẹp, thường là không gian trong gia đình, nhiều lắm thì cũng ở một khu phố.

Ngoài ra, còn có một dạng “không gian” đặc biệt khác, tạm gọi là không gian quyền lực được nhà văn lồng ghép vào không gian hiện thực, kết hợp với không gian vật thể tiêu biểu như, hang động, phòng, khe ... nhằm tăng thêm sức hấp dẫn, li kỳ của câu chuyện (Người bán ngọc, Vàng và máu, Kim thời dị sử - Ba Lâu ròng nghề đạo tặc)



3.2.1.2. Không gian đường rừng

Đặc trưng của không gian đường rừng không phải ở nét thơ mộng, lãng mạn mà là sự lạ lẫm, bí ẩn, nhiều bất trắc… Khung cảnh thường được mô tả bằng một cái nhìn đầy vẻ huyền bí; không gian ấy hứa hẹn nhiều thứ bất ngờ, những điều li kì, rùng rợn, gợi không khí chết chóc, hoang lạnh, với những âm thanh ma mị. Tất cả hình ảnh đó góp phần làm nên “không khí” trinh thám. Miêu tả thiên nhiên cũng là một thủ pháp nhằm khắc họa tính cách nhân vật, thiên nhiên không chỉ là khung cảnh mà còn là diễn biến tâm trạng.

Để tăng thêm sự kỳ ảo, ly kỳ cho không gian truyện, tác giả còn dùng nhiều chi tiết như ánh sáng, bóng tối và cả sự im lặng… Chính điều này đã làm tăng thêm tính lãng mạn, chất kỳ ảo, hấp dẫn của thể loại. Đây cũng là một đặc điểm đáng lưu ý của truyện trinh thám Việt Nam.

3.2.2. Hình tượng thời gian

3.2.2.1. Thời gian tuyến tính

Các biểu hiện của thời gian ở đây khá đa dạng: thông qua chiều hướng (thuận, nghịch), thông qua nhịp điệu (nhanh, chậm)… Mọi sự kiện, biến cố tiếp nối nhau theo mạch vận động của thời gian. Tính xác định của thời gian nghệ thuật trong truyện trinh thám là một dụng ý của nhà văn, đó là sự sắp xếp có chủ ý, dựa trên mô thức thời gian hiện thực, thời gian lịch sử, nên dù là câu chuyện tưởng tượng nhưng người đọc vẫn cứ ngỡ như chuyện là có thực trong đời sống. Đồng thời, để tăng sức hấp dẫn cho câu truyện, thời gian trong truyện trinh thám thường có xu hướng “đêm hóa”, thời khắc ban đêm nhiều hơn ban ngày. Với hình thức này, tác giả dễ dàng chia tác phẩm ra nhiều chương đoạn, đến khi sự kiện phát triển lên thành cao trào, đầy kịch tính, nhà văn dừng lại và chuyển sang chương khác nhằm gây tò mò, háo hức cho người đọc.



3.2.2.2. Thời gian phi tuyến tính

Là một thủ pháp nghệ thuật để làm tăng sức hấp dẫn, tăng kịch tính của thể loại. Để “cứu” một cuộc điều tra vụ án sắp có triển vào rơi vào bế tắc, tác giả buộc phải ghép nối, liên kết với những tình tiết, diễn biến thuộc những thời khắc, địa điểm khác. Chính điều này làm tăng thêm sự đa dạng, phức tạp của hình tượng thời gian, thông qua việc chắp nối các sự kiện theo trình tự thời gian đan xen hiện tại - quá khứ.

Ở một vài tác phẩm, thời gian dòng ý thức, hồi tưởng cũng được nhà văn thể hiện khá rõ nét, tác giả không để cho thời gian chảy theo một hướng từ hiện tại đến tương lai mà xoay vòng thời gian: từ hiện tại đến quá khứ rồi quay trở về hiện tại. Trong truyện mang màu sắc trinh thám ái tình – võ hiệp – hành động, người đọc thường thấy thời gian gắn với hành động của nhân vật chính, nhất là những trang miêu tả các pha giao đấu với đối thủ, những cuộc rượt đuổi. Nhà văn trinh thám chủ yếu chú ý phương thức trinh thám là chính nên thời gian truyện thường ngắn, đôi lúc gượng ép.

Truyện trinh thám với đặc trưng là điều tra vụ án, tìm nhân chứng, vật chứng nên không gian, thời gian nghệ thuật chưa phải là một thủ pháp tối ưu nhằm tăng thêm tính hấp dẫn cho câu chuyện.



TIỂU KẾT

Thế giới nghệ thuật trong truyện trinh thám là thế giới đặc biệt, ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống xã hội, nhà văn còn đi sâu khám phá số phận con người, chuyển tải đến độc giả thông điệp của mình.

Đặc điểm nổi bật nhất của nhân vật thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam là tinh thần nghĩa hiệp, luôn hành xử theo triết lý bất vụ lợi của những con người nghĩa hiệp, đại diện cho công lý. Vì nhiều nguyên nhân, thám tử trong truyện trinh thám Việt Nam vừa giống lại vừa khác so với hình mẫu thám tử phương Tây. Họ có những nét tính cách riêng, được bộc lộ qua những mối quan hệ éo le, lãng mạn theo kiểu mô típ “tài tử giai nhân” trong văn học truyền thống (điều mà trong truyện trinh thám phương Tây rất hiếm thấy). Mặt khác, các phương pháp giải mã vụ án với các mưu mẹo theo một kiểu “Việt hóa”. Các nhân vật phản diện trong truyện trinh thám Việt Nam cũng có nét riêng, phản ánh thực tế xã hội và con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, nhân vật tội phạm không phải là nhân vật chính của thể loại nên tính cách nhân vật được miêu tả chung chung, không được bộc lộ rõ nét. Nhân vật tội phạm vừa chịu ảnh hưởng rõ nét môtip các nhân vật phản diện trong văn học truyền thống (với rất nhiều kiểu phạm tội theo lối cổ điển như tham lam, trộm cắp, chiếm đoạt tài sản…) lại vừa có tính chất hiện đại (hành động truy tìm bản đồ kho báu, buôn lậu, thanh toán giữa các băng đảng, lợi dụng tình yêu, lòng ghen tuông..).

Một trong những yếu tố để làm tăng sức hấp dẫn cho tác phẩm là hình tượng không gian “phố thị” và không gian “đường rừng”. Không gian đó vừa đảm bảo cho sự phát triển hợp lý của câu chuyện, lại vừa mang tính hiện thực, in đậm dấu ấn văn hóa, lịch sử một thời. Đồng thời, nhà văn dựa vào sự chuyển vận của thời gian, lấy đó làm cái trục chính để triển khai sự kiện, biến cố và cuộc đời nhân vật. Các biểu hiện của thời gian khá đa dạng về chiều hướng (thuận, nghịch), về nhịp điệu (nhanh, chậm)… Có thể nói rằng tất cả các yếu tố trên đã góp phần tạo nên đặc trưng riêng của thể loại trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX để từng bước hội nhập vào nền văn học thế giới.


CHƯƠNG 4

ĐẶC ĐIỂM CỐT TRUYỆN VÀ PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

4.1. CỐT TRUYỆN

4.1.1. Vấn đề cốt truyện truyện trinh thám

4.1.1.1. Về khái niệm cốt truyện

Trong cốt truyện truyện trinh thám phải đảm bảo hai điều kiện có tính chất tiền đề là điều tra vụ án (sự kiện) và thám tử điều tra vụ án (nhân vật). Không có hai yếu tố này thì sẽ không có/không thành truyện trinh thám. Cả hai yếu tố này (sự kiện – nhân vật) được kết nối, tổ chức theo một mạch thống nhất.



4.1.1.2. Kiểu cốt truyện trinh thám tiêu biểu của phương Tây

+ Cốt truyện trinh thám kinh dị, kỳ ảo.



+ Cốt truyện trinh thám cổ điển: cấu trúc theo dạng “câu đố”, dựa theo “lý thuyết trò chơi”.

+ Cốt truyện trinh thám hiện đại Mỹ.

+ Cốt truyện trinh thám đen.

+ Cốt truyện trinh thám li kì, giật gân: ít chú ý về trần thuật mà chỉ liệt kê các hành động.

+ Cốt truyện trinh thám - hình sự.

4.1.2. Mô hình cốt truyện truyện trinh thám Việt Nam

4.1.2.1. Cốt truyện đơn tuyến

Với cấu trúc tự sự, truyện được triển khai theo mạch thẳng thời gian, duy trì quan hệ nhân quả. Tất cả diến biến theo từng lớp lang, tuần tự; thời gian trần thuật thường trùng với thời gian cốt truyện. Đây chính là dấu hiệu của một thể loại văn học mới hình thành, chưa đoạn tuyệt hẳn với những ảnh hưởng của văn học quá khứ, được chuyển tiếp từ văn xuôi chữ Hán sang chữ quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX.

Dựa vào mô hình cốt truyện trong văn học truyền thống trước tiên là để chính tác giả “luyện bút”, sau nữa là giúp độc giả quen dần với một thể loại mới. Trong giai đoạn mở đầu của thể loại trinh thám, tác giả chưa thể tạo ra được những tác phẩm hoàn thiện, chưa xây dựng được những hình tượng nhân vật thám tử lừng danh như các bậc thầy truyện trinh thám phương Tây cũng là điều dễ hiểu. Nhà văn mới chỉ mô phỏng để sáng tạo nên các tác phẩm phù hợp với hoàn cảnh và nhận thức của người đọc đương thời; phù hợp với khung cảnh và tính cách Việt Nam.

4.1.2.2. Cốt truyện đa tuyến

Thông thường, truyện đa tuyến sẽ có hai “phe” chính diện và phản diện đối lập nhau về lí tưởng, chính kiến, đạo đức, hành động… Một bên (phe chính) đại diện cho chính nghĩa, lí tưởng, cái đẹp…, một bên (phe tà) thì ngược lại. Trong phe chính có nhân vật thám tử, ông “cò” (police), mật thám, những người nghĩa khí…, phe tà gồm kẻ thủ ác, bọn giết người, trộm cướp, những băng đảng …, tất cả đều móc xích, tương tác lẫn nhau trong suốt diễn biến câu chuyện. Biểu hiện của cốt truyện đa tuyến khá đa dạng: cốt truyện “feuilleton”, cốt truyện “trinh thám – tình cảm”, cốt truyện “trinh thám – kịch”... Nhìn chung, đó đều là những tác phẩm có nhiều nhân vật, tình tiết phức tạp. Kiểu cốt truyện trinh thám - tâm lý cũng thường được các nhà văn sử dụng, nhân vật thám tử trở nên “thật” hơn, gần gũi với người đọc; giảm bớt tính chất “tôn quý” và ẩn chứa trong đó là cái nhìn động.

Từ những cốt truyện kịch tính kiểu truyền thống, các nhà văn đã học tập, sáng tạo những cốt truyện vụ án kiểu văn học phương Tây – vốn là điều mới mẻ với văn học Việt Nam lúc bấy giờ.

4.2. PHƯƠNG THỨC TRẦN THUẬT

4.2.1. Điểm nhìn - vai kể

4.2.1.1. Vai kể ngôi thứ nhất

Nhân vật sử dụng ngôi thứ nhất, xưng “tôi”. Điều này cho phép tác giả đưa vào việc trần thuật quan điểm riêng, sắc thái tâm lý, cá tính mang đậm tính chủ quan. Chính ngôi kể chuyện này tạo cho người đọc cảm giác tin cậy, xác tín về những sự việc và con người được nói đến trong truyện. Mặt khác, việc nhân vật xưng “tôi” ở ngôi thứ nhất giúp người kể đi sâu khám phá thế giới nội tâm, những mối quan hệ, những diễn biến phức tạp của tâm lý nhân vật. Đây là yếu tố quan trọng trong việc hình thành nên những hiệu ứng thẩm mỹ của thể loại với ngầm ý rằng, câu chuyện độc giả đang theo dõi là chuyện có thật trong cuộc sống hiện tại, không phải chuyện bịa.

Với phương thức này, tư cách kể chuyện được trao cho nhân vật nên mang đậm dấu ấn chủ quan. Người kể, với năng lực phân tích phán đoán cá nhân, đã tự do thể hiện những hiểu biết, quan niệm về nhân sinh của mình.

4.2.1.2. Vai kể ngôi thứ ba

Người kể chuyện không hiện diện trực tiếp mà giấu mặt, ẩn kín (chính xác là “chuyển vai”), câu chuyện được kể theo quan điểm, ngôn ngữ và giọng điệu khác với cách kể trực tiếp (ngôi thứ nhất). Trần thuật ở ngôi thứ ba dưới hình thức “người kể chuyện” (do tác giả sáng tạo ra), vì thế mang tính “khách quan”, “trung tính”.

Vai kể ở ngôi thứ ba cho phép người kể có cơ hội quan sát toàn diện cuộc sống, số phận con người và phản ánh nó vào tác phẩm một cách cụ thể, khách quan. Ở đây, người kể chuyện đứng đằng sau nhân vật và các sự kiện, đẩy nhân vật ra trước độc giả để kể. Ở một phương diện nào đó, người kể ở ngôi thứ ba không khác một người làm công việc ghi biên bản, kể lại những điều đó. Người kể chuyện hàm ẩn ít khi tham gia vào bất kỳ tình huống hay hành động nào mà đứng ngoài để quan sát, nắm bắt và thuật lạị tường tận cho người nghe một cách khách quan và tỉnh táo.

4.2.2. Ngôn ngữ trần thuật

4.2.2.1. Đặc điểm lời thoại

Nhà văn thường căn cứ vào địa vị xã hội, vai trò và công việc trong cuộc sống của nhân vật để thực hiện lời thoại với lớp từ ngữ, sắc thái phù hợp. Với hạng “người nhà nước” như quan lại, mật thám, kẻ giàu có, giọng điệu trong giao tiếp của họ thường mang tính chất “hành chính”, kẻ cả, đầy vẻ uy quyền (Vàng và máu, Người bán ngọc). Đối với nhân vật thám tử, ngôn ngữ lại có nét riêng của nghề điều tra, phá án: thận trọng, chính xác. Nhà văn thường sử dụng cách nói trung tính, khách quan; diễn đạt ngắn gọn, dứt khoát, mạnh mẽ, khẳng khái, tự tin, có bản lĩnh (Nhà sư thọt, Đòn hẹn)

Đối thoại được dùng để “kết hợp” nhiệm vụ trần thuật, dắt dẫn (theo nguyên tắc ngôn ngữ kịch), các “cặp” tham gia đối thoại phải gần gũi, hiểu nhau (Lê Phong – Văn Bình, Kỳ Phát – Người bạn). Ở một vài truyện, đối thoại thực chất là một cuộc đấu trí, so tài của các nhà thám tử trong giới hạn thời gian truy tìm thủ phạm vụ án (Gói thuốc lá, Người một mắt). Trong các truyện sử dụng lối trần thuật ngôi thứ ba, lời thoại của người kể chuyện (dấu mặt) chỉ làm nhiệm vụ miêu tả lại những hành động và suy nghĩ của nhân vật chính để giải thích bí mật vụ án.

Người đọc bắt gặp nhiều trường hợp nhân vật “trải lòng”, “tự vấn”, tranh biện… qua những dòng độc thoại. Với phương thức trần thuật này, người kể chuyện đã gắn “điểm nhìn bên trong” với “điểm nhìn bên ngoài” nên khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật bị thu hẹp lại, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về con người đang miêu tả.



4.2.2.2. Dấu ấn ngôn ngữ vùng miền

Tính chất vùng miền được thấm vào nhiều yếu tố chứ không phải thuần túy là do chất giọng “bản địa” của nhà văn. Người trần thuật không những “tải” nội dung truyện kể mà còn chuyển những giá trị văn hóa nằm sâu dưới lớp ngôn ngữ (Một truyện ghê gớm, Tiếng hú ban đêm, Vàng và máu...). Sắc thái địa phương rất đa dạng: những tên gọi chỉ sắc tộc như người Thổ, người Mán, người Nùng, người Khách… đã tạo nên một “âm vang ngôn từ” miền núi. Đây cũng là một thủ pháp tạo sức hấp dẫn, gợi liên tưởng về “sự thật” trong tác phẩm. Dấu ấn địa phương còn thể hiện ở phạm vi vùng miền (Bắc – Trung – Nam) với những địa danh quen thuộc. Để tạo được sức thuyết phục, rút ngắn khoảng cách giữa tác phẩm và độc giả, các nhà văn trinh thám thường đưa vào tác phẩm lối nói dung dị, lời ăn tiếng nói đặc trưng vùng miền, sử dụng ngôn ngữ đời thường.

Việc tăng cường ngôn ngữ vùng miền, gắn với đời sống cư dân địa phương không chỉ tạo ra sắc thái độc đáo của truyện trinh thám, mà nó cũng góp phần thay đổi kiểu ngôn ngữ bác học, quy ước, phép tắc trong văn học trung đại, góp phần quan trọng cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.

TIỂU KẾT

Trong chương này, có hai phương diện chủ yếu của nghệ thuật truyện trinh thám được luận án tập trung tìm hiểu là cốt truyện và phương thức trần thuật.

Về cốt truyện, do những điều kiện đặc thù của giai đoạn giao thời nửa đầu thế kỷ XX, cốt truyện đóng vai trò đáng kể trong tác phẩm tự sự. Người đọc có thể kể lại cốt truyện mà ít chú ý đến cách viết của nhà văn. Thực chất, cốt truyện trong truyện trinh thám là sợi dây liên kết các mối quan hệ của nhân vật, cách sắp xếp các sự kiện, các yếu tố nhằm kích thích sự tò mò, hấp dẫn đối với người đọc. Hầu hết cốt truyện đều rõ ràng, những xung đột đầy kịch tính, diễn biến hành động của thám tử theo thi pháp truyền thống, kết thúc rõ ràng, mạch lạc. Đồng thời, cốt truyện trinh thám cũng có sự vận động, thay đổi trên cơ sở sự giao thoa, dung hợp và phát triển của thể loại. Đó là sự xuất hiện của các yếu tố văn hóa, văn học truyền thống; thông qua kiểu truyện mang màu sắc trinh thám ái tình – hành động – võ hiệp, với những dạng thức thô sơ nhất của thể loại truyện trinh thám, trên cơ sở nhà văn đã kết hợp giữa mô hình truyện vụ án của phương Đông với truyện trinh thám phương Tây, giữa yếu tố cũ và mới để tạo ra một kiểu truyện trinh thám đáp ứng thị hiếu của người đọc Việt Nam.

Về nghệ thuật trần thuật, các nhà văn cũng đã thể hiện một sự kết hợp khéo léo các yếu tố như điểm nhìn, vai kể và ngôn ngữ trần thuật. Trong truyện trinh thám, phần lớn điểm nhìn được trao cho nhân vật. Do vậy, cuộc sống và con người ở đây luôn được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, cảm quan khác nhau. Sử dụng ngôi thứ nhất trong tác phẩm là một thể nghiệm khá mới mẻ của các nhà văn trinh thám. Tuy nhiên, các nhà văn đã không “đoạn tuyệt” với vai kể truyền thống; trong khi thể nghiệm sự cách tân bằng lối kể mới, họ vẫn kế thừa lối kể truyền thống. Đối với các truyện mang màu sắc trinh thám - ái tình - nghĩa hiệp, câu chuyện thường được kể ở ngôi thứ ba. Ngôn ngữ trần thuật trong truyện trinh thám Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng trong phương thức biểu hiện, đồng thời nó còn là yếu tố cơ bản thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Trong ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật đã tạo nên giá trị nghệ thuật của tác phẩm thông qua lời đối thoại và độc thoại. Nhờ đối thoại và độc thoại mà các vấn đề trong tác phẩm đặt ra được xem xét dưới những điểm nhìn khác nhau, gây ra những tình huống bất ngờ và tạo cảm giác thực của đời sống đã khúc xạ qua lăng kính nhà văn, nó giữ vai trò đáng kể trong việc khắc họa tính cách nhân vật. Dấu vết của thời đại đã ảnh hưởng và quy định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, nhất là dấu ấn vùng miền. Điểm nổi bật ở đây là sự kế thừa ngôn ngữ văn học truyền thống, đồng thời mô phỏng, tiếp biến ngôn ngữ tự sự hiện đại của phương Tây. Tất cả các yếu tố trên đã góp phần tạo nét riêng của thể loại trinh thám Việt Nam.



tải về 93.31 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương