Hiệp hội các nưỚC ĐÔng nam á


ASEAN-EU : a. Các dấu mốc trong quan hệ ASEAN-EU



tải về 1.14 Mb.
trang6/7
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích1.14 Mb.
#4241
1   2   3   4   5   6   7

ASEAN-EU :


a. Các dấu mốc trong quan hệ ASEAN-EU :


          • Năm 1972, EU đã thiết lập quan hệ đối thoại với ASEAN.

          • Đến năm 1977 quan hệ đối thoại giữa 2 bên đã được chínnh thức hóa.

Năm 1980 ký hiệp định hợp tác ASEAN-EC.

  • Tháng 4/2005 nhóm tầm nhìn về quan hệ đối tác ASEAN-EU đã được thành lập theo thỏa thuận giữa các bộ trưởng kinh tế ASEAN và cao ủy thương mại EU.

  • Ngày 21/7/2005 phiên họp đầu tiên của nhóm này đã được tổ chức tại Hà Nội

  • Tháng 11/2007 hội nghị cấp cao đầu tiên giữa ASEAN và EU đã được tổ chức nhân dịp 30 năm quan hệ đối thoại ASEAN-EU đã đưa ra “tuyên bố chung của hội nghị cấp cao ASEAN-EU” gồm 27 khoản cam kết hợp trên các lĩnh vực từ an ninh, chính trị, cho đến thoả thuận mậu dịch tự do giữa 2 khu vực. Tại hội nghị, ASEAN và EU cũng đã thông qua "Kế hoạch hành động nhằm thực thi Tuyên bố Nuremberg về quan hệ đối tác tăng cường EU-ASEAN".


b. Hợp tác ASEAN và EU trên các lĩnh vực :
Về chính trị, trong hội nghị bộ trưởng ASEAN-EU ngày 14/3/2007 tại Nuremberg EU đã cam kết giúp đỡ ASEAN trong việc xây dựng hiến chương chung cho ASEAN cũng như hiến pháp cho hiệp hội, đồng thời hỗ trợ ASEAN trong tham vong xây dựng thị trường chung vào năm 2015. Ngoài ra ASEAN và EU còn thực hiện chương trình ASEAN-EU về hỗ trợ hội nhập khu vực

Trong lĩnh vực kinh tế, mặc dù đã có mối quan hệ kinh tế khá dài, nhưng thương mại giữa ASEAN và EU hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn. Trong tồng thương mại của ASEAN thì EU chiếm 11.5-16% ,EU là thị trường lớn thứ 2 của ASEAN ( sau Trung Quốc ). Trong khi đó vai trò của ASEAN trong tồng thương mại của EU chỉ chiếm từ 1-3%. ASEAN là đối tác lớn thứ 5 của EU ( sau Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Liên Bang Nga).

Tổng thương mại hàng hóa giữa 2 khối đã giảm trong những năm vừa qua. Lý do chính là vì cả hai khối đều dành ưu tiên của mình đề phát triển thương mại trong khối hơn là thương mại ngoài khối. Trong khi EU giai đoạn 1977-2009 mở rộng số thành viên của mình từ 9 thành viên thành 27 thành viên, thương mại nội khối EU tăng từ 51% lên 66%

Thì thương mại nội khối của ASEAN tăng từ 17% lên 26%.

Hiện nay trong ASEAN Singapore là đối tác lớn nhất của EU, với quan hệ kinh tế được thiết lập từ lâu và trình độ phát triển khá cân bằng , thêm vào đó là trình độ kinh tế của các nước còn lại trong ASEAN còn kém khá xa Singapore nên Singapore đã trở thành đối tác chính của EU trong tiến trình ASEAN liên kết với EU.

Biểu đồ thương mại của EU với các nước ASEAN ( đơn vị : tỷ USD )


Thâm hụt thương mại trong cán cân thương mại EU-ASEAN ngày càng nghiêng về phía ASEAN đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoàng tài chính 1997. Việc mất cân bằng này là do 2 nguyên nhân, nguyên nhân đầu tiên là EU là một trong những thị trường xuất khẩu chính của ASEAN trong khi ASEAN lại chưa phải là một đối tác lớn thương mại lớn của EU, nguyên nhân thứ 2 là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997 trong khi xuất khẩu từ EU vào ASEAN bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì xuất khẩu từ ASEAN sang EU vẫn không bị ảnh hưởng nhiều. Điều này được thể hiện khá rõ ràng trong biểu đồ bên dưới

Biểu đồ kim ngạch xuất-nhập khẩu của EU đối với ASEAN (đơn vị : tỷ USD)


Hiện nay trong hợp tác kinh tế đối với EU, ASEAN không chỉ là thị trường tiềm năng đang mở rộng và phát triển nhanh mà còn là cánh cổng để EU tiếp cận với các thị trường đông Á khác. Còn đối với ASEAN, sẽ là vô cùng quan trọng để tăng cường quan hệ với EU, một trong những thị trường xuất khẩu cũng như đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. Chính vì thế, cho đến nay EU và ASEAN vẫn đang tiếp tục nỗ lực theo đuổi FTA region-to-region giữa 2 khu vực. Hội đồng kinh tế EU-ASEAN được ra đời tại Brunei ngày 4/5/2007, là cơ quan chuẩn bị cho sự ra đời FTA giữa 2 khối, Thông qua việc xây dựng lộ trình và giải quyết các vấn đề còn gây trở ngại.

Về hợp tác phát triển, EU đã giúp đỡ ASEAN trong việc phát triển nguồn nhân lực trao đổi khoa học công nghệ, phát triển xã hội, ưu tiên các lĩnh vực ma tuý môi trường nông lâm nghiệp.


3. Một số hợp tác khác :


  • ASEM

  • ASEAN – Úc

  • ASEAN – Canada

  • ASEAN – Hàn Quốc

  • ASEAN – Mỹ

  • ASEAN – Liên Bang Nga

  • ASEAN – Ấn Độ

  • ASEAN – New Zealand

  • ASEAN – UNDP

  • ASEAN – Liên Hợp Quốc



    1. HỢP TÁC GIỮA VIỆT NAM VÀ ASEAN.

Cách đây 14 năm, ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Sự kiện chính trị quan trọng này đã thể hiện rõ nét chính sách chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam, mở ra một thời kỳ hội nhập sâu vào khu vực của Việt Nam trên các lĩnh vực chính trị-an ninh, kinh tế và chuyên ngành.


1. Tổng quan:
Ngay sau khi trở thành thành viên chính thức (1995), Việt Nam cam kết tiến hành thực hiện tương đối tốt các chương trình cũng như cơ chế hợp tác của ASEAN, từ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) cho đến Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN (Framework Agreement on Services - AFSA), Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area - AIA), Hiệp định khung về Hợp tác Công nghiệp ASEAN (ASEAN Industrial Cooperation - AICO), Sáng kiến hội nhập (IAI)...

Bên cạnh đó, Việt Nam không những tham gia tích cực vào chương trình hợp tác sẵn có, mà còn đóng góp to lớn cho sự hình thành các sáng kiến, cơ chế hợp tác mới của ASEAN. Ngay cả khi chưa gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC, 1992), tham gia ngay từ đầu vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum – ARF)(1994).

Điều quan trọng hơn là Việt Nam cùng với các nước ASEAN đề ra nhiều sáng kiến mới, nhằm khắc phục những mặt yếu kém, trì trệ trong ASEAN, thúc đẩy hợp tác khu vực phát triển. Cụ thể là Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị ASEAN lần thứ VI (tại Hà Nội, tháng 12/1998), với một "Chương trình hành động Hà Nội" (HPA) được thông qua, vừa mang tính định hướng vừa đưa ra giải pháp cho việc hiện thực hóa “Tầm nhìn 2020" - nền tảng tư tưởng cho sự thiết lập Cộng đồng ASEAN sau đó (10/2003).

Việt Nam cũng có nhiều đóng góp về mặt ý tưởng và đề ra biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách và phát triển tiểu vùng. Điều này được thể hiện trong “Tuyên bố Hà Nội" năm 1998, “Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển, nhằm tăng cường liên kết ASEAN" năm 2001... Ngoài ra, Việt Nam còn có sáng kiến trong việc tạo dựng ý tưởng và xây dựng cộng đồng ASEAN trên 3 trụ cột chính, trong đó Cộng đồng Văn hóa-Xã hội là do Việt Nam đề xuất.

Việt Nam đã và đang đóng vai trò tích cực trong việc duy trì hòa bình, ổn định và hòa giải khu vực, góp phần củng cố vị thế của ASEAN trên trường quốc tế. Đây là một trong những đóng góp nổi bật của Việt Nam.

Sau sự kiện 28/7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, việc gia nhập ASEAN của Lào, Mianma và Campuchia về cơ bản đã được giải quyết. Với tư cách là tổ chức của tất cả các nước trong khu vực, ASEAN không chỉ lớn mạnh lên về một số lượng, mà còn cả ý chí và lòng quyết tâm hội nhập của tất cả thành viên, trong đó có Việt Nam.

Sự tham gia một cách có hiệu quả của Việt Nam trong ASEAN đã góp phần quan trọng cho việc mở rộng hợp tác của ASEAN với các đối tác bên ngoài, nhất là các đối tác và láng giềng của Việt Nam. Điều này được thể hiện bằng việc Việt Nam đã góp phần làm tăng mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, ASEAN và Liên bang Nga, ASEAN và Ấn Độ, ASEAN và EU.

Cùng với quan hệ Việt -Trung được cải thiện nhanh chóng trong thập niên qua, vị thế địa lý chiến lược và sự phát triển năng động của Việt Nam thực sự đã và đang đóng góp một phần quan trọng làm cho ASEAN-Trung Quốc xích lại gần nhau hơn, hiểu biết và hợp tác nhiều hơn. Hơn nữa, cùng với sự lớn mạnh của ASEAN, Việt Nam đã và đóng vai trò không nhỏ trong cân bằng chiến lược và ảnh hưởng giữa các nước lớn, đặc biệt là trong cân bằng chiến lược Mỹ-Trung. Đây là vấn đề lớn, có ý nghĩa trong việc duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Đông Nam Á.

Với chủ đề làm cho Hợp tác Á-Âu trở nên thực chất và sống động hơn, Hội nghị ASEM-5 được tổ chức tại Hà Nội tháng 10/2004 đã góp phần cải thiện hình ảnh và tình đoàn kết của ASEAN. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thuyết phục các đối tác EU chấp thuận kết nạp Mianma, một trong 3 thành viên mới của ASEAN, vào ASEM. Điều này đã góp phần duy trì sự thống nhất và hòa thuận trong ASEAN.

Việc Việt Nam tham gia vào ASEAN đã và đang tạo môi trường thuận lợi hơn cho đất nước giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập có hiệu qủa vào hệ thống toàn cầu. Quan trọng hơn, Việt Nam trong hơn 10 năm gia nhập ASEAN, đã từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc hội nhập này, Việt Nam đã từng bước điều chỉnh bộ máy hành chính phù hợp với nền kinh tế thị trường; đồng thời thông qua hợp tác và cạnh tranh, các nguồn tiềm năng nội địa được khơi dậy. Đây là thành tựu có ý nghĩa lớn nhất đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế nói chung, hội nhập ASEAN nói riêng trong thời gian qua.


2 . Hợp tác chính trị, ngoại giao, an ninh :
Việt Nam là một trong 18 thành viên tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum - ARF) ngay từ đầu.

Với tư cách là Chủ tịch ARF nhiệm kỳ 2000-2001, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các nước khác trong ASEAN duy trì những nguyên tắc cơ bản, bước đi vững chắc của ASEAN (tiếp tục tập trung thực hiện các biện pháp xây dựng và củng cố lòng tin, tăng cường hiểu biết lẫn nhau) trên con đường tiến tới “ngoại giao phòng ngừa".

Ngoài sáng kiến xây dựng "Chương trình hành động Hà Nội năm 1998”, Việt Nam đã đưa ra sáng kiến, cùng với các nước ASEAN kiên trì thương lượng với Trung Quốc để có một “Tuyên bố về nguyên tắc ứng xử biển Đông” vào năm 2002.

Gần đây, Việt Nam đã tích cực và chủ động trong việc đóng góp nội dung cho “Tuyên bố Bali II" và "Dự thảo Cộng đồng ASEAN” nhằm hình thành Tuyên bố và Kế hoạch hành động của Cộng đồng An ninh ASEAN.

Việt Nam cũng đã góp phần to lớn vào việc mở rộng quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế của ASEAN, giúp ASEAN mở rộng thêm nhiều đối tác như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, tổ chức nhiều Diễn đàn hợp tác lớn như ASEM, APEC-2006, giúp các nước lớn còn lại của thế giới tham gia dễ dàng hơn vào ASEAN, ASEM. Ngoài ra, Việt Nam còn tích cực trong hoạt động chính trị, an ninh như tham gia các hoạt động của Nghị viện ASEAN, hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống.
3. Hợp tác kinh tế :
Sau 14 năm kể từ ngày 28 tháng 7 năm 1995, ngày Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN), quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với các nước thành viên khác trong Hiệp hội không ngừng phát triển sâu rộng, góp phần thúc đẩy tiến trình Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam .

Từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã thực hiện lộ trình AFTA, tích cực chủ động tham gia mọi chương trình hợp tác kinh tế của ASEAN, phù hợp với quyền lợi của đất nước. Từ năm 1995 đến năm 2000, Việt Nam đã đưa vào danh sách CEPT 4.233 mặt hàng, chiếm 67% trong tổng số 6.332 mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu ưu đãi MFN.

Tháng 2/2001, Chính phủ Việt Nam đã công bố lịch trình tổng thể cắt giảm thuế theo Hiệp định CEPT cho đến 1/1/2006 là thời điểm hội nhập đầy đủ vào AFTA. Việt Nam cũng tham gia ký kết Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) ngày 7/10/1998, với mục tiêu tạo ra một khu vực đầu tư tự do trong nội bộ các nước ASEAN vào năm 2010 và cho các nước khác ngoài ASEAN và năm 2020.

Việt Nam tham gia ký và thực hiện khá tốt Hiệp định khung về Khu vực tự do hóa mậu dịch ASEAN (AFAS), về “Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN" (AICO), về "Sáng kiến hội nhập" (IAI), đã chủ động đưa ra và tích cực thực hiện Chương trình hợp tác phát triển Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS), trong đó có dự án xây dựng các hành lang kinh tế, nhất là hành lang kinh tế Đông-Tây, hành lang lưu thông Côn Minh-Hà Nội-Hải Phòng..


Một số thành tựu về FDI, Thương mại :


  1. Đầu tư trực tiếp của ASEAN vào Việt Nam :

Ngay từ trước khi gia nhập khối ASEAN, Việt Nam đã có quan hệ hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) với nhiều nước ASEAN khác. Tuy nhiên, chỉ sau khi trở thành thành viên của ASEAN, đặc biệt là sự hồi phục của kinh tế khu vực sau khủng hoảng tài chính 1997-1998, ĐTTTNN từ các nước ASEAN chảy vào Việt Nam mới thật sự trở nên mạnh mẽ.

Nếu chỉ tính các dự án FDI còn hoạt động , thì đến ngày 22/9/2007 còn 8058 dự án đầu tư FDI với tổng số vốn đăng kí là 72,869 tỷ USD. Có 83 nước đầu tư vào Việt Nam trong đó có các nước ASEAN.



Nước đầu tư

Số dự án

Vốn đăng ký

Vốn pháp định

1. Singapore

525

9,653,969,313

3,484,068,443

2. Malaysia

230

1,819,421,518

849,355,234

3. Thái Lan

160

1,561,556,926

605,116,448

4. Philippines

32

247,378,899

125,157,336

5. Indonesia

16

141,892,000

75,905,600

6. Brunei

39

128,881,421

53,161,421

7. Lào

8

23,353,528

15,613,527

8. Campuchia

5

5,200,000

3,390,000

TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA CÁC NƯỚC ASEAN VÀO VIỆT NAM (1988-2007) ĐVT: USD

Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư
Như vậy, ngoại trừ Mianma, đất nước còn gặp khó khăn về chính trị, kinh tế xã hội lại bị cấm vận của Hoa Kì thì 8 nước ASEAN còn lại đều có dự án đầu tư tại Việt Nam. Nếu như đến tháng 6 năm 2004, số dự án là 611, tổng vốn đầu tư là trên 10,8 tỷ USD, vốn thực hiện là 4,888 tỷ USD, thì đến 22/9/2007 tổng số dự án đã lên tới 1015 dự án, với tổng số vốn đăng kí hơn 13 tỷ USD. Trong đó, Singapore là nước dẫn đầu khu vực với 525 dự án và hơn 9 tỷ USD vốn đăng ký, Malaysia đứng thứ hai với 230 dự án, tiếp theo là Thái Lan với 160 dự án. Đây đồng thời là ba nước liên tục nằm trong số 10 quốc gia và vùng lãnh thổ dẫn đầu về ĐTTTNN tại Việt Nam trong những năm gần đây.Đặc biệt, Singapore đứng thứ 2 sau Hàn Quốc đầu tư nhiều và thành công tại Việt Nam. Hiện có khoảng 900 dự án của các nước ASEAN đã đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút hàng vạn lao động, trong đó những dự án phát triển nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm thu được lợi nhuận đáng kể.

Các nước ASEAN có vốn đầu tư trong mọi lĩnh vực, nhưng tập trung vào công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu. Trong công nghiệp, các ngành được quan tâm là công nghiệp dầu khí, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp thực phẩm và xây dựng; trong nông, lâm, ngư nghiệp là nông-lâm nghiệp, thủy sản; trong dịch vụ là giao thông vận tải-bưu điện, khách sạn du lịch, tài chính-ngân hàng, văn hóa-y tế-giáo dục, xây dựng khu đô thị mới, văn phòng-căn hộ, hạ tầng khu công nghiệp-khu chế xuất,... Trong đó, nổi bật là Sigapo với xây dựng, kinh doanh khách sạn-du lịch, xây dựng văn phòng căn hộ, khu đô thị mới và công nghiệp thực phẩm; Malaixia với thăm dò-khai thác dầu khí; Thái Lan tập trung vào nông nghiệp; Inđônêxia với tài chính-ngân hàng; Philippin với sản xuất ô tô.


ii. Đầu tư trực tiếp của Việt Nam vào ASEAN :
Song song với việc tăng cường thu hút nguồn vốn đầu tư từ các nước thành viên ASEAN, mấy năm gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có một số dự án đầu tư tại một số nước thành viên, như tại Lào, Singapo, Campuchia, Thái Lan. Tuy quy mô đầu tư của những dự án chưa lớn, nhưng đã góp phần thúc đẩy hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam với các nước. Đến ngày 22/6/2007 Việt Nam đã có 217 dự án đầu tư vào 33 nước và khu vực lãnh thổ của thế giới , với số vốn đăng kí là 1,179 tỷ USD và vốn thực hiện là 64,869,416 USD.


TÊN NƯỚC

SỐ DỰ ÁN

VỐN ĐĂNG KÝ


VỐN THỰC HIỆN

1. Lào

76

555,473,766

7,511,733

2. Campuchia

22

80,788,619

1,394,014

3. Singapore

15

27,008,807

2,450,000

4. Malaysia

4

18,746,615

6,576,840

5. Indonesia

2

9,400,000

3,240,000

6. Thái Lan

2

305,200

-

TỔNG CỘNG

121

691,722,807

21,172,587

TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM VÀO CÁC NƯỚC ASEAN (1989-06/2007). ĐVT : USD



Nguồn: cục đầu tư nước ngoài
Như vậy, ASEAN là thị trường đầu tư lớn nhất của Việt Nam, chiếm đến 55,76% số dự án ; 58,67% tổng vốn đăng kí và 32,64% vốn thực hiện. Nhiều dự án của các nhà đầu tư vào các nước ASEAN đang phát triển khả quan , đặc biệt các dự án tại Lào và Campuchia . Các dự án góp phần củng cố vai trò và sự ảnh hưởng của Việt Nam đến nền kinh tế của khu vực.
iii. Hoạt động thương mại giữa Việt Nam và ASEAN:
Đi đôi với quan hệ hợp tác đầu tư, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước ASEAN cũng không ngừng phát triển. Thị trường ASEAN hiện chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu và khoảng 25% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, trong đó Singapore, Philipin, Thái Lan và Inđônêxia là những khách hàng lớn. Thị trường ASEAN là nơi tiêu thụ khối lượng lớn nông sản, nhất là gạo của Việt Nam, đồng thời là nơi cung cấp nhiều máy móc thiết bị và nguyên liệu, đặc biệt là xăng dầu cho Việt Nam. So với năm 1994, năm trước khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và các nước ASEAN hiện nay đã gấp hàng chục lần.

Năm


Tổng kim ngạch XK của Việt Nam

Tổng kim ngạch NK của Việt Nam

Với các nước ASEAN

VN XK

Tỷ trọng (%)

VN NK

Tỷ trọng (%)

1995

5448,9

8155,4

1112,1

20,4

2377,8

29,2

1996

7255,9

11143,6

1776,8

24,5

2992,1

26,9

1997

9185,0

11592,3

2020,5

22,0

3244,9

28,0

1998

9361,0

11500,0

2020,2

21,6

3386,6

29,4

1999

11540,0

11742,0

2516,3

21,8

3290,9

28,0

2000

14455,0

15639,0

2620,6

18,1

452,5

28,9

2002

16706,1

19745,6

2434,9

14,58

4769,2

24,15

2003

20149,3

25255,8

2953,3

14,66

5949,3

23,56

2004

26485

31968,8

4056,1

15,31

7768,5

24,30

2005

32447

36761,1

5743,5

17,70

9326,3

25,37

2006

39826,2

44891,1

6358,2

15,96

12544,8

27,94

2007

48560

62680

7813,4

16,09






THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN 1995-2007 (ĐVT: USD)


Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN còn thể hiện trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, mà nổi bật là thị trường lao động Malaixia đã mở cửa đón một số lượng lớn lao động Việt Nam. Ngoài ra còn nhiều hoạt động khác như hợp tác về khoa học và công nghệ, về bảo vệ môi trường, về y tế giáo dục, văn hóa nghệ thuật và thể thao..

tải về 1.14 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương