I. Giới thiệu tổng quan Phạm VI áp dụng


Hình 1: Kiểu nhà màng cửa thông gió cố định 4.3 Tổng quan về



tải về 2.62 Mb.
trang9/14
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2019
Kích2.62 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Hình 1: Kiểu nhà màng cửa thông gió cố định

4.3 Tổng quan về hệ thống tưới nhỏ giọt

Ra đời cách đây khoảng 30 năm, kỹ thuật tưới nhỏ giọt được xem là một phương pháp tưới khoa học, kinh tế do tiết kiệm nước tưới, đã được áp dụng khá phổ biến ở một số nước. Không chỉ trong vườn thí nghiệm, phương pháp tưới nhỏ giọt đã được đưa vào sản xuất trong các nông trại, đặc biệt ở nơi thiếu nước, mang lại lợi tức lớn cho nhà nông. Một trong những nước có kỹ thuật tiên tiến nhất về lĩnh vực này có lẽ là Israel. Phần lớn lãnh thổ quốc gia Trung Đông này là các cao nguyên đá. Có những điểm phải khoan sâu 5-6 km mới có nước phục vụ sinh hoạt và trồng trọt. Vì vậy việc sử dụng nước trong nông nghiệp phải hết sức tiết kiệm. Tuy thiếu nước nhưng Israel có 3/4 diện tích đất nông nghiệp được tưới bón, chỉ đứng sau Hà Lan. Bí quyết của nông dân Israel là phát triển những công nghệ và thiết bị hiện đại như tưới nhỏ giọt. Thiết bị tưới nhỏgiọt điều khiển bằng máy vi tính, tiết kiệm được khối lượng lớn nước, 80% sản phẩm xuất khẩu của Israel có sử dụng công nghệ tưới tiêu này... Ưu điểm nổi trội của hệ thống tưới nhỏgiọt trong nhà kính và ngoài trời của Israel là tưới nước nhỏgiọt vào đúng bộ rễ cây, có thể tưới kèm phân bón, tiết kiệm được 30 - 60% lượng nước và phân bón (Meir Bazelet, 2009).

Bảng 3: Hiệu quả việc áp dung công nghệ tưới nhỏ giọt cho một số loại cây trồng

STT



Cây trồng

Năng suất (tạ/ha)

Lượng nước cấp (m3)

Tưới thường

Tưới nhỏ giọt

Tăng năng suất

Tưới thường

Tưới nhỏ giọt

Tiết kiệm

1

Chuối

575

875

300

176

97

79

2

Nho

264

325

61

53,2

27,8

25,4

3

Mía

1280

1700

420

215

94

121

4

Cà chua

320

400

80

30

18,4

11,6

5

Bông

23

29,5

6,5

89,53

42

47,53

6

Đu đủ

134

234

100

228

73,3

154,7

7

Ớt

42,33

60,88

18,55

109,71

41,77

67,94

8

Khoai lang

42,44

58,88

16,44

63,14

25,20

37,94

Agrawal, 2007

Theo ước tính của FAO (2004), hiện nay hầu như các quốc gia trên thế giới ít nhiều đều áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước. Trong đó công nghệ tưới phun mưa đóng góp một phần không nhỏ trong công tác tưới tiết kiệm nước cho hơn 1.000.000 ha cây trồng trên thế giới. Kỹ thuật tưới nhỏ giọt được sử dụng rộng rãi ở các nước công nghiệp phát triển với những ứng dụng về công nghệ vật liệu, điển hình là Mỹ, Israel, Nhật và Úc. Israel là một trong những quốc gia nổi tiếng trên thế giới về việc nghiên cứu áp dụng thành công và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phát triển các kỹ thuật tưới nhỏ giọt. Khoảng 40% diện tích trồng bông ở Israel (24.000 ha) được tưới bằng kỹ thuật tưới nhỏ giọt.

Theo Wolf và cs (1985), khi áp dụng tưới bằng các phương pháp tưới nhỏ giọt thì năng suất cây trồng tăng lên khoảng 50% và lượng nước tiết kiệm khoảng 40-70% so với các biện pháp tưới thông thường. Kỹ thuật tưới nhỏ giọt (Drip irrigation) là một dạng cơ bản của tưới tiết kiệm nước mà khu vực rễ cây trồng được cung cấp trực tiếp và liên tục dưới dạng các giọt nước từ thiết bị tạo giọt đặt trên mặt đất. Việc thực hiện tưới nhỏ giọt phụ thuộc rất ít vào các yếu tố tự nhiên như địa hình dốc và chia cắt, thành phần và cấu trúc đất, nhiệt độ và đặc biệt là không bị tác động bởi gió như tưới phun mưa. Công nghệ bón phân hòa tan qua hệ thống tưới nhỏ giọt (Drip Fertigation), là công nghệ sử dụng phân bón hiệu quả và tiết kiệm, được sử dụng rộng rãi trên thế giới ở các nước như Mỹ, Nhật, Israel…Khi sử dụng công nghệ này, có thể giúp cây trồng hấp thu phân bón hiệu quả đến 90% so với việc bón phân truyền thống (rải gốc) cây chỉ hấp thu đươc 30-40%

Trong những năm gần đây, nguồn nước ngày càng trở nên khan hiếm nên nhiều nước rất quan tâm đến nghiên cứu và đầu tư công nghệ tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng. Các công nghệ tưới tiết kiệm nước hiện đại phổ biến là kỹ thuật tưới phun mưa, tưới nhỏ giọt và tưới ngầm. Tưới nhỏ giọt là kỹ thuật đưa nước đến gốc cây trồng dưới dạng từng giọt. Khác với phương pháp tưới truyền thống hoặc tưới phun là chỉ làm ẩm phần đất quanh khu vực bộ rễ cây vì vậy tưới nhỏ giọt còn được gọi là tưới cục bộ (vào gốc cây trồng). Đặc điểm của tưới nhỏ giọt là lưu lượng tưới nhỏ, thời gian một lần tưới kéo dài, chu kỳ tưới ngắn, áp lực công tác cần nhỏ, có thể khống chế lượng nước tương đối chính xác, đưa nước và chất dinh dưỡng đến vùng đất quanh rễ cây (Phạm Thị Minh Thư, 2006).



Hình 2: Sơ đồ hệ thống tưới nhỏ giọt (Lê Sâm, 2002)

Theo Lê Sâm (2002), tưới nhỏ giọt là dạng tưới tiết kiệm nước hay còn gọi là vi tưới. Tưới nhỏ giọt đưa nước trực tiếp trên mặt đất đến gốc cây trồng liên tục dưới dạng từng giọt nhờ các thiết bị tưới đặc trưng tạo giọt.Hệ thống thích hợp cho cây trồng trong chậu, trồng ngoài đất ruộng.Các đầu nhỏ giọt đưa nước đến từng chậu cây, nhỏ giọt chính xác tại các vị trí cần thiết.

Nhiều nghiên cứu về tưới cố định cho cây ăn quả ở nước ta cho thấy tiềm năng của hệ thống tưới này là rất lớn (FAO, 2001; Chu Thị Thơm và cs, 2005).Số lượng và tần số tưới tiêu phụ thuộc vào loại đất, điều kiện thời tiết khí hậu đặc biệt là lượng mưa và tuổi của cây. Trong những năm đầu tiên khi cây còn nhỏ với hệ thống rễ không sâu, chúng được tưới với thời gian 2 – 3 ngày/lần trong mùa khô. Đối với cây từ 2 – 5 năm thì cần tưới 4 -5 ngày/lần, và 10 -15 ngày/lần đối với cây 5 – 8 năm tuổi trong mùa khô.

Theo Nguyễn Quang Trung (2008), tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng đã trở nên phổ biến trong điều kiện mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, một số dự án nghiên cứu ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho các loại cây trồng đã được triển khai ở nước ta như mô hình tưới nhỏ giọt cho 1,5 ha rau quả sạch ở Trường cao đẳng kỹ thuật Hà Tây, 65 ha chè ở thị xã Tuyên Quang, 1 ha cây ăn quả ở Núi Cốc, Bắc Thái, 1 ha rau quả của Viện nghiên cứu cây ăn quả ở Gia Lâm, Hà Nội, 3,8 ha trồng cây nho ở Ninh Thuận, 2 ha trồng cây thanh long ở tỉnh Bình Thuận, mô hình tưới nhỏ giọt tại Trung tâm cây giống Phú Hộ - Phú Thọ và 2 ha trồng cây mía ở huyện An Khê tỉnh Gia Lai. Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước ở các nghiên cứu cho các loại cây trồng ở một số địa phương được trình bày ở Bảng 1.3. Lợi nhuận cao chứng tỏ hiệu quả kinh tế của các mô hình ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao.

Bảng 4: Hiệu quả kinh tế của việc áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước cho

một số loại cây trồng ở nước ta


STT

Công nghệ tưới

Loại cây trồng

Địa phương

Năm áp dụng

Lợi nhuận cho 1 hecta (đồng)

1

Tưới nhỏ giọt

Cây Nho

Ninh Thuận

2007 - 2008

9.900.000

2

Tưới nhỏ giọt

Cây Mía

Gia Lai

2006 - 2007

27.101.500

3

Tưới dí

Cây Dứa

Hòa Bình

2006 - 2007

58.090.000

4

Tưới phun

Cây Bưởi Năm roi

Vĩnh Long

2007- 2008

190.000.000

Nguyễn Quang Trung, 2008


5. Nguồn gốc của mô hình

Báo cáo 1: “So sánh 10 giống ớt sừng và nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng ớt trong nhà màng áp dụng phương pháp tưới nhỏ giọt”.

Báo cáo 2: Kết quả thử nghiệm giá thể và dinh dưỡng ớt cay trồng trong điều kiện nhà màng

Báo cáo 3: Mô hình sản xuất thử nghiệm trồng ớt hiểm (Capsicum frustescens L.) trên giá thể trong nhà màng áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao.



II. Quy trình kỹ thuật

1. Bước 1: Chọn giống

Tùy theo điều kiện và nhu cầu của thị trường có thể chọn giống ớt cay có hình thức, chất lượng phù hợp.



Bảng 1: Giống ớt thường sử dụng trồng

Tên giống

Thời gian sinh trưởng (tháng)

Năng suất (kg/cây)

Năng suất (tấn/ha)

Nguồn gốc

Ớt hiểm lai F1 207

5 - 6

1 – 1,2

13 - 15

Công ty East-West seed

Ớt hiểm Chánh phong 01

5 - 6

1,2 – 1,8

14 - 17

Công ty Chánh Phong

Ớt hiểm Chánh phong 131

5 - 6

1,2 – 1,8

14 - 17

Công ty Chánh Phong

ớt sừng Trung Nông

5 - 6

1 – 1,5

14 - 16

Công ty Trung Nông

Ớt sừng Trang Nông 447

5 - 6

1,5 – 2,0

16 - 20

Công ty Trang Nông



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương