HưỚng dẫn sử DỤng tài liệU Ôn tập thi thpt quốc gia



tải về 1.5 Mb.
trang12/17
Chuyển đổi dữ liệu27.11.2017
Kích1.5 Mb.
#3071
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

Câu 3 (5 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng:

- Nắm vững phương pháp làm bài văn nghị luận văn học (nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi); từ đó trình bày suy nghĩ về một vấn đề của đời sống xã hội.

- Vận dụng tốt các thao tác lập luận; bố cục bài viết chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp; khuyến khích những bài viết có sáng tạo, thể hiện được cách lí giải vấn đề lôgíc.

2. Yêu cầu về nội dung kiến thức:

Bài viết có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau, song cần làm rõ được những ý chính sau:






Nội dung chính

Điểm

Mở bài

- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Minh Châu, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

- Giới thiệu nội dung vấn đề nghị luận: Người đàn bà hàng chài và “câu chuyện cuộc đời” gợi nhiều suy ngẫm.



0.5

Thân bài


* Giới thiệu vài nét về nhân vật người đàn bà hàng chài: về ngoại hình, cuộc sống, những biểu hiện của người đàn bà khi bị chồng đánh; khi chứng kiến phản ứng của con trai (Phác).

0.5

* Câu chuyện của người đàn bà ở Tòa án huyện:




- Nguồn gốc mọi sự cam chịu, nhẫn nhục và hi sinh của người đàn bà hàng chài: đều bắt nguồn từ tình thương vô bờ bến đối với những đứa con; sự cam chịu những trận đòn roi vô lí của chồng cũng là vì con, vì hoàn cảnh mưu sinh, cho thấy người đàn bà thật đáng được chia sẻ và cảm thông.

0.5

- Vấn đề có tính thời sự đặt ra trong câu chuyện:

+ Nạn bạo hành trong gia đình -> lên án thói vũ phu, tàn bạo; báo động về tình trạng bạo lực gia đình.

+ Câu chuyện giúp ta nhìn lại chính mình, tìm thấy những “hạt ngọc” bị lẫn đi trong cái lấm láp lam lũ đời thường; đồng thời dấy lên trong người đọc nỗi xót thương pha lẫn lo âu về tình trạng phụ nữ và trẻ em bị ngược đãi, nguy cơ trẻ em bị nhiễm thói xấu, ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách trẻ thơ khi bị tác động của môi trường sống không lành mạnh.


1.0

- Ca ngợi vẻ đẹp của tình mẫu tử:

+ Người đàn bà quê mùa, thất học nhưng thấu hiểu lẽ đời, nhân hậu, bao dung, giàu lòng vị tha và đức hi sinh, chị hiểu rõ thiên chức làm vợ, làm mẹ -> Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam truyền thống.

+ Những đứa con: cần được sống trong tình yêu thương, sự yên bình -> môi trường sống tạo nhân cách sống cho trẻ em; đồng thời nhà văn cũng đặt ra 1 nỗi lo âu đầy trách nhiệm: thằng bé Phác sẽ trở thành người như thế nào nếu môi trường sống không được thay đổi?


1.0

* Đánh giá chung (Bài học rút ra từ câu chuyện):

- Tác giả đặt ra 1 vấn đề đáng suy nghĩ về cách nhìn nhận cuộc sống và con người: không thể dễ dãi, đơn giản trong nhìn nhận mọi sự việc, hiện tượng đời sống; bản chất thực sự sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng.

- Cần giải phóng cho con người thoát khỏi đói nghèo, cần có chính sách chăm lo cho cuộc sống con người để mỗi gia đình được hạnh phúc, xã hội tốt đẹp hơn.


1.0

Kết bài

- Khái quát vấn đề nghị luận

- Mở rộng: Nhà văn gửi gắm thông điệp về cuộc sống: hãy dõi theo ánh nhìn trĩu nặng yêu thương về phía cuộc sống và con người để thấu hiểu, cảm thông và trân trọng...



0.5

ĐỀ SỐ 19:

Câu 1 (2,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:



Có một dòng thi ca về sông Hương, và tôi hi vọng đã nhận xét một cách công bằng về nó khi nói rằng dòng sông ấy không bao giờ tự lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ. Mỗi nhà thơ đều có một khám phá riêng về nó: từ xanh biếc thường ngày, nó bỗng thay màu thực bất ngờ, “dòng sông trắng - lá cây xanh” trong cái nhìn tinh tế của Tản Đà, từ tha thiết mơ màng nó chợt nhiên hùng tráng lên “như kiếm dựng trời xanh” trong khí phách của Cao Bá Quát; từ nỗi quan hoài vạn cổ với bóng chiều bãng lãng trong hồn thơ Bà Huyện Thanh Quan, nó đột khởi thành sức mạnh phục sinh của tâm hồn, trong thơ Tố Hữu. Và ở đây, một lần nữa, sông Hương quả thực là Kiều rất Kiều, trong cái nhìn thắm thiết tình người của tác giả Từ ấy.

Có một nhà thơ từ Hà Nội đã đến đây, tóc bạc trắng, lặng ngắm dòng sông, ném mẩu thuốc lá xuống chân cầu, hỏi với trời, với đất, một câu thật bâng khuâng: Ai đã đặt tên cho dòng sông?...

(Trích Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông?...Hoàng Phủ Ngọc Tường)

1. Nêu ý chính của văn bản? (0,5điểm )

2. Các từ ngữ gạch chân tinh tế , khí phách, nỗi quan hoài vạn cổ, thắm thiết tình người có hiệu quả diễn đạt như thế nào?.(0,5điểm )

3. Câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông?...có ý nghĩa gì? (1,0 điểm)

Câu 2 (3 điểm)

Ai đã từng cắp sách đến trường cũng đều có ước mơ mình trở thành một sinh viên đích thực. Thế nhưng con đường mà bạn sẽ đi không mang tên Đại học thì suy nghĩ của bạn sẽ như thế nào ? ”

Viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh, chị về vấn đề trên.( 3,0 điểm)

Câu 3 (5 điểm)

Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành (SGK Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục - 2009) ( 5,0 điểm)



HƯỚNG DẪN CHẤM


Câu

Đáp án

Điểm

1


1. Ý chính của văn bản: Tác giả ca ngợi sông Hương là dòng sông của thi ca, là nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nghệ sĩ.

0,5

2. Các từ ngữ gạch chân tinh tế , khí phách, nỗi quan hoài vạn cổ, thắm thiết tình người có hiệu quả diễn đạt : vừa ca ngợi sông Hương là nguồn cảm hứng của thi ca, đồng thời phát hiện ra phong cách nghệ thuật độc đáo của mỗi nhà thơ khi viết về sông Hương

0,5

3. Câu hỏi Ai đã đặt tên cho dòng sông?...có ý nghĩa : không phải để hỏi nguồn gốc của một danh xưng địa lý thông thường mà là một sự nhấn mạnh, ẩn chứa niềm tự hào sâu sắc về dòng sông quê hương. Tác giả gợi mở cho người đọc những hướng trả lời khác nhau bằng trải nghỉệm văn hóa của bản thân. Tên riêng của một dòng sông có thể do một cá nhân nào đó đặt ra, qua năm tháng, danh xưng của tác giả bị mai một, nó trở thành tài sản chung của cộng đồng, Tuy nhiên, cái tên đích thực của dòng sông phải là danh từ gắn với biểu tượng văn hóa, tinh thần, chiều sâu lịch sử của một dân tộc. Ở khía cạnh này, chính những người dân bình thường - những người sáng tạo ra văn hóa, văn học, lịch sử là những người “ đã đặt tên cho dòng sông”

1,0

2

a. Mở bài:

Nêu được vấn đề cần nghị luận: Vào đại học là mơ ước của nhiều học sinh, sinh viên nhưng đó không phải là con đường tiến thân duy nhất.



b. Thân bài:

Cần có các ý sau:

- Không nên nhìn vào người khác, người ta vào đại học thì mình phải vào. Không nhất thiết như thế mới là thành công .

- Không nên tạo áp lực cho bản thân, phải biết nhìn nhận thực tế, nhìn thẳng vào hoàn cảnh gia đình và năng lực bản thân.

- Nếu biết vươn lên hoàn cảnh thì cơ hội sẽ tìm đến với chính mình.

- Không nên có những suy nghĩ cực đoan sẽ làm mất đi định hướng của tương lai.

- Trong mọi chặng đường của cuộc sống, chỉ có con đường do chính ta lực chọn, mới là con đường đúng nhất. Cánh cửa vào đời luôn rộng mở cho những ai có ước mơ và hoài bão lớn. Không đỗ đại học, có thể học lên bằng con đường vào trung cấp, cao đẳng sau đó học liên thông, nâng cao trình độ. Kể cả học nghề và đi làm nghề cũng là cơ hội tốt trong nay mai, khi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang cần lắm những đối tượng có chuyên môn nghề nghiệp cao.

- Dẫn chứng: Nhiều người không chọn con đường đại học vẫn thành công như : Bill–Gates – tập đoàn Microsoft lớn nhất thế giới, Các nhà văn như Nam Cao, Tô Hoài …. Chưa một lần đặt chân vào nơi được gọi là Đại học vẫn trở thành những nhà văn bất hủ.



c. Kết bài:

Chốt lại vấn đề, liên hệ bản thân để định hướng cho tương lai.



0,25

0,25

0,25

0,25

0,25

1

0,5

0,25

3

a. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả - tác phẩm

- Giới thiệu vấn đề nghị luận.

b.Thân bài:

- Tnú là người có tính cách trung thực, gan góc, dũng cảm, mưu trí:

+ Giặc giết bà Nhan, anh Xút nhưng Tnú (lúc bấy giờ còn nhỏ) không sợ. Tnú vẫn cùng Mai xung phong vào rừng nuôi giấu cán bộ.

+ Học chữ thua Mai, Tnú đập vỡ bảng, lấy đá đập vào đầu đến chảy máu.

+ Khi đi liên lạc không đi đường mòn mà “xé rừng mà đi”, không lội chỗ nước êm mà “lựa chỗ thác mạnh vượt băng băng như con cá kình”. Bởi theo Tnú những chỗ nguy hiểm giặc “không ngờ” đến.

+ Bị giặc phục kích bắt, bị tra tấn dã man nhưng Tnú quyết không khai. Khi bọn giặc kéo về làng, bắt Tnú khai cộng sản ở đâu anh đặt tay lên bụng dõng dạc nói “cộng sản ở đây này”.

- Tnú là người có tính kỷ luật cao, tuyệt đối trung thành với cách mạng

+ Tham gia lực lượng vũ trang, nhớ nhà, nhớ quê hương nhưng khi được phép của cấp trên mới về thăm.

+ Tính kỉ luật cao trong mối quan hệ với cách mạng biểu hiện thành lòng trung thành tuyệt đối: khi bị kẻ thù đốt mười đầu ngón tay, ngọn lửa như thiêu đốt gan ruột nhưng Tnú không kêu nửa lời, anh luôn tâm niệm lời dạy của anh Quyết : “người cộng sản không thèm kêu van”.

- Một trái tim yêu thương và sục sôi căm giận

+ Tnú là một người sống rất nghĩa tình : Tnú đã tay không xông ra cứu vợ con. Động lực ghê gớm ấy chỉ có thể được khơi nguồn từ trái tim cháy bỏng ngọn lửa yêu thương và ngọn lửa căm thù. Tnú là con người tình nghĩa với buôn làng: anh lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương của người dân làng Xôman.



+ Lòng căm thù ở Tnú mang đậm chất Tây Nguyên: Tnú mang trong tim ba mối thù: Thù của bản thân; Thù của gia đình; Thù của buôn làng

- Ở Tnú, hình tượng đôi bàn tay mang tính cách, dấu ấn cuộc đời

+ Khi lành lặn : đó là đôi bàn tay trung thực, nghĩa tình (bàn tay cầm phấn viết chữ anh Quyết dạy cho ; bàn tay cầm đá đập vào đầu mình để tự trừng phạt vì học hay quên chữ ...

+ Khi bị thương : đó là chứng tích của một giai đoạn đau thương, của thời điểm lòng căm hận sôi trào “Anh không cảm thấy lửa ở mười đầu ngón tay nữa. Anh nghe lửa cháy trong lồng ngực, cháy trong bụng”. Đó cũng là bàn tay trừng phạt, bàn tay quả báo khi chính đôi bàn tay tàn tật ấy đã bóp chết tên chỉ huy đồn giặc trong một trận chiến đấu của quân giải phóng.

- Hình tượng Tnú điển hình cho con đường đấu tranh đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên làm sáng tỏ chân lí của thời đại đánh Mĩ : “chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo”.

+ Bi kịch của Tnú khi chưa cầm vũ khí là bi kịch của người dân STrá khi chưa giác ngộ chân lý (bà Nhan, anh Xút). Tnú là người có thừa sức mạnh cá nhân nhưng anh vẫn thất bại đau đớn khi không có vũ khí. Với bàn tay không có vũ khí trước kẻ thù hung bạo anh đã không bảo vệ được vợ con và bản thân.

+ Tnú chỉ được cứu khi dân làng Xôman đã cầm vũ khí đứng lên. Cuộc đời bi tráng của Tnú là sự chứng minh cho chân lí : phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực phản cách mạng.

+ Con đường đấu tranh của Tnú từ tự phát đến tự giác cũng là con đường đấu tranh đến với cách mạng của làng Xô man nói riêng và người dân Tây Nguyên nói chung.



c. Kết bài:

- Đánh giá chung về nhân vật và giá trị của tác phẩm.


0,5đ


1,0đ

1,0đ


0,5đ

0,5đ


1,0 đ

0,5đ

ĐỀ SỐ 20:



Câu 1 (3 điểm)

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

(Trích Tây Tiến - Quang Dũng)

1. Những thông tin sau đây về bài thơ Tây Tiến đúng hay sai? (1.0 điểm):


Thông tin

Đúng

Sai

1. Tác giả của bài thơ là một chiến sĩ.







2. Tây Tiến là tên một địa danh.







3. Ban đầu bài thơ có nhan đề là Nhớ Tây Tiến







4. Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ.







2. Đoạn thơ đã sử dụng những từ Hán Việt nào? Tác dụng của việc sử dụng những từ Hán Việt đó (1.0 điểm).

3. Có một bài thơ khác cũng đã khắc họa rất thành công hình ảnh người lính, em hãy cho biết đó là bài thơ nào? của ai? Và chỉ ra sự khác biệt lớn nhất của bài thơ ấy với bài Tây Tiến (1.0 điểm).



Câu 2 (3.0 điểm)

XE CHỞ BIA GẶP NẠN, NHIỀU NGƯỜI ĐỔ XÔ HÔI CỦA

“Một hình ảnh hết sức xấu xí và vô cảm là hàng trăm người hồ hởi, vui vẻ tràn ra đường “ hôi của” khi cả ngàn thùng bia chở trên một chiếc xe tải bị đổ xuống đường sau một vụ tai nạn. Vụ việc xảy ra lúc 14g ngày 4-12 ở khu vực vòng xoay Tam Hiệp, TP Biên Hòa (Đồng Nai), trước sự bất lực và gào khóc đến khản cổ của tài xế Hồ Kim Hậu ( 30 tuổi, quê tỉnh Bình Định), người điều khiển chiếc xe bị nạn chở khoảng 1500 thùng bia Tiger. Những người dân chứng kiến vụ việc bức xúc nói nhìn cảnh tượng này chẳng khác gì một vụ “cướp của”. Những người “hôi của” tranh nhau giành giật các thùng bia còn nguyên bị rớt xuống đường và thu gom các lon bia văng ra khỏi thùng. Trong đó, nhiều người lấy cả những thùng bia còn nguyên vẹn, một số người thì lấy túi đựng số lon bia lẻ...”



Theo báo điện tử: http://tuoitre.vn – 6-12-2013

Từ bản tin trên anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận xã hội trình bày suy nghĩ của mình về thói vô cảm.



Câu 3 (4.0 điểm)

Cảm nhận của em về màn kết trong vở kịch Hồn trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.



HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu 1 (3 điểm)

1. Những thông tin sau đây về bài thơ Tây Tiến đúng hay sai? (1,0 điểm).



Thông tin

Đúng

Sai

1. Tác giả của bài thơ là một chiến sĩ.

Đúng




2. Tây Tiến là tên một địa danh.




Sai

3. Ban đầu bài thơ có nhan đề là "Nhớ Tây Tiến"

Đúng




4. Cảm hứng xuyên suốt bài thơ là nỗi nhớ.

Đúng




2. Đoạn thơ đã sử dụng những từ Hán Việt nào? Tác dụng của việc sử dụng những từ Hán Việt đó (1.0 điểm).

- Đoạn thơ đã sử dụng những từ Hán Việt: biên giới, biên cương, chiến trường, viễn xứ, độc hành.(0,5 điểm).

- Tác dụng của việc sử dụng những từ Hán Việt: tạo không khí trang trọng, thiêng liêng khi nói về sự hi sinh. Làm giảm nhẹ cái bi thương của hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi. (0,5 điểm).

3. Có một bài thơ khác cũng đã khắc họa rất thành công hình ảnh người lính, em hãy cho biết đó là bài thơ nào? của ai? Và chỉ ra sự khác biệt lớn nhất của bài thơ ấy với bài Tây Tiến (1.0 điểm).

- Bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu (0,25 điểm)

- Sự khác biệt lớn nhất của hai bài thơ: bài Tây Tiến xây dựng hình tượng người lính - là những chàng trai Hà Nội mà chủ yếu là học sinh, sinh viên mang trong mình nét hào hoa, lãng mạn. Còn bài thơ Đồng chí xây dựng hình tượng người lính là những người nông dân cần cù, hiền lành, chất phác, giản dị. (0,75 điểm).

Câu 2 (3.0 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng:

- Thí sinh biết cách làm bài nghị luận xã hội.

- Vận dụng tốt các thao tác lập luận.

- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.

- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

2. Yêu cầu về kiến thức:

HS có thể bày tỏ suy nghĩ của mình theo những cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:



Nội dung trình bày

Điểm

a. Mở bài:

- Khái quát về căn bệnh vô cảm trong xã hội hiện đại ta ngày nay.

- Nêu vấn đề cần nghị luận: mẩu tin trên trang tuoitre.vn: hành động vô cảm, vô nhân đạo của những kẻ “hôi của” trong vụ “hàng trăm người hồ hởi, vui vẻ tràn ra đường “hôi của” khi cả ngàn thùng bia chở trên một chiếc xe tải bị đổ xuống đường sau một vụ tai nạn” trưa ngày 4/12/2013 tại thành phố Biên Hoà, Đồng Nai.

b. Thân bài:

Nhận định hiện tượng:

Hiện tượng hôi của được nêu trong bản tin là một hiện tượng xấu cho thấy sự vô cảm, vô nhân đạo, vô lương tâm một cách đáng báo động. Hình ảnh này cho thấy  sự xuống cấp trầm trọng của đạo đức, nhân cách của một bộ phận con người trong xã hội ta.



Bàn luận:

* Tác hại của hiện tượng

+ Việc “hôi của” được nêu trong bản tin trên là một hành động cho thấy sự xuống cấp đạo đức trầm trọng. Hành động ấy đi ngược lại với truyền thống nhân đạo cao đẹp của con người Việt Nam.

+ Họ vô cảm trước nỗi đau của người khác. Mặc dù tài xế Hồ Kim Hậu đã van xin khẩn thiết nhưng đoàn người vẫn ồ ạt, tranh giành nhau để lấy bia. Thậm chí còn trèo lên cả thùng xe để cướp. Số tài sản bị mất lên đến 310 triệu đồng. Nếu không có tiền để trả, dứt khoát anh Hậu phải ngồi tù.

+ Việc làm của những kẻ hôi của là hạ thấp nhân cách của mình, tạo nên một hình ảnh xấu về con người VN trong mắt bạn bè quốc tế.

+ Lên án, phê phán mạnh mẽ hành động trên của những kẻ hám lợi cho bản thân mà quên đi nỗi đau của người khác. Cần có sự can thiệp của pháp luật để răn đe, giáo dục những kẻ tham gia trong hành động trên.

* Bên cạnh việc hôi của đáng tiếc ở trên, chúng ta cũng thấy nhiều hình ảnh đẹp

Vụ lật xe bia ở Đà Nẵng, ở Hội An nhưng người dân lại ra bảo vệ cho tài xế, giúp tài xế thu dọn hàng hoá trong trật tự và bảo đảm tài sản không mất cắp. Nhiều trang mạng xã hội và báo Tuổi trẻ đã đăng tải thông tin về tài xế Hậu và quyên góp cho tài xế này.



c. Kết bài:

Nhận thức việc làm của những kẻ hôi của ở trên là xấu, bản thân cần tránh những hành động trên. Ra sức học tập và rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách cho bản thân, sống biết yêu thương, sẻ chia với những khó khăn của người khác.



0,5 đ

1,5 đ


0,5 đ

0,5 đ


Câu 3 (4.0 điểm)

1. Yêu cầu về kĩ năng

- Thí sinh biết cách làm bài nghị luận văn học

- Vận dụng tốt các thao tác lập luận

- Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.

2. Yêu cầu về kiến thức

Trên cơ sở những hiểu biết về tác giả Lưu Quang Vũ và vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, người viết có thể trình bày cảm nhận của mình theo nhiều cách khác nhau nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý:



Nội dung trình bày

Điểm

a. Mở bài:

Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm, vị trí màn kết của vở kịch, dẫn đề...

- Tác giả Lưu Quang Vũ: một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

- Tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt là một trong những vở kịch gây được nhiều tiếng vang nhất của Lưu Quang Vũ. Vở kịch được viết năm 1981.



b. Thân bài:

- Giới thiệu tình huống kịch: Trương Ba là người nhân hậu, thanh cao, khoáng hoạt phải trú nhờ trong xác hàng thịt dung tục, thô lỗ → rơi vào bi kịch → quyết định trả xác để được “ là tôi toàn vẹn”

- Mô tả lại đoạn kết:

+ Kết thúc vở kịch, Trương Ba chết, nhưng hồn ông vẫn còn đó “giữa màu xanh cây vườn, Trương Ba chập chờn xuất hiện”, và ông đã nói với vợ mình những lời tâm huyết, hàm chứa ý nghĩa “Tôi đây bà ạ. Tôi ở liền ngay bên bà đây, ngay trên bậc cửa nhà ta… Không phải mượn thân ai cả, tôi vẫn ở đây, trong vườn cây nhà ta, trong những điều tốt lành của cuộc đời, trong mỗi trái cây cái Gái nâng niu…”.

+ Cu Tị sống lại và đang cùng ngồi với cái Gái trong khu vườn. Cái Gái “Lấy hạt na vùi xuống đất…” cho nó mọc thành cây mới. Ông nội tớ bảo thế. Những cây sẽ nối nhau mà khôn lớn. Mãi mãi…”

- Ý nghĩa:

+ Những lời nói của Trương Ba, phải chăng đó là sự bất tử của linh hồn trong sự sống, trong lòng người. Điều đó tô đậm thêm nhân cách cao thượng của Trương Ba và khắc sâu thêm tư tưởng nhân văn của tác phẩm.

+ Hình ảnh cái Gái ăn quả Na rồi vùi hạt xuống đất:

o Biểu tượng cho sự tiếp nối những truyền thống tốt đẹp (“Ông nội tớ bảo vậy”) là tâm hồn, là nhân cách Trương Ba.

o Biểu tượng cho sự sống bất diệt của những giá trị tinh thần mang tính nhân văn cao đẹp (“mãi mãi”).

o Khẳng định niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện và cái đẹp.

+ Ý nghĩa của sự sống nhiều khi không phải ở sự tồn tại sinh học mà chính là sự hiện diện của người đã khuất trong tâm tưởng, nỗi nhớ, tình yêu của những người còn sống. Vẻ đẹp tâm hồn sẽ trường tồn dài lâu, bất tử so với sự tồn tại của thể xác.

+ Có thể nói, đây là một đoạn kết giàu chất thơ với ngôn từ tha thiết, thấm đẫm tình cảm và có dư ba bởi những hình ảnh tượng trưng về sự sống nảy nở (vườn cây rung rinh ánh sáng, hai đứa trẻ cùng ăn quả na rồi gieo hạt na xuống đất cho nó mọc thành cây mới). Đó là khúc ca trữ tình ca ngợi sự sống, ca ngợi những giá trị nhân văn mà con người luôn phải vươn tới và gìn giữ.

=> Tác giả gửi gắm thông điệp về cuộc sống: sự sống thật sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên,hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Hạnh phúc của con người là chiến thắng được bản thân, chiến thắng sự dung tục, hoàn thiện được nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý



c. Kết bài:

Khái quát lại vấn đề



0,5 đ

0,5 đ


0,5 đ

0,5 đ


0,5 đ

0,5 đ


0,5 đ

0,5 đ



tải về 1.5 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương