I. Giới thiệu tổng quan Phạm VI áp dụng



tải về 2.62 Mb.
trang1/14
Chuyển đổi dữ liệu25.11.2019
Kích2.62 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


I. Giới thiệu tổng quan

1. Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho tất cả các vùng trồng ớt cay trong nhà màng trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Tây Ninh và các tỉnh khác có điều kiện tự nhiên tương tự.

2. Đối tượng áp dụng: Cây ớt cay

3. Các yêu cầu của mô hình

3.1 Yêu cầu về nhà màng

Nhà màng được thiết kế với nhiều kiểu khác nhau: Kiểu nhà kính, nhà màng kiểu cổ điển, nhà màng kiểu răng cưa, kiểu mái vòm, kiểu hình ống, nhà lưới,...Tuy nhiên cần đảm bảo các điều kiện như: độ truyền sáng từ 85 - 90%; quy cách: độ cao cột (chiều cao từ mặt đất đến máng xối) từ 4 - 4,75m, khẩu độ mỗi gian nhà là 8m, cột cách cột (bước cột) là 4m. Với mái được lợp bằng màng Polymer (dày 150 micron) và vách xung quanh được che bằng lưới chắn côn trùng dày 50 mesh.



3.2 Yêu cầu về kết cấu hệ thống tưới nhỏ giọt

Vật liệu cần có

- Nguồn nước mặt hoặc nước ngầm.

- Một máy bơm thông thường động cơ điện hay dầu, xăng, có khả năng bơm nước lên độ cao 3,5 m. Có thể lắp thêm rơle tự đóng mở (đối với hệ thống bơm điện để tự động bơm nước vào bồn).

- Ống nhựa PVC cứng đường kính 30-40 hay 60 mm làm ống dẫn nước chính và loại đường kính 16-21 hay 26 mm làm ống dẫn phụ.

- Các phụ kiện lắp ráp hệ thống ống gồm các co, khúc nối thẳng, khúc nối chữ T, khúc nối giảm đường kính ống, ống van cánh bướm và keo để dán các khúc nối.

- Ống nhựa dẻo đường kính 16 mm và một trong những loại vòi phun tia li tâm, phun tia cố định, nhỏ giọt. Có thể chế đầu nhỏ giọt bằng ống và van của hệ thống truyền “nước biển” dùng trong y tế.



Bảo quản và vận hành

- Tất cả đường ống chính và phụ cần được chôn sâu 20-30 cm để kéo dài tuổi thọ của ống, đoạn cuối của ống nhánh cũng cần được che phủ tránh nắng và rêu phát triển trong ống.

- Thường xuyên giặt rửa lưới lọc nước trên bồn.

- Sau mùa tưới, mở khóa đầu các ống nhánh, xả bỏ cặn toàn bộ hệ thống.



4. Tổng quan ở Việt Nam, thế giới và tại TPHCM

4.1.Tổng quan về ớt cay

4.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố

Ớt cay (Capsicum frutescens L.) thuộc bộ Solanales, họ cà Solanaceae. Cây ớt có nguồn gốc từ Mexico, Trung và Nam Mỹ. Ớt được gieo trồng phổ biến từ vùng Địa Trung Hải đến nước Anh năm 1548 và đến Trung Âu vào cuối thế kỷ thứ 16. Sau đó, người Bồ Đào Nha mang ớt từ Brazin đến Ấn Độ năm 1885 và việc trồng ớt được biết đến ở Trung Quốc khoảng cuối năm 1700, ớt được nhập vào Triều Tiên khoảng cuối thế kỷ 17 (Mai Thị Phương Anh, 1999).



4.1.2 Đặc điểm thực vật học

Thân: Ớt là cây thân gỗ 2 lá mầm, thân thường mọc thẳng, nhiều cành, chiều cao trung bình 0,5-1,5 m.

Rễ: Ớt có rễ cọc phát triển mạnh với nhiều rễ phụ.

Lá: Lá đơn, mọc xoắn trên thân chính, lá thường mỏng có kích thước trung bình 1,5-1,2 x 0,5-7,5 cm.

Hoa: Hoa thường được tạo đơn độc trên từng nách lá. Hoa có thể mọc đứng hoặc buông thõng. Trên cuốn hoa thường không có li tầng.

Quả: Quả mọng, có rất nhiều hạt với thịt nhãn và chia làm nhiều ngăn (Mai Thị Phương Anh, 1999).

4.1.3 Đặc điểm sinh thái

Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, số hoa, tỷ lệ đậu trái. Nhiệt độ ban đêm thấp khoảng 8 - 150C thường làm giảm tỷ lệ đậu trái và sinh trái không hạt, nhiệt độ ban đêm thích hợp nhất là 200C. Ớt cay thích nhiệt độ cao hơn dao động 20 - 300C, còn ớt ngọt thích hợp nhiệt độ khoảng 20 - 250C.

Ánh sáng: Tuy ớt là cây không mẫn cảm nhiều với ánh sáng nhưng cây ớt ưa ánh sáng ngày ngắn, nếu chiếu sáng 9 - 10 giờ sẽ kích thích sinh trưởng, làm tăng sản phẩm từ 21 - 24% và tăng chất lượng trái. Trời âm u sẽ hạn chế sự đậu trái, giảm năng suất và chất lượng sản phẩm.

Độ ẩm: Ớt là cây chịu hạn, ẩm độ đất thấp không ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái nhưng tăng tỷ lệ rụng trái. Tốt nhất duy trì ẩm độ đồng ruộng khoảng 70 - 80%, nếu ẩm độ quá cao rễ sinh trưởng kém, cây còi cọc (Mai Thị Phương Anh, 1999).


4.1.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt

4.1.4.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt trên thế giới

Vào năm 2003, kim ngạch nhập khẩu rau tươi của các nước EU đến gần 9,2 tỷ Euro/10,4 triệu tấn. đáng chú ý là một số lượng ớt khá lớn được nhập vào EU. Nhập khẩu ớt ở các nước EU lên tới hơn 1,3 tỷ EU/865 ngàn tấn vào năm 2003. Đức là nước EU nhập khẩu nhiều ớt nhất, chiếm 34% kim ngạch nhập khẩu của EU năm 2003, tiếp theo là Anh (16%), Pháp (11%) và Hà Lan (6%) (Huỳnh Thị Thúy Oanh, 2010).

Theo tổ chức Nông lương thế giới (FAOSTART) cây ớt được xem là một trong số những cây trồng quan trọng ở các vùng nhiệt đới. Năm 2003, diện tích trồng ớt trên thế giới vào khoảng 1.700.000 ha cho mục đích lấy quả tươi và khoảng 1.800.000 ha để làm ớt khô. Năm 2009, diện tích ớt trên toàn thế giới là 1,81 triệu ha cho mục đích lấy quả tươi, với sản lượng 28,07 triệu tân. Diện tích sản xuất ớt khô 1,91 triệu ha, với sản lượng 31,38 triệu tấn. Các nước nhập khẩu và xuất khẩu ớt quan trọng nhất bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Mexico, Pakistan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ (Nguyễn Thanh Phong, 2011).

Bảng 1: Thống kê sản xuất ớt trên thế giới giai đoạn 2005 - 2009



Chỉ tiêu

2005

2006

2007

2008

2009

Diện tích (nghìn ha)

1765,60

1774,94

1778,68

1786,60

1814,94

Năng suất(tấn/ha)

14,29

14,99

15,43

15,68

15,47

Sản lượng (nghìn tấn)

25228,35

26598,00

27450,24

28012,54

28070,85

(Nguồn: FAOSTAT Database, tháng10/2011)

Ở các quốc gia châu Á, ớt chiếm 60% tổng diện tích và 65% tổng sản lượng ớt tươi của thế giới. Trong đó, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia chiếm khoảng 87% diện tích sản xuất và 93% tổng sản lượng và 58% giá trị sản xuất ớt ở khu vực này (Mai Hải Châu, 2010).

Hàn Quốc với món ăn truyền thống là “Kim chi”, ớt là thành phần
không thể thiếu được. Ớt là loại rau chủ lực của nước này chiếm 60% diện
tích trồng rau và 40% tổng sản lượng. Hàng năm Hàn Quốc nhập khẩu từ
12,000-15,000 tấn ớt, lượng ớt nhập khẩu của nước này không lớn, cao nhất
là 53,000 tấn vào năm 2003 (Nguyễn Thị Giang, 2005).

Khu vực Đông Nam Á, Indonesia và Thái Lan là hai nước xuất khẩu


lớn nhất, Indonesia có diện tích trồng ớt lớn, sản lƣợng ổn định cao nhất vào
năm 2011 đạt 1,9 triệu tấn. Singapo là nước nhập khẩu ớt lớn nhất Đông Nam
Á với mức nhập khẩu hàng năm trên dưới 10.000 tấn, chiếm 96% (năm 2007) lượng nhập của cả Đông Nam Á (Trần Khắc Thi, 2008).

Hiện nay, Ấn Độ là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 25% tổng
sản lượng toàn cầu, tiếp theo là Trung Quốc 24%, Tây Ban Nha 17%, Mexico
8%. Các nước nhập khẩu lớn nhất thế giới là các Tiểu vương quốc Ả Rập
Thống Nhất (UAE), liên minh Châu Âu (EU), Sri Lanca, Nhật Bản, Hàn
Quốc. Trao đổi thương mại về ớt chiếm gần 16% tổng sản phẩm gia vị, đứng
vị trí thứ hai sau hồ tiêu (Bùi Thị Oanh, 2010).


Nhìn chung, ớt được thương mại hóa trên toàn thế giới, đối với các
nước đang phát triển thì mặc dù ớt chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất hàng
hóa nhưng là nguồn thu nhập đáng kể (Bosland P.W and Votava, 2000)[17].

4.1.4.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ớt ở Việt Nam

Ở nước ta, ớt thường được gieo trồng vào 2 vụ chính là: Vụ đông xuân, gieo hạt từ tháng 10 đến tháng 2, trồng vào tháng 1-2 và thu hoạch vào tháng 4-5. Vụ đông: gieo hạt tháng 6-7, trồng tháng 8-9, thu tháng 1-2. Ngoài ra, có thể trồng ớt trong vụ xuân hè: gieo hạt tháng 2-3, trồng tháng 3-4, thu hoạch vào tháng 7-8 (Nguyễn Văn Thắng và Trần Khắc Thi, 1996).

Mặc dù cây ớt ở nước ta trồng từ lâu đời nhưng chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị), vùng ven đô, khu vực đông dân cư (Hà Nội, Thái Bình, Hải Hưng, Vĩnh Phúc,…). Vùng chuyên ớt đã được hình thành ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, diện tích ớt có thể mở rộng ra ở đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây Nam Bộ (Trần Khắc Thi, 1985).

Theo thống kê của FAOSTAT năm 2007, tổng diện tích sản xuất ớt cay ở Việt Nam là 51 nghìn ha với sản lượng là 314 nghìn tấn. Năng suất bình quân là 6,16 tấn/ha và đem lại kim ngạch xuất khẩu 36,297 triệu đô la (Mai Hải Châu, 2010).

Bảng 2: Tình hình sản xuất ớt tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2009


Chỉ tiêu

2005

2006

2007

2008

2009

Diện tích (nghìn ha)

55,51

57,06

57,90

59,73

62,41

Năng suất ớt khô (tấn/ha)

1,55

1,48

1,65

1,76

1,81

Sản lượng ớt khô (nghìn tấn)

85,88

84,38

95,51

105,13

112,94

(Nguồn: FAOSTAT Database, tháng 10/2011)

Trước đây, hàng năm nước ta xuất khẩu sang Liên Xô khoảng 4500 tấn ớt bột, những năm gần đây một số công ty của Đài Loan đã ký hợp đồng mua ớt cay tươi hoặc muối chua của Việt Nam. Năm 2007, Trung Quốc, Singapores, Ấn Độ là những thị trường nhập khẩu ớt chủ yếu của nước ta. Giá nhập khẩu ớt khô của nước ta tăng rất mạnh, nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc từ 1800 – 3280 USD/tấn, nhập sang thị trường Singapores và Ấn Độ khoảng 350 USD/tấn (Nguyễn Phúc, 2008).



4.1.5 Tình hình nghiên cứu về kỹ thuật canh tác

4.1.5.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống ớt

Đánh giá tính tương thích của phép lai giữa 2 loài C. chinense và C. annuum và khả năng tạo quả, tỷ lệ nảy mầm của các con lai, Lucifrancy Vilagelim Costa và cs (2009) kết luận rằng: nếu chọn giống C. annuum làm cá thể mẹ, giống C. chinense làm cá thể bố thì tỷ lệ tạo quả ở 2 lần thí nghiệm lần lược là 8,9 và 40%. Tỷ lệ nảy mầm từ hạt của các con lai ở lần 1 dao động từ 0-45,3%, ở lần 2 dao động từ 0-87,5%. Như vậy, lai tạo giữa 2 loài C. chinense và C. annuum là điều có thể thực hiện được.

Trong những năm gần đây, những người thích ớt đã dùng các phương pháp lai tạo truyền thống để làm tăng lượng capsaicin - hợp chất gây ra độ cay nóng của ớt nhằm tạo ra những giống ớt cay hơn. Một số giống lai thành công có thể kể đến như giống Carolina Reaper và Trinidad Moruga Scorpion có độ cay gấp 100.000 lần ớt bình thường (Mai Nguyễn, 2014).

Nghiên cứu tập đoàn giống ớt cay (Capsicum annuum spp.) nhập nội trong vụ Đông - Xuân 2001 - 2002 tại Thừa Thiên Huế của Trương Thị Hồng Hải (2002) được thực hiện trên 33 dòng giống ớt cay nhập nội và một giống Chìa Vôi địa phương làm đối chứng. Trong các dòng giống ớt cay nhập nội có 19 dòng giống được thu thập từ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu Á (CA36, CA102, CA201, CA802, CA48, CA17, CA90, CA91, CA78, PBC535, PBC 161, PBC308, 9852-193, 99-9644, 9852-190, 99-9623, 99-9129, 99-9126, 99-9195-1), 10 giống được thu thập từ Viện Rau quả Gia Lâm, Hà Nội (PVR9225, PVR9242, PVR11, PVR6, PVR9, PVR9L43, PNC12, 70TL1, MC11, AMC1), 2 giống được thu thập tại trường Đại học Nông Lâm Huế (DH5, DH2) và 2 giống được thu thập từ phòng Nông nghiệp Can Lộc, Hà Tĩnh (Thiên Lộc 1, Thiên Lộc 2). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chiều cao cây biến động trong khoảng 28,29 cm đếm 67,14 cm. Giống cao nhất là CA91 (67,14 cm) và đa số các giống có chiều cao trung bình 45 cm. Hầu hết các giống có bản lá hình lưỡi mác, một số giống có dạng lá hình trứng ngược, chỉ có giống CA17 có dạng tam giác. Đại bộ phận các giống có hoa màu trắng, chỉ có giống CA78 có màu trắng tía. Các giống có dạng quả dài, riêng giống CA78 có quả hình tam giác. Giống có quả to nhất là CA17 với trọng lượng trung bình của quả là 17,08 g. Năng suất cao nhất thuộc giống CA201 (11,61 tấn/ha). Giống CA91 sinh trưởng mạnh nhất. Giống CA480 có dạng quả đẹp, cay, ăn ngon, có hương thơm và cho năng suất cao nếu được chăm bón tốt. Giống CA201 cho năng suất cao nhưng bị nhiễm bệnh thán thư nặng. Các giống CA480, PBC535, PVR11, 9852-193 và CA17 có tính chống chịu cao, có thể dùng làm vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống.

Trần Khắc Thi (2010) đã chọn tạo được 2 giống ớt: F1 HB9 và F1 HB14, hiện 2 giống ớt này được Bộ Nông nghiệp-PTNT công nhận là giống tạm thời và cho phép đưa vào sản xuất thử nghiệm. Giống HB9 có thời gian sinh trưởng từ 160-170 ngày, cây cao 65-85cm. HB9 ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, hơi cong ở đuôi. Khối lượng quả bình quân đạt 13-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay khá, số quả trên cây đạt 55-75 quả, năng suất trung bình đạt 20-23 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá. Giống ớt cay lai F1 HB9 có thể trồng được 2 vụ/năm: Vụ xuân hè và vụ thu đông. Giống ớt cay lai F1 HB14: Cây HB14 cao 60-70cm, tán gọn, phần đuôi quả hơi cong, ra quả tập trung, rủ xuống đất (chỉ địa), quả dài 14-16cm, thẳng. Khối lượng bình quân đạt 14-16g, tỷ lệ thịt quả đạt 81-85%, tỷ lệ chất khô đạt 12-14%, độ cay trung bình. Bình quân một cây cho khoảng 65-85 quả, năng suất bình quân đạt 20-25 tấn/ha, khả năng chống bệnh thán thư khá. Có thể trồng 2 vụ/năm như giống HB9.

Qua nghiên cứu, tuyển chọn 14 giống ớt cay (Capsium frutescens. L) gồm: 7 giống ớt chỉ thiên và 7 giống ớt chỉ địa, sau 3 vụ trồng cho thấy, giống ớt thích hợp với điều kiện lập địa vùng đồng bằng Nam Trung Bộ, cây sinh trưởng phát triển khá tốt, có khả năng kháng sâu bệnh và cho năng suất khá cao, đó là:

+ Ớt chỉ thiên: Giống F1207 năng suất đạt 18,19 tấn/ha.

+ Ớt chỉ địa: 2 giống là Hot chilli đạt 30,2 tấn/ha và gống F1 - 20 đạt 28,4 tấn/ha (Trần Minh Hải, 2012).

Các cán bộ khoa học Bộ môn Nghiên cứu cây rau thuộc Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam đã lai tạo thành công và đưa ra phục vụ sản xuất đại trà giống ớt lai mang tên Long Định 3. Cây có dạng hình sinh trưởng vô hạn, chiều cao trung bình 95cm ở vụ đông xuân và 67cm ở vụ hè thu, phân nhiều cành nhánh, thời gian cho thu hoạch kéo dài là những yếu tố cấu thành tạo nên năng suất cao. Ớt lai Long Định 3 sớm cho quả, thu hoạch lứa đầu 65-67 ngày sau trồng ở vụ đông xuân và 70-72 ngày ở vụ hè thu. Đây là giống ớt chỉ địa, trái lớn trung bình nặng 16g, dài trái 14cm, đường kính 1,9cm, trước khi chín có màu vàng chanh rồi dần chuyển sang đỏ tươi khi chín, mặt ngoài trái láng bóng, có độ cay vừa phải. Số lượng trái trên cây đạt bình quân 50-70, năng suất trung bình đạt 45-50 tấn/ha. Giống ớt lai F1 Long Định 3 có khả năng chống chịu tốt với nhiều đối tượng sâu bệnh hại, đặc biệt rất ít bị nhiễm bệnh xoăn lá do virus.

4.1.5.2 Mật độ trồng

Theo George và Anthony (1994), khi nghiên cứu ảnh hưởng tỷ lệ N và mật độ trồng trên cây ớt trong nhà kính. Tỷ lệ N được sử dụng là 160, 240, 320 ppm và mật độ 12.445; 18.670; 24.890 cây/ha. Qua một năm theo dõi cho thấy, sự tích lũy chất khô, diện tích lá và sự hấp thu N giảm khi tăng mật độ trồng. Khi tăng mật độ làm tăng năng suất quả nhưng năng suất quả giảm khi tăng N. Khi sử dụng 160 ppm N ở mật độ 24.890 cây/ha cho kết quả tốt nhất, trọng lượng quả cao nhất (651 g).

Theo Lorenzo và Castilla (1995), khi nghiên cứu ảnh hưởng mật độ đến chất lượng và năng suất ớt. Thí nghiệm được tiến hành trên mật độ 2 cây/m2 thu được 4,78 kg/m2. Ở mật độ 3,2 cây/m2 thu được 6,13 kg/m2.

Theo Jollife và Gaye (1995), khi nghiên cứu về mật độ và kỹ thuật cắt tỉa ớt trồng trong nhà kính tại Trạm nghiên cứu Nông nghiệp Canada, cây ớt (Ace Lai) được cấy vào hàng đôi (0,45 m) ở 5 mật độ 1,39; 1,85, 2,78; 5,56 và 11,1 cây/m2. Kết quả cho thấy, khi mật độ tăng từ 1,39 - 5,56 cây/m2 làm tăng năng suất ớt, và năng suất lớn nhất là 7,9 kg/m2 ở mật độ cao nhất. Tuy nhiên, kích thước quả nhỏ hơn nhưng chất lượng không có sự khác biệt.

Theo Cebula (1995), trồng ớt trong nhà kính với mật độ 1,8 – 8 cây/m2 và được cắt tỉa còn 4 nhánh. Kết quả cho thấy, ở mật độ 3 – 4 cây/m2 cho kết quả tốt nhất ở chất lượng sản phẩm và năng suất tăng so với các mật độ khác khi không được cắt tỉa.

Năng suất và chất lượng quả tăng lên khi quản lý tốt mật độ trồng và kỹ thuật cắt tỉa cành ớt ngọt trong nhà kính. Theo Elio và cvt (1998), nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ : 2, 3, 4 cây/m2 (tương đương khoảng cách cây trong hàng là 66,5 ; 44,3 ; 33,3 cm) và cắt tỉa để 1, 2, 4 cành chính trên cây ớt trong mùa hè năm 1998 tại Gainesville, Florida. Cây được trồng trong túi đá trân châu và tưới bằng một dung dịch dinh dưỡng. Trái cây màu đỏ được thu hoạch 84 và 118 ngày sau khi trồng. Kết quả cho thấy, số lượng và trọng lượng quả/m2 tăng khi tăng mật độ cây và lớn nhất khi cắt tỉa để lại 4 cành chính (trọng lượng quả 547,7 g/cây). Số lượng và trọng lượng khô của lá, đường kính thân cây tăng khi giảm mật độ cây trồng.



Mật độ trồng ớt phù hợp trong nhà kính phụ thuộc vào kích thước của hệ thống máng trồng được bố trí trong đó. Tuy nhiên theo nghiên cứu thì trong điều kiện mùa hè cường độ ánh sáng mạnh thì mật độ trồng tối ưu của giống ớt 1 thân chính là 7 - 8 cây/m2 và 6 cây/m2 vào mùa có cường độ ánh sáng yếu. Giống phổ biến có 2 thân chính thì mật độ được khuyến khích trồng là 3 - 4 cây/m2 (Elly Nederhoff, 1998).

Jovicich và cs (2004), nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ớt trồng trên nền đá trân châu trồng trong nhà kính, kết quả cho thấy: tăng mật độ từ 1,5 – 3,8 cây/m2 sẽ cho năng suất tăng từ 3,5 – 7,4 kg/m2, ngoài ra, không làm giảm chất lượng quả ớt.

Mật độ khoảng cách trồng ớt ngoài đồng ruộng phụ thuộc vào hệ thống tưới tiêu và áp dụng cơ khí trong chăm sóc và thu hoạch. Tại Perth, khoảng cách tốt nhất được khuyến cáo là hàng cách hàng là 75 cm (trồng 2 hàng/luống) và khoảng cách cây - cây là 40 cm tương đương 30.000 cây/ha. Tại Camarvon, khoảng cách giữa các cây trong 1 hàng và giữa 2 hàng trên luống là 40 cm, lối đi rộng 30 cm, khoảng cách giữa tâm 2 luống là 1,5 m. Khoảng cách rộng sẽ cho thu hoạch trong thời gian dài, trong khi đó khoảng cách ngắn hơn sẽ cho năng suất cao trong một thời gian ngắn và thụ phấn tốt trong thời kỳ nóng ( Burt, 2005).

Đối với ớt hiểm trọng lượng quả và năng suất (tấn/ha) chịu ảnh hưởng bởi khoảng cách giữa hai hàng trong 1 hàng đôi và khoảng cách giữa hai luống trồng. Năng suất quả đạt cao nhất ở khoảng cách hàng cách hàng là 30 cm và luống cách luống là 90 cm (Idowu, 2006).

Theo Danut và cs (2010), nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và kỹ thuật cắt tỉa đến chất lượng ớt trồng trong nhà màng. Thí nghiệm trên 2 mật độ là 30.000 cây và 40.000 cây/ha và cắt tỉa 2 nhánh và 3 nhánh. Kết quả cho thấy, khi trồng ở mật độ 40.000 cây/ha ở cắt tỉa 3 nhánh cho kết quả tốt hơn khi trồng ở mật độ 30.000 cây/ha về năng suất (3,71 kg/m2), chất lượng ớt tăng.

Theo Mai Thị Phương Anh (1999), ớt cay lên liếp cao khoảng 20 - 30 cm; rộng 1,2 - 1,3 m; mặt liếp rộng 1m. Mối liếp trồng 2 hàng ớt, hàng cách hàng 55 - 60 cm, cây cách cây khoảng 40 - 45 cm. Riêng ruộng sản xuất hạt giống nên trồng khoảng cách giữa hai cây là 50 - 55 cm. Ớt ngọt có tán nhỏ hơn ớt cay nên lên líp rộng 1,3 - 1,4 m; mỗi liếp trồng hai hàng ớt với khoảng cách 60 x 30 - 35 cm.

Theo Mai Văn Quyền và cs (2000), nếu trồng ớt sừng trâu nên trồng theo hàng kép sao cho khoảng cách giữa các cây là 50 x 50 cm, để có mật độ khoảng 30.000 – 33.000 cây/ha.

Theo Ngô Quang Vinh và cs (2002) thì vào mùa nắng (mùa khô) nên trồng ớt hàng đôi cách hàng đôi từ 1,2 - 1,4 m, hàng cách hàng của hàng đôi 0,5 m, cây cách cây trên hàng 0,5 m. Mật độ cây trung bình khoảng 2.000 – 2.100 cây/1000 m2. Mùa mưa thì nên trồng hàng đơn, hàng cách hàng từ 1 - 1,2 m, cây cách cây trên hàng 0,5 m. Mật độ trung bình từ 1.666 – 2.000 cây/m2.

Đối với ớt cay lên liếp rộng 1m, trồng mỗi liếp trồng hai hàng, khoảng cách giữa các hàng là 60 cm, khoảng cách giữa các cây là 40 - 50 cm (Đường Hồng Dật, 2002).

Theo Vũ Thi Quỳnh (2012), khoảng cách thích hợp nhất đối với 2 giống ớt sừng Trang Nông và Trang Nông 447 là 50 x 120 cm, tương đương với mật độ 20.000 cây/ha.



4.1.5.3 Chế độ tưới

Ảnh hưởng của các cấp độ tưới khác nhau lên số quả, khối lượng và năng suất quả khô trên cây ớt cay trong điều kiện thiếu nước đã được Cafer và cs (2006) nghiên cứu. Kết quả cho thấy, tình trạng khan hiếm nước ảnh hưởng đáng kể đến số quả, khối lượng và năng suất quả khô. Cụ thể, nếu giảm lượng nước từ 913,4 đến 295,7 mm nước (913,4 mm là lượng nước đủ cho cây phát triển bình thường) thì số quả/cây giảm từ 46 đến 14,5 quả, khối lượng khô giảm từ 0,9 đến 0,55 g/quả, năng suất giảm từ 1358 đến 284 kg/ha. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khi nguồn nước khan hiếm, ớt cũng có thể tưới ở cấp độ thấp hơn khi xem xét đến hiệu quả kinh tế.

Theo Huo và cs (2008), trên cây ớt cay, chiều cao cây, đường kính thân, tốc độ quang hợp, tốc độ bốc thoát hơi nước đều tăng đáng kể khi tăng lượng nước tưới. Ở giai đoạn cây con, lượng nước tưới ảnh hưởng không đáng kể đến tốc độ sinh trưởng của cây. Ở giai đoạn ra hoa và tạo quả, lượng nước tưới bằng 80% độ ẩm của đất thì tốt cho sự tăng trưởng của cây và nếu lượng nước tưới bằng 70% độ ẩm của đất thì có lợi trong việc tiết kiệm nước và tăng năng suất cây trồng.

Kết hợp thử nghiệm trên hai khoảng cách (hàng cách hàng : 0,45 m và 0,7 m) và 3 chế độ nước tưới (dựa trên lượng tiêu hao của lượng nước có sẳn để cây trồng phát triển bình thường là 25D: 20-25%, 55D: 50-55%, 75D: 70-75%) trên cây ớt hiểm, Yibekal Alemayehu Abebe và cs (2009) kết luận rằng: năng suất quả tươi tăng 66 % và năng suất quả khô tăng 51% khi cây trồng ở khoảng cách 0,45 m so với 0,7 m. Tương tự, năng suất quả tươi tăng 40% và năng suất quả khô tăng 46% ở chế độ tưới 25D so với 75D. Số quả trên cây tăng đáng kể từ 70-100 ở chế độ tưới giảm từ 75D đến 25D. Hệ số sử dụng nước cao nhất ở khoảng cách hàng là 0,45m và ở chế độ tưới là 75D, thấp nhất ở khoảng cách 0,7 m và chế độ tưới là 55D.

Khoảng cách tưới và liều lượng tưới ảnh hưởng đến năng suất của cây ớt. Năng suất ớt đạt tối đa (35920 kg/ha) ở khoảng cách tưới là IF= 20±2 mm + liều lượng tưới là ID=1,00 và thấp nhất (21390 kg/ha) ở khoảng cách tưới là IF= 60±2 mm + liều lượng tưới là ID=0,5. Khi giảm lượng nước tưới cùng với mỗi khảng cách tưới thì năng suất giảm. Ở khoảng cách tưới lớn nhất (IF=60±2) , năng suất thấp hơn ở tất cả các liều lượng tưới (Metin Sezen, 2011).

Hiệu quả sử dụng nước lên sự phát triển và năng suất của giống ớt cay được Tarawalie Ismail Foday và cs (2012) nghiên cứu. Thí nghiệm gồm 3 lịch trình tưới là 30%, 50% và 100% ETo (lượng bốc thoát hơi), 9 liều lượng nước tưới trong 4 giai đoạn sinh trưởng của cây: giai đoạn cây con và sinh trưởng, giai đoạn ra hoa và hình thành quả, giai đoạn ra quả rộ, giai đoạn sắp thu hoạch. Kết quả thí nghiệm cho thấy, ở lịch trình tưới 50% ETo với tổng lượng nước tưới là (0,00961714 m3) cho năng suất (3501 g/cây) cao nhất so với tổng lượng nước tưới đối chứng (0,0116325 m3) với năng suất là 2982 g/cây, năng suất (1239 g/cây) thấp nhất ghi nhận tổng lượng nước tưới 0,01106679 m3.



4.1.5.4 Giá thể trồng

Giá thể trồng cũng có rất nhiều loại nhưng hầu hết được phối trộn từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: trấu hun, xơ dừa, mùn cưa, cát, bột đá … Tuy nhiên, giá thể tạo ra phải có độ thông thoáng và có khả năng giữ nước tốt.

Ở các nước đang phát triển, hỗn hợp đặc biệt gồm đá trân châu, than bùn có sẵn ở dạng sử dụng được cung cấp ngay cho mục đích thay thế cho đất.Các trang trại thâm canh chủ yếu ở các nước đang phát triển thiên về nhập khẩu những hỗn hợp không phải là đất này không có khả năng khai thác việc sử dụng vật liệu có sẵn ở địa phương. Thực tế, môi trường nhiệt đới có rất nhiều vật liệu có thể sử dụng pha chế hỗn hợp bầu trong vườn ươm. Hỗn hợp bầu trong vườn ươm cần bảo đảm khả năng giữ nước và làm thoáng khí, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, sạch bệnh. Hỗn hợp bầu vườn ươm được sử dụng có rất nhiều công thức phối trộn, dựa vào khả năng có sẳn của vật liệu có tỷ lệ 1:1:1 là cát rây + đất vườn + phân hữu cơ; đất vườn + bột xơ dừa + phân hữu cơ hay đất vườn + phân chuồng + bột xơ dừa.

Chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loại giá thể. Nhờ vào kỹ thuật công nghệ mà làm tăng chất lượng cây và giảm thời gian sản xuất. Cho thấy lợi nhuận của việc sử dụng giá thể trên vùng đất nghèo dinh dưỡng làm tăng độ màu mỡ của đất tăng thêm lượng đạm trong đất và làm tăng năng suất rau. Trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu Á khuyến cáo sử dụng rêu than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con. Ví dụ: đối với ớt, sử dụng 3 phần than bùn + 1 phần chất khoáng. Hỗn hợp đặc biệt bao gồm đất + rêu than bùn + phân chuồng. Trấu hung và trấu đốt cũng được sử dụng như thành phần của hỗn hợp. Masstalerz (1997) cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm mùn sét, mùn cát sét và mùn cát có tỉ lệ 1:2:2, 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Cho thêm 5,5 – 7,7 g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g supe photphat cho 1 đơn vị thể tích. Bunt (1965) sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích) 1 than bùn rêu nước + 1 cát + 2,4kg/m3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây; 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập, khỏe.

Trước đây, giá thể trồng chủ yếu là cát hoặc sỏi. Ngày nay giá thể đã được thay đổi rất nhiều. Như chúng ta đã biết, cây cần cả oxy và dinh dưỡng tiếp xúc với rễ cây, giá thể lý tưởng là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữa nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ không chứa được nhiều nước và oxy. Ngược lại, sỏi thô tạo ra những khoảng trống quá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh.

* Giá thể lý tưởng có những đặc điểm:

- Có khả năng giữ ẩm tốt cũng như độ thoáng khí.

- Có pH trung tính và có khả năng ổn định pH.

- Thấm nước dễ dàng.

- Bền, có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy an toàn cho môi trường.

- Nhẹ, rẻ và thông dụng.

Giá thể có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, sỏi vụn, đất nung xốp, đá trân châu, đá bọt núi lửa, rockwool (loại vật liệu có nhiều sợi, rất được các trang trại lớn ở nước ngoài ưa chuộng),… Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại.

Sau nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu, Lệ Thị Khánh, Trưởng bộ môn Khoa học nghề vườn thuộc khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm Huế đã trồng thử nghiệm rau sạch trên giá thể thành công. Đây là mô hình trồng rau sạch đầu tiên tại Thừa Thiên Huế nói riêng và miền Trung nói chung, mở ra nhiều hướng phát triển mới cho nông nghiệp. Hiện nay, Tiến sĩ Lê Thị Khánh đã thành công trong việc tạo ra giá thể bằng trấu hun, mùn cưa, vỏ lạc ủ, đầu tôm ủ, rơm sau khi đã trồng nấm. Đây là những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, không mất tiền mua, lại giải quyết được vấn đề vệ sinh môi trường.Điều đặc biệt giá thể sau thời gian nuôi rau sạch (khoảng 3-4 năm) trong nhà lưới có thể dùng vào việc bón phân cho cây cảnh.

Cũng sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng nhiều mô hình trên diện rộng thành công, mới đây Trung tâm nghiên cứu phân bón và dinh dưỡng cây trồng trực thuộc Viện Thổ Nhưỡng Nông hóa đưa ra khuyến cáo bà con nông dân và các hộ gia đình ở thành phố áp dụng kĩ thuật trồng rau an toàn trên nên giá thể GT05. GT05 là giá thể sinh học không đất, có hàm lượng chất hữu cơ (OM) và dinh dưỡng cao: 44% chất hữu cơ (OM), 1,2% đạm (N), 0,8% lân (P2O5), 0,7% kali (K2O) và các dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết khác cho cây trồng. Giá thể GT05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có độ tơi xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và giữ ẩm tốt. Trong sản xuất rau an toàn, GT05 được làm bầu gieo ươm cây rau giống, sản xuất rau mầm, rau thương phẩm như các loại rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và thuận lợi. Dòng sản phẩm đất Multi của Công ty TNHH Nguyên Nông Gino đã được xử lý bằng công nghệ sinh học, thích hợp khí hậu Việt Nam để trồng trong khay, chậu, máng, bồn hay luống. Thành phần chính của hệ Multi là giá thể hữu cơ từ bụi xơ dừa, phân trùn quê, rong biển, hệ vi sinh vật hữu ích, bánh dầu lên men, … Đây là nguồn hữu cơ lâu dài, thân thiện môi trường, không chất độc và vi sinh vật gây hại; hoàn toàn không có đất thật, không dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu bệnh hóa học. Hệ Multi có 11 sản phẩm riêng được phối trộn khác nhau để tạo nền dinh dưỡng cân đối cho nhiều loại cây trồng; đồng thời có sự kết hợp liên hoàn giữa các sản phẩm với nhau. Ví dụ: đất multi tổng quát, đất cho rau ăn lá, đất rau ăn quả và hoa, đất ăn trái, đất ginut chuyên trồng rau mầm.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội (2003) qua nghiên cứu bước đầu, đã đưa ra 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây trồng như sau: cây hồng Đà Lạt: than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + đất 10%; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu +10% đất; hoa giống: than bùn 45% + 22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất; ớt: than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5% than bùn + 22,5% bèo dâu + 10% đất.

Theo Tạ Thị Thu Cúc và cs (2000), ở những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thể gieo cây con trong vườn ươm. Giá thể làm bầu gối đất bột đã phơi ải, đập nhỏ, sạch cỏ dại chiếm 1/3 khối lượng ruột bầu, 1/3 xỉ than và 1/3 phân chuồng hoai mục trộn đều, cứ 10kg ruột bầu (chất bồi dưỡng cây giống) trộn thêm 0,5kg supe lân để xúc tiến quá trình hình thành và sinh trưởng của rễ. Nếu gieo hạt vào khay thì độ dày của chất bồi dưỡng tùy theo loại cây trồng, trung bình 5-7.



4.1.5.5 Chế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng của ớt rất quan trọng trong thời kỳ sinh trưởng phát triển. Mỗi giai đoạn khác nhau yêu cầu chế độ dinh dưỡng khác nhau. Theo Daniel và cs (2004), khi áp dụng tưới nhỏ giọt cho ớt, thành phần dinh dưỡng giai đoạn cây con cần 70 N, 50 P, 119 K, 110 Ca, 40 Mg, 55 S. Yêu cầu dinh dưỡng giai đoạn cây ra hoa đến thu hoạch, này là 160 N, 50 P, 200 K, 190 Ca, 48 Mg, 65 S. Độ pH yêu cầu phải đạt từ 5,5 - 6,5 và EC từ 1,5 - 2,5 mS/cm. Tưới khoảng 10 lần/ngày.

Theo Ranawaka và cs (2005), tỷ lệ 25 N: 10 P của phân bón Albert với EC 1,1 – 1,8 mS/cm và pH = 6 – 6,5 thích hợp cho giai đoạn sinh trưởng của ớt chuông được trồng ở Sri Lanka và cung cấp phân bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt.

Ớt là một trong số những loại cây được trồng ở Califonia cần rất nhiều phân bón. Liều lượng P thích hợp cho bón lót là 80 – 200 pound/acre (90 – 224 kg/ha). Với các loại đất có hàm lượng K ít hơn 150 ppm thì phải bón bổ sung 50 – 150 pound/acre (56 – 168 kg/ha). Riêng N thì phải cung cấp nhiều hơn 250 pound/acre (360 kg/ha). Liều lượng N càng cao càng làm tăng chiều dài thân, đường kính tán và kích thước quả, do đó năng suất cũng càng cao hơn. Liều lượng N 180 – 240 pound/acre (201 – 268 kg/ha) cho ớt c có năng suất thương phẩm cao nhất và kéo dài thời gian thu hoạch (Hartz và cs, 2007).

Thử nghiệm trên ớt lai các khoảng cách cây (45x50, 60x50 và 75x50), liều lượng của N (100, 150, 200 và 250 kg/ha) và các liều lượng khác nhau của P2O5 (100, 150 và 200 kg/ha) trên nền đất cát mùn, Chaudhary và cs (2007) cho rằng: nếu giảm khoảng cách cây từ 75x50cm đến 60x50 cm thì năng suất được cải thiện đáng kể. Liều lượng N: 200 kg/ha, P2O5:150 kg/ha cải thiện đáng kể về các chỉ tiêu về sinh trưởng, năng suất quả.

Theo nghiên cứu “Ảnh hưởng của các mức tưới nhỏ giọt và phương pháp trồng đến năng suất và các thành phần năng suất của ớt ngọt xanh (C. annuum L.) ở Bako, Ethiopia” của Takele (2009), năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cao nhất được ghi nhận ở nghiệm thức tưới đầy đủ nước và trồng theo kiểu hàng đôi, và thấp nhất ở nghiệm thức tưới 50% nước và trồng theo kiểu hàng đôi, ngoại trừ chỉ tiêu chiều cao cây. Chiều cao cây trung bình ở nghiệm thức được tưới đầy đủ nước và trồng theo hàng đơn không khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức tưới đầy đủ nước và trồng theo kiểu hàng đôi. Chỉ tưới 50% nước làm giảm năng suất khoảng 48,3% và 74,4% ở phương pháp trồng theo hàng đơn và hàng đôi. Giảm 25% nước tưới làm giảm 22,8% và 47,7% năng suất ở những phương pháp trồng như nhau.

Tại trạm Nghiên cứu Nông nghiệp Chitedze ở Malawi, người ta đã tiến hành thực hiện thí nghiệm nghiên cứu so sánh sáu giống ớt cựa gà trồng trên các nền dinh dưỡng khác nhau thì nhận thấy rằng sự sinh trưởng của cây ớt về chiều cao cây, số cành trên cây và số hoa quả/cây có sự khác nhau rõ rệt do các yếu tố dinh dưỡng khác nhau gây nên (Sileshi và cs, 2011).

Thí nghiệm về khoảng cách trồng và nguồn phân bón trên ớt đã được Hemlata và cs (2013) tiến hành. Có 4 khoảng cách trồng là 50x45 cm, 50x55 cm, 50x65 cm và 50x75 cm; với 4 nguồn dinh dưỡng khác nhau: phân hữu cơ (15 tấn/ha), phân vermicompost (10 tấn/ha), phân neemcake (3 tấn/ha) và phân RDF (150:50:50 kg NPK trên ha). Chiều cao cây, số phân nhánh/cây, đường kính thân và diện tích lá tăng đáng kể ở nghiệm thức có khoảng cách trồng là 50x75 cm và nguồn phân bón là 150:50:50 NPK. Thời gian ra hoa đầu tiên và thời gian thu hoạch quả ngắn nhất được ghi nhận ở nguồn phân bón như trên và khoảng cách trồng gần nhất (50x45 cm). Số quả/cây, năng suất quả/cây đạt lớn nhất ở nghiệm thức có khoảng cách trồng là 50x75 cm và nguồn phân bón là 150:50:50 NPK trên ha, nhưng năng suất/ha tăng đáng kể ở nghiệm thức có khoảng cách trồng gần nhất (50x45 cm) và nguồn phân bón là 150:50:50 NPK trên ha.

Theo Amare Tesfaw và cs (2013), sự kết hợp của 92 kg N /ha và 138 kg P2O5 /ha cho năng suất quả tươi tối đa 10,92 tấn /ha, tổng năng suất quả khô cao nhất (1,97 tấn/ha) và cho tối đa năng suất quả thương phẩm (1,91 tấn/ha).



4.2 Tổng quan về nhà màng

4.2.1 Giới thiệu một số mô hình nhà màng thích hợp trồng ớt tại Việt Nam hiện nay

4.2.1.1 Nhà kính (Glasshouse):

Đối với nhà kính không có sự thay đổi nhiều về kiểu dáng và cấu trúc.Việc sản xuất trong nhà kính được phát triển từ ý tưởng của những nông dân vùng Bắc Mỹ với mục đích tạo ra một môi trường canh tác thuận lợi quanh năm cho nhiều loại cây trồng.

Một số đặc điểm chính:

  • Khả năng thông gió khoảng 30% nhờ các cửa thông gió di động trên mái.

  • Mái nhà làm bằng kính. Trên mái được lắp các cửa thông gió so le để thông gió theo kiểu tự nhiên.

  • Chủ yếu dùng cho những những vùng lạnh, bức xạ thấp, nhiều gió, tuyết.

  • Cấu trúc phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật cao (Nguyễn Văn Thiệu, 2012)



Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương