Hiệp hội các nưỚC ĐÔng nam á



tải về 1.14 Mb.
trang4/7
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích1.14 Mb.
#4241
1   2   3   4   5   6   7

Hội đồng AFTA

AEM


Hội đồng



SEOM


Ban thư ký
ASEAN







Cơ quan AFTA quốc gia của các nước thành viên


CCCA



  • Tại mỗi nước thành viên thành lập Cơ quan AFTA quốc gia để theo dõi triển khai thực hiện các cam kết theo CEPT.

  • Tại Ban Thư ký ASEAN có một Vụ AFTA giúp cho việc theo dõi, tổng hợp, đối chiếu việc thực hiện cam kết theo Hiệp định .

  • Một Ủy ban điều phối về CEPT –AFTA ( CCCA) : được thành lập trên cơ sở các phiên họp hàng quý để rà soát, thúc đẩy sử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện CEPT, những vướng mắc nào không sử lý được thì đưa ra cơ quan cấp trên nữa . Đồng thời triển khai thực hiện các quyết định của cơ quan cấp trên. Thành phần UB này bao gồm các chuyên viên về thuế, thương mại, hải quan của các nước.

  • Một cơ quan bao gồm các quan chức kinh tế cao cấp ASEAN ( cấp Vụ) viết tắt là SEOM : được tổ chức theo hình thức Hội nghị để sử lý các vướng mắc trong quá trình thực hiện CEPT mà cấp CCCA không sử lý được. Đồng thời hướng dẫn CCCA triển khai các quyết định về CEPT của cơ quan cấp trên nữa.

  • Một cơ chế cấp Bộ trưởng gọi là Hội đồng AFTA mỗi năm họp 1 lần để quyết định các vấn đề lớn trong tiến trình thức hiện CEPT.

  • Ngoài ra tiến trình thực hiện AFTA còn được thông báo cho Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM) để tổng hợp, đánh giá chung các hoạt động hợp tác kinh tế ASEAN.


3. Những thách thức và những cơ hội của Việt Nam tham gia vào AFTA:
a. Thuận lợi :


  • Khi gia nhập AFTA , hàng hoá của Việt nam sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi thấp hơn cả thuế suất tối huệ quốc mà các nước ASEAN dành cho các nước thành viên WTO, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng hoá Việt nam có thể thâm nhập thị trường của tất cả các nước thành viên ASEAN.

  • Bên cạnh những thuận lợi thu được từ hoạt động thương mại trong nội bộ khối , khi gia nhập AFTA, VN sẽ có thế hơn trong đàm phán thương mại song phương và đa phương với các cường quốc kinh tế, cũng như các tổ chức thương mại quốc tế lớn như Mỹ, nhật, EU hay WTO..

  • Tuy có những trùng lặp giữa VN và các nước ASEAN, nhưng có nhiều lĩnh vực mà VN có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN như VN có thế mạnh trong xuất khẩu nông sản, hàng dệt và may mặc, và ta cũng có nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước ASEAN với giá thấp hơn từ các khu vực khác trên thế giới.

  • Một mặt Doanh nghiệp được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh so với các nước ngoài ASEAN về giá cả, mặt khác người tiêu dùng được hưởng lợi do giá cả rẻ hơn và chủng loại hàng hoá phong phú hơn.

  • Thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, tận dụng nhân công, sử dụng vốn và kỹ thuật cao trong khu vực


b. Khó khăn :


  • Lợi ích trực tiếp của nhà nước là nguồn thu ngân sách về thuế xuất nhập khẩu giảm.

  • Việc tham gia dẫn tới sự xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi quan thuế, nghĩa là xoá bỏ sự bảo hộ của chính phủ đối với các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tham gia thật sự vào cuộc chới cạnh tranh khốc liệt trên thị trường khu vực : cạnh tranh thúc đẩy sản cuất phát triển, nhưng đồng thời có thể làm điêu đứng và phá sản hàng loạt các doanh nghiệp, thậm chí hàng loạt ngành. Dẫn tới việc thay đổi cơ cấu kinh tế. Đây là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp Việt nam.


Tóm lại, gia nhập AFTA là bước tập duyệt đầu tiên cho nền kinh tế và các doanh nghiệp VN để chuẩn bị cho sự gia nhập thị trường thế giới rộng lớn và đầy sự cạnh tranh hơn.


  1. Quá trình thực hiện CEPT/AFTA :


A. Việt nam:
1. Những yêu cầu của CEPT -AFTA đối với Việt nam:
Căn cứ theo quy định của Hiệp định CEPT và thoả thuận giữa Việt nam và các nước thành viên khác của ASEAN, chương trình giảm thuế nhập khẩu theo CEPT của Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ 1/1/1996 và hoàn thành vào 1/1/2006 để đạt được mức thuế suất cuối cùng là 0-5%, chậm hơn các nước thành viên khác 3 năm.

Các bước cụ thể để thực hiện mục tiêu này bao gồm:



  • Xác định danh mục các mặt hàng thực hiện giảm thuế theo CEPT gồm: danh mục giảm thuế ngay (IL), danh mục loại trừ tạm thời (TEL), danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL), danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL).

  • Các mặt hàng thuộc danh mục IL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/1996 và kết thúc với thuế suất 0-5% vào 1/1/2006. Các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải giảm xuống 20% vào 1/1/2001. Các mặt hàng có thuế suất nhỏ hơn hoặc bằng 20% sẽ giảm xuống 0-5% vào 1/1/2003.

  • Các mặt hàng thuộc danh mục TEL sẽ được chuyển sang danh mục IL trong vòng 5 năm, từ 1/1/1999 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%, để thực hiện giảm thuế với thuế suất cuối cùng là 0-5% vào năm 2006. Đồng thời, các bước giảm sau khi đưa vào IL phải được thực hiện chậm nhất là 2-3 năm một lần và mỗi lần giảm không ít hơn 5%.

  • Các mặt hàng thuộc danh mục SL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1/1/2004 và kết thúc vào 1/1/2013 với thuế suất cuối cùng là 0-5%. Riêng mặt hàng đường vào năm 2010 :0-5%.

  • Các mặt hàng đã đưa vào chương trình giảm thuế và được hưởng nhượng bộ thì phải bỏ ngay các quy định về hạn chế số lượng (QRs) và bỏ dần các biện pháp hạn chế phi quan thuế khác (NTBs) 5 năm sau đó.


2. Tình hình thực hiện của ta cho đến nay :
a). Năm 1996 Việt nam đã công bố cho ASEAN các loại Danh mục: Danh mục cắt giảm thuế IL; Danh mục loại trừ tạm thời TEL; Danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhậy cảm SL và Danh mục loại trừ hoàn toàn GEL;

Nguyên tắc xây dựng phương án tham gia của Việt nam :


  • Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách

  • Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước

  • Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước

  • Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các qui định của Hiệp định CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.


Cụ thể :


  1. Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL):

Danh mục này được xây dựng phù hợp với Điều 9 của Hiệp định CEPT và bao gồm những nhóm mặt hàng có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, cuộc sống và sức khoẻ của con người, động thực vật, đến các giá trị lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ như các loại động vật sống, thuốc phiện, thuốc nổ, vũ khí,...

Danh mục này chiếm 6,6% tổng số nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu, và là các mặt hàng cụ thể như sau:


  • Thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện, xì gà, thuốc lá và rượu bia thành phẩm;

  • Các loại xỉ và tro;

  • Các loại xăng dầu (trừ dầu thô);

  • Các loại thuốc nổ, thuốc phóng, các loại pháo;

  • Các loại lốp bơm hơi cũ;

  • Các loại thiết bị điện thoại, điện báo hữu tuyến, vô tuyến, các loại thiết bị ra đa, các loại máy thu sóng dùng cho điện thoại, điện báo...;

  • Các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi, các loại ô tô và phương tiện tự hành có tay lái nghịch;

  • Các loại vũ khí, khí tài quân sự;

  • Các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động, đồ chơi cho trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục và trật tự an toàn xã hội;

  • Các loại hoá chất, dược phẩm độc hại, các chất phế thải, đồ tiêu dùng đã qua sử dụng;...



ii. Danh mục các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL):
Danh mục các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm của Việt nam bao gồm 26 nhóm mặt hàng, chiếm 0,8% tổng số nhóm mặt hàng của Biểu thuế nhập khẩu và là những mặt hàng cụ thể như: thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo lứt,..., được xây dựng căn cứ vào yêu cầu bảo hộ cao của sản xuất trong nước đối với một số mặt hàng nông sản chưa chế biến và theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng thời trên cơ sở tham khảo Danh mục này của các nước ASEAN khác. Các mặt hàng này đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như quản lý theo hạn ngạch hàng tiêu dùng, quản lý của Bộ chuyên ngành.
iii. Danh mục cắt giảm thuế ngay (IL):
Danh mục này chủ yếu bao gồm những mặt hàng trong Biểu thuế hiện đang có thuế suất dưới 20% - là những mặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi theo CEPT ngay và một số mặt hàng tuy có thuế suất cao nhưng Việt nam lại đang có thế mạnh về xuất khẩu. Tổng số nhóm mặt hàng trong Danh mục cắt giảm thuế quan là 1661, chiếm 51,6% tổng nhóm mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam. Tỷ lệ này thấp hơn so với các nước thành viên ASEAN khác khi họ bắt đầu thực hiện chương trình CEPT, nhưng đây là biện pháp an toàn nhất đối với Việt Nam.


  1. Danh mục loại trừ tạm thời (TEL):

Danh mục này chiếm khoảng 40,9% tổng số các dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu và chủ yếu là những mặt hàng sau:



  • Các loại ô tô (trừ các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi);

  • Xe đạp, các loại đồ chơi trẻ em;

  • Các loại máy gia dụng (như máy giặt, máy điều hoà, quạt điện,...);

  • Các loại mỹ phẩm và đồ dùng không thiết yếu;

  • Các loại vải sợi và một số đồ may mặc;

  • Các loại sắt, thép;

  • Các sản phẩm cơ khí thông dụng;...

Đây chủ yếu là các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng tuy có thuế suất thấp hơn 20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, hoặc các mặt hàng đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, hàng phải có giấy phép của Bộ quản lý chuyên ngành, hàng phải qua kiểm tra nhà nước về chất lượng, hàng phải qua kiểm tra về vệ sinh dịch tễ và hàng phải qua kiểm tra về an toàn lao động.

Ngoài ra theo quy định của CEPT, những mặt hàng nào của nước thành viên ASEAN công bố cắt giảm thuế quan và hưởng thuế suất ưu đãi từ các nước thành viên khác thì đồng thời cũng phải loại bỏ ngay các hạn chế về định lượng và trong thời hạn 5 năm sau đó, thực hiện loại bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu thông qua các hàng rào phi thuế quan khác. Việc Việt nam chưa đưa các mặt hàng này vào Danh mục cắt giảm thuế quan sẽ cho phép chúng ta có thêm 5 năm (kể từ năm mặt hàng được chuyển sang Danh mục cắt giảm cho tới khi phải loại bỏ các biện pháp hạn chế phi thuế quan) để hỗ trợ các ngành sản xuất và các doanh nghiệp trong nước làm quen dần với môi trường cạnh tranh. Đây là khoảng thời gian cần thiết để hỗ trợ cho các ngành sản xuất trong nước và tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước làm quen dần với môi trường cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động để nền kinh tế phát triển có hiệu quả hơn.

b) Đã trình Chính phủ thông qua lịch trình tổng thể thực hiện cắt giảm thuế cho cả giai đoạn 10 năm. Tuy nhiên, đây mới chỉ là danh mục định hướng để các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu có kế hoạch sản xuất kinh doanh, điều chỉnh cơ cấu sản xuất mà chưa công bố cho ASEAN. Đồng thời Danh mục này còn đang theo Biểu thuế XNK cũ ( theo mã HS cũ)


c) Chính phủ Việt Nam đã ban hành các nghị định về việc sửa đổi, bổ sung danh mục hàng hoá và thuế suất thuế nhập khẩu của việt nam để thực hiện CEPT theo đúng lộ trình. Cụ thể:

Nghị định 78/2003/NĐ-CP thực hiện Danh mục hàng hoá và thuế suất của Việt Nam để thực hiện CEPT 2003-2006 ban hành ngày 01/07/2003.

Sau đó, Chính phủ đã ban hành nghị định 151/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2004 về việc sửa đổi thế suất nhập khẩu một sô mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa và thuế suất của Việt Nam (chủ yếu là các mặt hàng thuộc về hóa chất).

Ngày 14/12/2004, chính phủ ban hành nghị định số 213/2004/NĐ-CP về việc bổ sung 19 mặt hàng vào danh mục hàng hóa và thuế suất của Việt nam thực hiện CEPT (chủ yếu là các mặt hàng phụ tùng mô-tô)

Ngày 03/02/2005, chính phủ ban hành nghị định số 13/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi và bổ sung danh mục hàng hóa và thuế nhập khẩu của việt nam để thực hiện CEPT các năm 2005-2013. Theo đó, trong 3 năm 2008-2010, sẽ có 325 mặt hàng được giảm thuế xuống còn 0%, chủ yếu là máy tính, máy in, điện thoại...



Tính đến hết tháng 8 năm 2007, tổng số mặt hàng Việt nam đã đưa vào danh mục giảm thuế để thực hiện CEPT là 10689 mặt hàng
B. ASEAN:
Cả ASEAN-6 và CLMV mới gia nhập sau này đều đã thực hiện tốt lộ trình AFTA, góp phần đẩy mức thuế XNK chung ở ASEAN xuống một mức thấp và ổn định: 2.66% vào năm 2007. Các nước CLMV đã thực hiện cắt giảm thuế đáng kể từ trên 7% xuống chỉ còn 4.24% (2000-2007), cũng như vậy ASEAN-6 đã cắt giảm thuế XNK, mặc dù không có sự chuyển biến mạnh mẽ như CLMV nhưng cũng khá tốt, xuống còn 1.59% năm 2007 (so với khoảng 3.5% năm 2000)

Lộ trình giảm thuế cho các hàng hóa thuộc danh mục IL cũng được các nước thực hiện rất tốt, đặc biệt là các thành viên gia nhập sau CLMV. Tính tới năm 2007, tỷ lệ các hàng hóa thuộc IL của họ đã cắt giảm thuế theo đúng lộ trình đạt 97.3%, góp phần giúp cho tỷ lệ hàng hóa thuộc IL trong lộ trình CEPT/AFTA đã giảm thuế lên đến 98.6%, một con số rất ấn tượng.




Tỷ lệ các hàng hóa thuộc IL được giảm xuống mức thuế suất 0% ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, tỷ lệ này ở các CLMV là chưa được cao, cần nhìn nhận một thực tế rằng, các nước gia nhập CLMV đều là những nước có nền sản xuất còn yếu, nếu đưa thuế suất về 0% cho quá nhiều mặt hàng, sẽ gây nguy hại cho nền kinh tế, do đó, việc duy trì thuế suất có ý nghĩa bảo hộ nhất định cho nền kinh tế


5. Những kết quả sau khi thực hiện AFTA:
a. Đối với Việt nam:
Việc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá Việt Nam thâm nhập vào thị trường các nước ASEAN. Hàng hóa việt nam có cơ hội tiếp cận một thị trường đa dạng nhu cầu mà không phải chịu sức ép về hàng rào thuế quan. Điều này đã mang lại những kết quả khả quan trong hoạt động xuất nhập khẩu của việt nam trong những năm vừa qua. Cụ thể:

Trong 5 năm(từ 2002 - 2006), tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm của Việt Nam sang các nước thành viên ASEAN đều cao. Cụ thể: Campuchia: 39,8%/năm; Indonesia: 36,1%/năm; Lào: 9,5%/năm; Malaysia: 30,8%/năm; Myanmar: 28,8%/năm; Philipines: 20,7%/năm; Singapore: 9,6%/năm; Thái lan: 28,9%/năm. Về cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, có hai mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch và tỷ trọng lớn nhất là dầu thô (thường chiếm tỷ trọng xung quanh mức 40% năm 2005 lên trên 46,6%), sau đó là gạo (chiếm tỷ trọng trên 10%). Các nước nhập khẩu gạo lớn trong ASEAN như Indonesia, Philipines, Malaysia đều coi gạo là mặt hàng đặc biệt quan trọng và thực hiện nhiều biện pháp phi thuế quan để quản lý mặt hàng này. Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang ASEAN đạt trên 1 tỷ USD và dự kiến năm 2008 sẽ vẫn duy trì mức này. Do lợi thế về vận tải và nhu cầu gạo phẩm cấp thấp phù hợp với sản xuất của Việt Nam nên thị trường ASEAN vẫn là thị trường quan trọng trong xuất khẩu gạo Việt Nam.

Bên cạnh đó, một số nước ASEAN đã và đang có nhu cầu tương đối lớn các loại rau quả, đặc biệt là các rau quả tươi. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các nước ASEAN còn khá khiêm tốn với 25 triệu USD trong năm 2007. Dự kiến, năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này sang ASEAN sẽ đạt 32 triệu USD, tăng 30% so với năm 2007.

Đối với mặt hàng cà phê, kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN năm 2007 đạt 145 triệu USD. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này năm 2008 đạt 155 triệu USD, tăng 7% so với năm 2007. 

Đối với mặt hàng thủy sản, năm 2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang ASEAN đạt 168 triệu USD. Dự kiến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt 200 triệu USD, tăng 20% so với năm 2007.

Đối với hàng dệt may và giầy dép, do có sự trùng hợp về cơ cấu sản xuất nên những mặt hàng này của Việt Nam khó có khả năng thâm nhập mạnh vào ASEAN. Tuy nhiên, năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu nhóm hàng này trị giá khoảng 175 triệu USD vào khu vực này. Năm 2008 và các năm tiếp theo, tận dụng những ưu đãi thuế để tăng cường xuất khẩu các sản phẩm dệt may, giầy dép sang các nước ASEAN. Dự báo năm 2008, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 202 triệu USD, tăng 15% so với năm 2007. Còn mặt hàng điện tử và linh kiện điện tử hiện nay chủ yếu do các công ty liên doanh tại Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN. Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này dự tính đạt 950 triệu USD, tăng 40% so với năm 2007.



Với những kết quả như trên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu (giá trị tuyệt đối) của việt nam vào ASEAN và ngược lại tăng trưởng mạnh qua các năm kể từ khi Việt nam bắt đầu gia nhập ASEAN và thực hiện lộ trình giảm thuế khi thực hiện CEPT/AFTA. Cụ thể, từ năm 1995 đến 2004, kim ngạch xuất khẩu của Việt nam vào ASEAN tăng gần 4 lần từ 1,112 tỷ USD lên đến 3,874 tỷ USD. Hoạt động nhập khẩu cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ từ 2,378 tỷ USD lên đến 7,7 tỷ USD vào năm 2004.


Năm

Xuất khẩu

(Tỷ US$)

Nhập khẩu

(Tỷ US$)

Tổng số

(Tỷ US$)

Cán cân thương mại

(Tỷ USD)

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

(6)

(7)

(8)

(9)




Kim ngạch

Tỷ trọng

Kim ngạch

Tỷ trọng

Kim ngạch

Tỷ trọng

Kim ngạch

Tỷ trọng

1995

1,112

20,4%

2,378

29,1%

3,490

23,9%

(-1,266)

46,7%

1996

1,364

18,8%

2,788

24%

4,152

33,4

(-1,424)

36,6%

1997

1,911

20,8%

3,166

27,3

5,077

25,5%

(-1,255)

52,1%

1998

2,372

25,3%

3,749

32,6

6,122

29,7%

(-1,377)

64,3%

1999

2,463

21,3%

3,288

28%

5,751

24,9%

(-0,825)

411%

2000

2,612

18%

4,519

29%

7,131

23,7%

(-1,907)

165,2%

2001

2,551

17%

4,226

26,1%

6,777

21,8%

(-1,675)

147,5%

2002

2,426

14,5%

4,770

24,2%

7,196

19,7%

(-2,344)

77,8%

2003

2,958

14,7%

5,957

24%

8,915

19,8%

(-2,999)

62,5%

2004

3,874

14,6%

7,766

24,7%

11,640

19,8%

(-3,892)

81,1%

(3): tỷ trọng xk sang các nước ASEAN trong tổng kim ngạch xk của Việt Nam với thế giới.

(5): tỷ trọng nk từ các nước ASEAN trong tổng kim ngạch nk của Việt Nam với thế giới.

(7): tỷ trọng kim ngạch thương mại với các nước ASEAN trong tổng kim ngạch xnk của Việt Nam với thế giới.

(9): tỷ trọng xuất siêu/nhập siêu với csác nước ASEAN trong tổng kim ngạch xuất siêu/nhập siêu của Việt Nam với thế giới
Theo số liệu mới nhất, năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN ước đạt 11 tỉ USD, con số này có thể là rất ấn tượng nếu so với các con số của những năm trước. Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định rằng, con số này chưa phản ánh đúng khả năng xuất khẩu của việt nam vào ASEAN. Kim ngạch xuất khẩu vào ASEAN của Việt nam đang tăng chậm, trong khi kim ngạch nhập khẩu từ ASEAN đang tăng tương đối nhanh nên nhập siêu từ khu vực này có xu hướng tăng mạnh. Hàng hóa từ các nước ASEAN tràn vào Việt nam một phần nhờ lợi thế cạnh tranh về mẫu mã, chất lượng, một phần là nhờ họ tận dụng được thuế suất 0-5% áp dụng theo CEPT/AFTA.

Ngược lại với nhiều mặt hàng đến từ các nước ASEAN, đa số hàng hóa của Việt Nam khi xuất khẩu sang các nước trong khu vực lại không tận dụng được thuế suất ưu đãi. Các doạnh nghiệp việt nam gặp khó khăn để chứng minh hàng hóa của họ có 40% nguyên liệu từ ASEAN. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp của chúng ta hầu hết đều chưa có một bộ phận phụ trách lĩnh vực này, gây ra sự thiếu sót trong thủ tục, khiến cho việc xin Mẫu D khó khăn hơn. Bên cạnh đó, các doang nghiệp việt nam là những người đi sau và hạn chế về cơ cấu sản xuất, trình độ công nghệ nên việc chứng minh hàm lượng ASEAN đạt được 40% là không hề đơn giản.

Hiện nay, do cơ cấu hàng sản xuất, xuất khẩu của chúng ta cũng giống như các nước trong ASEAN. Chúng ta cũng dựa trên nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, lắp ráp, chế biến… Cũng vì cơ cấu hàng tương tự, dung lượng thị trường, thu nhập của một số nước lớn trong ASEAN như Malaysia, Bruney thấp nên hàng hoá của chúng ta xuất khẩu sang cũng hạn chế. Chúng ta chủ yếu xuất khẩu nông sản vào ASEAN, còn những hàng giá trị cao chúng ta xuất sang Nhật Bản, EU, Mỹ. Thứ nữa, các doanh nghiệp việt nam còn hạn chế trong hiểu biết thị trường khu vực. Điều này cũng góp phần giải thích tại sao các doanh nghiệp việt nam chưa tận dụng được “cơ hội ASEAN”.

Đối với người tiêu dùng, việc hàng rào thuế quan được dỡ bỏ khi việt nam thực hiện lộ trình giảm thuế theo AFTA đã làm cho các mặt hàng tiêu dùng của các nước ASEAN xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường, điều này giúp cho người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn nhiều hơn với đa dạng mặt hàng, giá cả và chất lượng. Tiêu biểu nhất là các mặt hàng điện tử, đồ gia dụng, bánh kẹo, mỹ phẩm... Đồ điện tử nay đã có mức giá phải chăng hơn rất nhiều so trước khi Việt nam gia nhập thực hiện AFTA, thị trường đa dạng mẫu mã, thu hút người tiêu dùng. Có một số nguyên nhân lý giải cho điều này:


Thứ nhất, theo tập đoàn tư vấn Mc Kinsey (2003), hàng điện tử là một mặt hàng chủ lực của ASEAN, nó chiếm tới 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ASEAN, nay lại được thêm ưu đãi thuế quan, việc hàng điện tử ASEAN tràn ngập thị trường Việt nam cũng là điều dễ hiểu.

Thứ hai, các khu công nghệ cao ở ASEAN đã hình thành khá nhiều, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất điện tử vì thuế nhập khẩu linh kiện hiện nay vẫn khá cao (10%), quan trọng hơn, nó giúp cho nhà sản xuất dễ dàng hơn trong việc xin giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D, tạo điều kiện để hàng hóa của họ có thể được hưởng ưu đãi thuế theo CEPT/AFTA.

Nguồn vốn FDI từ ASEAN vào việt nam đang dần trên đà phục hồi sau khi tăng trưởng mạnh vào đầu những năm 90 và sụt giảm sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997. Đặc biệt, ngay sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA), tháng 1/1996, tốc độ thu hút FDI từ khi vực đã tăng nhanh chóng, đạt tới trên 7,8 tỷ USD vào thời điểm giữa năm 1997. Tuy nhiên, tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 đã khiến dòng vốn này chững lại và sụt giảm mạnh. Giai đoạn từ cuối năm 2000 đến nay được coi là thời kỳ phục hồi dòng vốn FDI từ ASEAN vào Việt Nam, cùng với đà phục hồi của các nền kinh tế thành viên khu vực này. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết tháng 5/2007, khu vực ASEAN có 1.179 dự án đầu tư được cấp phép tại Việt Nam, với tổng vốn trên 16 tỷ USD. Tuy nhiên những con số này vẫn chưa phản ánh đúng tiềm năng hợp tác của Việt nam và khu vực.


Những biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN

Để đẩy mạnh xuất khẩu sang các nước ASEAN, tham gia vào việc hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập khu vực nói riêng, doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm một số vấn đề sau đây:



  • Nắm bắt kịp thời những biến động trên thị trường thế giới cũng như ở các nước ASEAN có ảnh hưởng nhiều tới giao dịch và giá cả; tiếp đó là tình hình chính trị thiếu ổn định ở một số nước cũng tác động mạnh đến quan hệ thương mại và khả năng xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Có như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam mới điều chỉnh tốt chính sách thị trường, giá cả trong giao dịch.

  • Từ nay đến năm 2020, thị trường châu Á và các nước ASEAN vẫn tiếp tục giữ tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tương đối cao, doanh nghiệp Việt Nam cần tận dụng lợi thế vị trí địa lý gần và đây hầu hết là các thị trường buôn bán truyền thống, để đẩy mạnh những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dầu thô, hải sản, sản phẩm điện tử và máy vi tính, hàng dệt may, gạo, cao su và than đá...

  • Tăng cường cơ chế hợp tác thay cho sự cạnh tranh trên thị trường, nhất là việc cùng giao dịch chào bán và tham gia đấu thầu các mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su... mà Việt Nam và một số nước trong khu vực đều là nước có thế mạnh xuất khẩu, tránh được sự ép giá của các nhà nhập khẩu. Điển hình là mặt hàng gạo trong nhiều năm qua, Việt Nam và Thái Lan đã hợp tác xuất khẩu nên đã nâng được giá cả trên thị trường thế giới, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nông dân. Việc hợp tác tham gia đấu thầu và xuất khẩu gạo tại thị trường Philippines, Indonesia cũng cần được hai nước chú ý phối hợp tốt trong thời gian tới.

  • Công tác xúc tiến thương mại luôn là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với xuất khẩu. Cần xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu riêng cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam để đảm bảo chất lượng, ổn định thị trường tiêu thụ và thu hút sự quan tâm của khách hàng ngày càng nhiều.

  • Củng cố hoạt động của các Cơ quan thương vụ ở nước ngoài. Việc thành lập các phòng trưng bầy giới thiệu sản phẩm tại các nước phải được các cơ quan thương vụ quan tâm hơn.


b. Đối với ASEAN:
i. FDI:
Năm 2006, vốn FDI đầu tư vào ASEAN đã đạt mức 52.4 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2005. Điều này cũng chứng tỏ ASEAN đang là một điểm đầu tư triển vọng và là một trong những nơi thu hút FDI hàng đầu thế giới. Các nước chủ yếu cung cấp nguồn vốn FDI cho ASEAN gồm có: Nhật, Anh, Mỹ, Hà Lan và Đức, các nước này chiếm đến hơn một nửa số vốn FDI đầu tư vào ASEAN. Mặt khác, hai “nhà đầu tư” có nguồn vốn FDI đầu tư vào ASEAN tăng trưởng mạnh nhất đó là Hàn Quốc, tăng 90 % (từ 578 tỷ USD năm 2005 lên đến 1 tỷ USD vào năm 2006) và Trung Quốc tăng 87% (từ tỷ 502 USD năm 2005 lên 937 tỷ USD năm 2006)

Trong đó, FDI đầu tư nội vùng tăng trưởng rất mạnh mẽ, tăng đến 65.8% từ 3.765 tỷ USD lên đến 6,242 tỷ USD trong hai năm 2005-2006, điều này chứng tỏ đầu tư FDI nội vùng đang có sự chuyển biến mạnh mẽ. Tuy nhiên, xét về giá trị tương đối của FDI nội vùng so với FDI từ ngoài khu vực vẫn còn chiếm tỷ trọng chưa cao, chỉ chiếm khoảng 11.9%, điều này cũng là vấn đề cần cải thiện trong thời gian sắp tới.



Tuy nhiên, vốn FDI được phân bổ không đều cho các nước, nguồn vốn này chủ yếu tập trung ở các nước ASEAN-6 với 91.4%, trong khi 4 nước còn lại CLMV chỉ chiếm 8.6% (việt nam đã chiếm tới 6.7%). Điều này chứng tỏ các nước trong khu vực vẫn còn một khoảng cách khá lớn trong môi trường đầu tư và các yếu tố để trở thành một điểm đến đầu tư hấp dẫn.





ii. Thương mại:
Sau khi thực hiện xong lộ trình CEPT/AFTA ở ASEAN-6 vào năm 2003. Giao dịch thương mại ở các nước ASEAN đã tăng rõ rệt và có sự ổn định qua các năm, đạt 1.616 nghìn tỷ USD năm 2007. Trong đó, sự tăng trưởng trong lĩnh vực thương mại ngoại khối rất khả quan và đều đặn qua các năm, đạt đến 1.212 nghìn tỷ USD trong năm 2007. Mặt khác, thương mại nội khối tăng trưởng ổn định nhưng ở tỷ lệ thấp, chưa đáp ứng được mong đợi của các nước cũng như chưa phản ánh hết tiềm năng hợp tác giữa các nước trong khu vực, chỉ đạt 404 tỷ USD trong năm 2007.


Nhìn vào biểu đồ ở phía dưới ta có thể thấy, mặc dù nếu xét giá trị tương đối, thương mại nội vùng ASEAN không tăng trưởng nhiều, chỉ tăng trưởng ở một mức ổn định, nhưng nếu xét tỷ trọng này trong bối cảnh thương mại quốc tế đang tăng mạnh về giá trị cũng như nền kinh tế các nước trong khu vực chịu ảnh hưởng khá lớn từ các nền kinh tế ngoại vùng thì đó là một con số rất đáng khích lệ.


ASEAN đang dần thể hiện vị thế của mình trên thế giới với tư cách là một trong những nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới, chiếm đến 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu trên thế giới. Các mặt hàng thế mạnh của khu vực đó là Nông sản với Thái Lan và Việt nam là hai nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đồ gia dụng, may mặc, đồ điện tử...


ASEAN vẫn còn rất nhiều tiềm năng để hợp tác cùng phát triển trên đa dạng các lĩnh vực. Việc hiện nay đã có 9/10 nước ASEAN là thành viên đầy đủ của WTO cộng với sự nỗ lực của các nước thành viên trong việc hợp tác kinh tế, đẩy mạnh phát triển sẽ tạo điều kiện rất lớn để các nước tiếp tục hợp tác trong tương lai .




tải về 1.14 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương