HưỚng dẫn sử DỤng tài liệU Ôn tập thi thpt quốc gia


ĐỀ SỐ 21: Câu 1 (2 điểm)



tải về 1.5 Mb.
trang13/17
Chuyển đổi dữ liệu27.11.2017
Kích1.5 Mb.
#3071
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

ĐỀ SỐ 21:

Câu 1 (2 điểm)

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận. Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta.”

(Một thời đại trong thi ca - Hoài Thanh).

1. Câu “Nhưng càng đi sâu càng lạnh”, xét về mặt cấu tạo ngữ pháp đây là kiểu câu gì? (0,5 điểm).

2. (Đoạn trích Một thời đại trong thi ca thuộc thể loại nào? 0,5 điểm):

3. Nội dung cơ bản của văn bản? Đặt tên cho văn bản (1 điểm).

Câu 2 (3 điểm)

Bàn về những cuộc thi hiện nay dành cho giới trẻ, có ý kiến cho rằng: Vô số cuộc thi, vô số danh hiệu. Nó có thể là cơ hội với người này và nguy cơ với người khác, nhất là khi người ta trẻ.

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm của mình về ý kiến trên.

Câu 3 (5 điểm)

Về nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh. Nhưng ý kiến khác lại nhấn mạnh: Thị là người giàu nữ tính và khát vọng.

Từ cảm nhận của mình về nhân vật thị trong truyện ngắn, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

HƯỚNG DẪN CHẤM


Câu

Nội dung trình bày

Điểm

1

1. Câu “Nhưng càng đi sâu càng lạnh”, xét về mặt cấu tạo ngữ pháp đây là kiểu câu đặc biệt).

2. Đoạn trích Một thời đại trong thi ca thuộc thể loại: nghị luận văn học ( nghị luận phê bình văn học)

3. Nội dung : Tinh thần Thơ mới; Đặt tên: Tinh thần Thơ Mới, Phong cách của một số nhà thơ Mới; Cái tôi của thơ mới ….


0.5 đ

0.5đ

1.0đ

2

Bàn luận ý kiến về những cuộc thi dành cho giới trẻ hiện nay

* Yêu cầu về kĩ năng

- Thí sinh biết cách làm bài nghị luận xã hội,

- Vận dụng tốt các thao tác lập luận;

- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp;

- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.








* Yêu cầu về kiến thức

HS có thể bày tỏ suy nghĩ của mình theo những cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:






Giải thích ý kiến (1,0 điểm)

+ Vô số: Số lượng nhiều, không đếm xuể, không kiểm soát được.

+ Cuộc thi: Những hoạt động được tổ chức có quy mô nhằm tìm kiếm người chiến thắng trong một lĩnh vực nào đó.

+ Danh hiệu: Là phần thưởng cao quý dành riêng cho cá nhân hay tập thể có thành tích cao.

+ Cơ hội: Dịp may, mở ra những khả năng cho thành công.

+ Nguy cơ: Tiềm ẩn nhiều sự bất an, nguy hiểm, có khả năng gây hại.

Tóm lại, ý kiến trên vừa bàn về sự tràn lan của những cuộc thi, vừa chỉ ra ảnh hưởng có tính hai mặt của nó tới những người trẻ tuổi.


1,0




Bàn luận về ý kiến (1,5 điểm)




- Các cuộc thi là cơ hội cho những người tham gia, bộc lộ những tài năng, phẩm chất của mình. Điều đó giúp cho xã hội chọn được người tài, đức trong các lĩnh vực và người dự thi sẽ có cơ hội để theo đuổi lĩnh vực mà mình có khả năng.

- Các cuộc thi mở ra tràn lan, thiếu kiểm soát nhằm mang lại lợi ích cho một số tổ chức, cá nhân nào đó. Cách đánh giá đôi khi thiếu công bằng, chưa đúng năng lực của mỗi thí sinh khiến dư luận bất bình.

- Các cuộc thi có mặt tích cực ở chỗ tạo được không khí lôi cuốn, hấp dẫn giới trẻ. Người dự thi trau dồi những phẩm chất, năng lực để khẳng định mình. Mặt tiêu cực ở chỗ, thi cử dễ khiến người ta chạy theo hư danh phù phiếm…

1,5


Bài học về nhận thức về hành động (0,5 điểm)




- Một mặt cần nhận thức được tính chất đúng đắn, tích cực của các cuộc thi nhằm tôn vinh vẻ đẹp, khả năng thực sự của con người. Mặt khác cần thấy được tác hại của những cuộc thi vô bổ, phù phiếm.

- Cần có những hành động cụ thể để duy trì và phát triển những cuộc thi thiết thực, có ý nghĩa. Biết phê phán, đấu tranh và loại trừ những cuộc thi tiêu cực.



0,25

0,25


3

Cảm nhận bài thơ và bình luận hai ý kiến (4,0 điểm)







- Câu này kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bài.

- Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, không được thoát li văn bản tác phẩm.

5.0




Vài nét về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm)




- Kim Lân là một cây bút chuyên viết truyện ngắn, thế giới nghệ thuật của ông tập trung ở khung cảnh nông thôn và người nông dân.

- Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962). Một trong những thành công của tác phẩm này là Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật thị - người phụ nữ khốn cùng trong nạn đói.



0,25

0,25


Giải thích ý kiến (0,5 điểm)




- Người phụ nữ cùng đường, liều lĩnh: Người phụ nữ bị dồn đẩy vào một hoàn cảnh nghiệt ngã, không lối thoát, trở nên táo bạo trong ngôn ngữ và hành động, dường như không còn ý thức được về nhân cách và phẩm giá của mình.

- Người phụ nữ giàu nữ tính và khát vọng: Người phụ nữ có nhiều nét đẹp dịu dàng, nhân hậu, nhiều mơ ước, khát khao.



0,25

0,25


Cảm nhận về nhân vật thị và bình luận hai ý kiến (4,0 điểm)




Cảm nhận về nhân vật thị (3,0 điểm)




- Người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh (1,0 điểm)

+ Thị là người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường: Thị cùng mấy người con gái khác đã phải ngồi vêu ở cửa nhà kho để nhặt hạt rơi hạt vãi. Ngoại hình của thị tiều tuỵ với áo quần tả tơi như tổ đỉa, gầy sọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt. Cái đói đã dồn đẩy thị vào hoàn cảnh nghiệt ngã, phải tìm mọi cách để có thể sống sót qua ngày.

+ Thị là người phụ nữ liều lĩnh: Thị bám vào mấy câu hò vu vơ của một người đàn ông xa lạ, đòi ăn một cách thẳng thừng và ăn một cách thô tục, không ý tứ. Đỉnh điểm của sự liều lĩnh ấy là việc theo khôngTràng về làm vợ.



- Người phụ nữ giàu nữ tính và khát vọng (1,5 điểm)

+ Thị giàu nữ tính: Trên con đường từ chợ về nhà, thị rón rén e thẹn đi sau Tràng chừng ba bốn bước, xóc xóc lại tà áo; trước những cặp mắt đổ dồn về phía mình, thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia... Nữ tính còn thể hiện rõ hơn vào buổi sáng hôm sau, thị trở nên hiền hậu và đúng mực không còn vẻ gì chao chát và chỏng lỏn. Thị biết vun vén, chăm sóc gia đình.

+ Thị giàu khát vọng: Đó là khát vọng vượt qua nạn đói thê thảm, có một tổ ấm gia đình đơn sơ, hạnh phúc và một tương lai tốt đẹp.



- Nghệ thuật thể hiện (0,5 điểm)

+Nhân vật được đặt vào một tình huống truyện độc đáo, lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách.

+ Nhân vật được khắc hoạ sinh động, thể hiện tâm lý tinh tế, ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng đậm cá tính, thể hiện hơi thở của đời sống lao động bình dân.


0,5

0,5


1,0

0,5


0,25

0,25


Bình luận hai ý kiến (1,0 điểm)




- Hai ý kiến đề cập đến những phương diện khác nhau về tính cách nhân vật. Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến hoàn cảnh trớ trêu đối với thân phận con người, ý kiến thứ hai khẳng định vẻ đẹp tâm hồn sâu xa của người nông dân Việt Nam dẫu bị đẩy vào đường cùng vẫn khao khát hạnh phúc, hướng tới tương lai.

- Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau, hợp thành sự nhìn nhận toàn diện và thống nhất; giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻ đẹp của nhân vật và tư tưởng của nhà văn.



0,5

0,5


ĐỀ SỐ 22:

Câu 1 (3.0 điểm) 

Đọc đoạn thơ sau:



Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khủy dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

(Trích Tây Tiến - Quang Dũng)

1. Đoạn thơ trên thuộc phần nào của bài thơ? Nội dung chính của đoạn thơ là gì? (0.25 điểm).

2. Câu thơ: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi/Mường lát hoa về trong đêm hơi” gợi cho em điều gì? (0.25 điểm).

3. Trong đoạn thơ:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm



Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

(Trích Tây Tiến – Quang Dũng)

Có những biện pháp nghệ thuật nào được sử dụng? Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó? (0.5 điểm).

4. Cụm từ “bỏ quên đời” có nghĩa là gì? Em hiểu thế nào về câu thơ “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”. (0.5 điểm).

5. Hai câu thơ cuối đoạn gợi cho em suy nghĩ gì? Ghi lại suy nghĩ đó bằng một đoạn văn khoảng 4 đến 5 câu (0.5 điểm).

6. Trong văn học Việt Nam có nhiều nhà thơ viết về hình ảnh người lính. Em hãy kể tên một số bài thơ cùng đề tài. So sánh sự khác nhau giữa bài thơ Đồng chí (Chính Hữu) và bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng) (1,0 điểm).



Câu 2 (3,0 điểm)

Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa được gợi ra từ câu chuyện sau:“Một chiếc lá vàng tự bứt khỏi cành rơi xuống gốc. Cái gốc tròn mắt ngạc nhiên hỏi:



- Sao sớm thế ?

Lá vàng giơ tay lên chào, cười và chỉ vào những lộc non”.

(Theo Những câu chuyện ngụ ngôn chọn lọc - NXB Thanh niên - 2003)



Câu 3 (4,0 điểm)

Khuynh hướng sử thi thường gắn liền với cảm hứng lãng mạn trong văn học Việt Nam thời kì chống Mĩ cứu nước giai đoạn 1945-1975.

Hãy làm sáng rõ điều đó qua truyện ngắn Rừng xànu của Nguyễn Trung Thành.

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu 1 (3,0 điểm)


Ý

Nội dung

Điểm

1

- Đoạn thơ trên thuộc phần đầu của bài thơ Tây Tiến

- Nội dung chính của đoạn thơ: Từ nỗi nhớ -> tái hiện lại cuộc hành quân với những thử thách, hi sinh và ca ngợi tình quân dân thắm thiết.



0.25

2

Câu thơ: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi”

Đó là những địa danh lạ tai, gợi những tên đất, tên làng mang vẻ hấp dẫn của xứ lạ.



0.25

3

- Nghệ thuật:

+ Từ láy có giá trị tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút

+ Thanh bằng - trắc phối hợp hài hoà, kết hợp với nghệ thuật đối lập.

+ Hình ảnh nhân hoá: “súng ngửi trời



- Tác dụng: khắc hoạ một không gian vừa có chiều cao, bề rộng, độ sâu của thiên nhiên miền Tây – nơi đoàn binh Tây Tiến hành quân đi qua vừa hùng vĩ, vừa hoang sơ dữ dội.

0.5

4

- Cụm từ “bỏ quên đời” có nghĩa là: không nghĩ gì đến cuộc đời

- Câu thơ “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”: nói đến sự hi sinh của người lính trên chăng đường hành quân vất vả.



0,5

5

(HS nêu suy nghĩ về 2 câu thơ cuối có thể viết từ 4 -> 5 câu)

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói


Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

Cảnh tượng thật đầm ấm. Sau bao nhiêu gian khổ băng rừng, vượt núi, lội suối, trèo đèo, những người lính tạm dừng chân, được nghỉ ngơi ở một bản làng nào đó, quây quần bên những nồi cơm đang bốc khói. Khói cơm nghi ngút và hương thơm lúa nếp ngày mùa xua tan vẻ mệt mỏi trên khuôn mặt những người lính, khiến họ tươi tỉnh hẳn lại. Hai câu thơ này tạo nên một cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tư thế cho người đọc bước sang đoạn thơ thứ hai.



0.5

6

- HS nêu ít nhất là 2 bài thơ cùng đề tài

- So sánh (ngắn gọn) sự khác nhau:

+ Sự xuất thân ....

+ Nội dung bài thơ ...

+ Bút pháp ...


1,0

Câu 2 (3 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng

- Biết kết hợp các thao tác nghị luận để làm bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí với bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, diễn đạt mạch lạc, lưu loát.

- Qua câu chuyện, học sinh cần rút ra bài học ý nghĩa sâu sắc được gửi gắm qua hình ảnh chiếc lá vàng “tự bứt khỏi cành”.

2. Yêu cầu về kiến thức

Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần làm rõ các ý sau:



Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

1

a. Giải thích ý nghĩa câu chuyện:

- Câu chuyện cần chú ý đến cách chiếc là vàng rời khỏi cành: tự nguyện bứt khỏi cành sớm hơn thời gian mà nó có thể tồn tại để nhường chỗ cho lộc non đâm chồi, khiến cho cái gốc phải bật hỏi: “Sao sớm thế ?”

- Điều quan trọng hơn nữa là cách “chiếc lá vàng” nhìn nhận về sự ra đi của mình: mỉm cười và “chỉ vào những lộc non”. Đó là sự thanh thản khi chiếc lá đã tìm thấy được ý nghĩa cho cuộc đời của mình: tự nguyện hi sinh để nhường chỗ cho 1 thế hệ mới ra đời.


0,5




Câu chuyện cho ta một bài học về lẽ sống ở đời: Phải biết sống vì người khác, dám chấp nhận cả những thiệt thòi, hi sinh về phía bản thân mình. Đó cũng chính là một trong những cách sống của mỗi con người cần hướng đến trong cuộc đời.

0,5

2

b. Bàn luận - đánh giá - chứng minh:

Câu chuyện có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc đối với mọi người:

- Từ mối quan hệ giữa “lá vàng” và “lộc non” câu chuyện cũng đưa ra một quy luật của sự sống: Cuộc sống là một sự phát triển liên tục mà ở đó cái mới thay thế cái cũ là điều tất yếu.

- Hình ảnh chiếc lá vàng rơi là quy luật của thiên nhiên, lá lìa cành là quy luật tất yếu của đời sống. Lá rơi để bắt đầu, có bắt đầu thì có kết thúc để bắt đầu một đời sống khác; lá rơi vì đã đi hết một quãng đường đời, đã hoàn thành sứ mệnh của đời mình.

- Mỗi chúng ta cần phải nhận thức rõ quy luật đó, để tránh trở thành những vật cản của bánh xe lịch sử; đồng thời phải biết đặt niềm tin và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ được tiếp tục cống hiến và sáng tạo.

- Mỗi phút giây được sống trên cõi đời này là niềm hạnh phúc nhưng giá trị sự sống không phải chúng ta sống được bao lâu mà là chúng ta đã sống như thế nào để có ý nghĩa.



1,5

3

c. Bài học nhận thức và hành động:

- Phê phán lối sống vị kỷ, chỉ biết đến lợi ích của bản thân.

- Thế hệ trẻ phải biết sống, phấn đấu và cống hiến sao cho xứng đáng với những gì được “trao nhận”.

- Khẳng định lối sống tích cực: động viên cổ vũ con người nổ lực vươn lên khẳng định mình trong cuộc đời.



0,5

Câu 3 (4 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng

- Nắm vững phương pháp làm bài văn nghị luận văn học (nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi).

- Bố cục chặt chẽ, văn viết diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.

2. Yêu cầu về kiến thức

Có thể trình bày theo các cách khác nhau, nhưng phải thể hiện được đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975: chủ yếu được sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn; đặc điểm này được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành.



Ý

Yêu cầu kiến thức cần đạt

Điểm

1

1. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn của văn học giai đoạn 1945-1975:

* Khuynh hướng sử thi:đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử, có tính chất toàn dân tộc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Nhân vật trung tâm phải là những con người gắn bó với số phận đất nước và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cộng đồng; Lời văn mang giọng điệu ngưỡng mộ, ngợi ca…

* Cảm hứng lãng mạn:

- Luôn hướng về lý tưởng, về tương lai; trong chiến đấu luôn nghĩ đến ngày chiến thắng; trong khó khăn, thiếu thốn nghĩ đến tương lai độc lập, tự do.

- Hướng vận động của cốt truyện, số phận nhân vật, dòng cảm nghĩ của tác giả hầu như đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tương lai đầy hứa hẹn…

-> Đây chính là chủ nghĩa lạc quan của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến và lao động…



0,5

2

2. Lý giải vì sao trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, khuynh hướng sử thi thường đi liền với cảm hứng lãng mạn:

- Đây là 30 năm của cuộc chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; vấn đề đặt ra cho toàn dân tộc cũng như cho từng cá nhân là lợi ích sống còn của cộng đồng, là vận mệnh chính trị của dân tộc.

- Trong hoàn cảnh ấy, mọi phương diện khác của đời sống đều là thứ yếu, nếu cần phải dẹp đi, phải hi sinh hết, kể cả tính mạng của mình; vì vậy cảm hứng lãng mạn phù hợp với xu thế và yêu cầu của thời đại cách mạng, với sự thức tỉnh về ý thức & sức mạnh của quần chúng nhân dân.


1,0

3

3. Trong truyện ngắn“Rừng xà nu”:

khuynh hướng sử thi gắn với cảm hứng lãng mạn được thể hiện trên hầu hết các phương diện nội dung và nghệ thuật, nhưng nổi bật nhất là:






3.1. Đề tài: số phận và con đường giải phóng của dân làng Xô Man ở Tây Nguyên, cũng chính là tiêu biểu cho số phận và con đường chiến đấu để giải phóng của nhân dân miền Nam, của cả dân tộc. Tác phẩm không quan tâm đến những vấn đề của đời sống cá nhân, mà chủ yếu hướng vào hệ đề tài lịch sử cộng đồng, dân tộc, nhân dân.

0.5

3.2. Chủ đề: Chân lý về con đường giải phóng của quần chúng nhân dân trong thời đại cách mạng; chủ đề này được phát ngôn qua lời của cụ Mết - người đại diện cho truyền thống cộng đồng: “Nhớ lấy, ghi lấy. Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo !”.

0.5

3.3. Hệ thống nhân vật được lựa chọn đại diện cho các thế hệ tiếp nối nhau trong cuộc chiến đấu giải phóng nhân dân (Cụ Mết, Tnú, Mai, Dít, Bé Heng…).

0,5

3.4. Hình tượng xà nu vừa hiện thực lại vừa mang đậm ý nghĩa biểu tượng,cũng góp phần tạo nên chất sử thi, lãng mạn của tác phẩm.

0,5

3.5. Nghệ thuật: trần thuật, miêu tả, đặc biệt là khi kể câu chuyện bi tráng của Tnú và Mai trong truyện cũng mang đậm tính sử thi và rất thích hợp với nội dung và không gian Tây Nguyên. Từ đó tác giả còn khẳng định, đề cao vẻ đẹp và sức mạnh của con người, của thiên nhiên, được đặt trong sự đối lập gay gắt với kẻ thù tàn bạo.

0,5

ĐỀ SỐ 23:


tải về 1.5 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương