Hiệp hội các nưỚC ĐÔng nam á


b.Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ V năm 1995



tải về 1.14 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích1.14 Mb.
#4241
1   2   3   4   5   6   7

  b.Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ V năm 1995:


Hội nghị diễn ra tại Bankok tháng 12/1995. Hội nghị đã có những quyết định và văn bản quan trọng sau:

  • Rút ngắn thời gian thực hiện AFTA từ 15 năm xuống còn 10 năm, và mở rộng hợp tác ASEAN sang lĩnh vực mới như dịch vụ, sở hữu trí tuệ, lập khu vực đầu tư ASEAN...

  • Ký kết Hiệp ước về một khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân  (SEANWFZ), là một văn kiện quan trọng tiến tới xây dựng Đông Nam á thành một khu vực hoà bình, ổn định.


c. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VI tại Hà Nội 16-17/12/1998:
Hội nghị đã thông qua các văn kiện quan trọng như Tuyên bố Hà Nội, Chương trình Hành động Hà Nội, Tuyên bố về các biện pháp mạnh mẽ (để cải thiện môi trường đầu tư ASEAN để tăng cường thi hút vốn từ các nước trên thế giới) và ký 4 Hiệp định hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể.

Hội nghị kết nạp Campuchia là thành viên thứ 10 của ASEAN.



 d. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VII tại Brunei Darussalam 5-6/11/2001


Hội nghị khẳng định lại Chương trình hành động Hà Nội (HPA) vẫn là định hướng quan trọng để thực hiện Tầm nhìn ASEAN; đẩy mạnh liên kết ASEAN; tập trung trao đổi vấn đề thu hẹp khoảng cách phát triển, giúp các thành viên mới.

Hội nghị cũng đã thông qua Tuyên bố chung chống khủng bố.



 

e. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ VIII tại Campuchia 4-5/11/2002
Các chương trình tăng cường được thông qua với các biện pháp chính sau:

  • Tăng cường thương mại, đầu tư, giảm hàng rào phi quan thuế, cải thiện môi trường đầu tư để tăng buôn bán, đầu tư nội khối .

  • Nâng cao khả năng cạnh tranh  của ASEAN.

  • Tập trung triển khai các dự án ưu tiên, nhất là về thu hẹp khoảng cách, giúp các thành viên mới, phát triển Tiểu vùng như Mekong.

  • Xác định lại mục tiêu phát triển của ASEAN và nghiên cứu chiến lược phát triển của Hiệp hội để tiến tới hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN có tính đến những kinh nghiệm của Liên minh Châu âu.

  • Ký Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN – Trung Quốc, theo đó dự kiến thời điểm hoàn thành Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN - Trung Quốc là năm 2010 (với 6 nước ASEAN cũ) và 2015 với 4 nước ASEAN mới.

Cấp cao ASEAN - Ấn Độ lần đầu tiên được tổ chức và các nhà Lãnh đạo ASEAN đã nhất trí họp Cấp cao ASEAN + Ấn Độ hàng năm.

   f. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IX tại Bali, Indonesia, 7-8/10/2003


  • Lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (Tuyên bố Bali II) nêu những định hướng chiến lược lớn của ASEAN với mục tiêu thành lập một cộng đồng ASEAN liên kết mạnh, tự cường vào năm 2020 với ba trụ cột chính là hợp tác chính trị-an ninh (Cộng đồng An ninh ASEAN-ASC), hợp tác kinh tế (Cộng đồng kinh tế ASEAN-AEC), và hợp tác xã hội/văn hoá (Cộng đồng xã hội/văn hoá ASEAN-ASCC).

  • Nhật Bản ký với ASEAN Khuôn khổ Đối tác Kinh tế toàn diện (CEP), cụ thể hoá các bước đi xây dựng CEP ASEAN-Nhật trong đó có Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Nhật. Trung Quốc, Ấn Độ chính thức tham gia Hiệp ước Thân thiện và hợp tác (TAC).


g. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ X và các Cấp cao liên quan tại Viên chăn, Lào, 28 – 30/11/2004: Tại hội nghị một số quyết định quan trọng được thông qua:

  • Để thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020 và Tuyên bố Bali II, các vị Lãnh đạo ASEAN đã ký Chương trình Hành động Viên chăn (VAP) sau khi hoàn tất  Chương trình Hành động Hà Nội (HPA) nhằm xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột về chính trị-an ninh, kinh tế, văn hoá xã hội, trong đó có hợp phần về IAI nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên ASEAN.

  • -Thông qua các Kế hoạch Hành động xây dựng Cộng đồng An ninh ASEAN (ASC) và Cộng đồng Văn hoá - xã hội ASEAN (ASCC).

  • -Ký Hiệp định khung và lộ trình hội nhập về 11 lĩnh vực ưu tiên liên kết của ASEAN nhằm xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).            .

  • Tại Hội nghị, các vị Lãnh đạo ASEAN cùng với Australia và New Zeland đã ký “Tuyên bố chung của các Lãnh đạo nhân dịp Cấp cao kỷ niệm ASEAN với Australia và New Zeland”, đề ra phương hướng và biện pháp tăng cường quan hệ đối thoại trong thời gian tới.

  • Hàn Quốc và Nga đã chính thức tham gia vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC)


h.Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 tại Singapore, 19-22/11/2007


  • Tại Hội nghị Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN, tạo cơ sở pháp lý và thể chế cho Hiệp hội gia tăng liên kết khu vực.

  • -Công bố kế hoạch Cộng đồng ASEAN, ký Đề cương Cộng đồng Kinh tế và nhất trí sớm hoàn tất Đề cương Cộng đồng Chính trị-An ninh và Văn hóa-Xã hội để thông qua tại Cấp cao ASEAN-14.

  • Việt Nam là thành viên thứ 5 trong khối chính thức phê chuẩn Hiến chương ASEAN.

Nhân dịp này, Lãnh đạo các nước ASEAN đã ký Tuyên bố ASEAN về Môi trường bền vững và Tuyên bố ASEAN về Hội nghị lần thứ 13 các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu.
 

5. Nguyên tắc hoạt động:
a. Nguyên tắc về quan hệ song phương và đa phương:
Trong quan hệ với nhau, các thành viên của khối đều tuân theo 6 nguyên tắc chính được nêu lên trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Hiệp ước Bali), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Bali năm 1976, là:

  • Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc;

  • Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;

  • Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

  • Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;

  • Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;

  • Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.


b. Nguyên tắc điều phối hoạt động: Có 3 nguyên tắc chủ yếu là nguyên tắc nhất trí, nguyên tắc bình đẳng và nguyên tắc 6-X


  • Nguyên tắc nhất trí (consensus): Mọi quyết định về các vấn đề quan trọng chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình đàm phán lâu dài, nhưng đảm bảo được lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên. Đây là một nguyên tắc được áp dụng tại các cuộc họp ở mọi cấp và về mọi vấn đề của ASEAN. Để tránh gây ảnh hưởng, có những vấn đề sẽ được thực hiện theo nguyên tắc nhất trí toàn bộ, nhất trí tương đối và nhất trí tuyệt đối.

  • Nguyên tắc bình đẳng: thể hiện trên hai mặt, thứ nhất là các nước ASEAN, không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi; thứ hai, họat động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên, các chức chủ tọa các cuộc họp ASEAN từ cấp chuyên viên đến cao cấp, cũng như địa điểm cho các cuộc họp đều phân đều cho các nước thành viên trên cơ sở luân phiên theo vầ A, B, C của tiếng Anh.

  • Nguyên tắc 6-X: được thỏa thuận tháng 02/1992 theo nguyên tắc này, một dự án hoặc kế hoạch chung của ASEAN nếu 2 hoặc nhiều nước ASEAN chấp nhận thực hiện, thì cứ tiến hành trước dự án chứ không đợi tất cả các nược thành viên thực hiện mới tiến hành.

Bên cạnh đó còn có một số nguyên tắc dần hình thành, tuy không thành văn nhưng mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng.

II. Quan hệ hợp tác trong khối ASEAN :


    1. Hợp tác chính trị và an ninh :


a. Tổng quan:
Trong giai đoạn đầu của quá trình thành lập, các nước ASEAN tập trung chủ yếu vào hợp tác kinh tế văn hóa, chính trị là một vấn đề nhạy được được các nước ASEAN đề cập khá thận trọng trong quá trình hợp tác và tìm hiểu lẫn nhau.Trong tuyên bố thành lập đầu tiên, các nước ASEAN chỉ cẩn trọng tuyên bố : “Tôn trọng sự công bằng và Luật pháp của Liên Hợp Quốc trong trong các vấn đề” (nguyên văn “respect for justice and the rule of law” and “adherence to the principles of the United Nations Charter.”). Trong thập niên đầu tiên từ lúc thành lập, các nước ASEAN dần xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau trong các vấn đề và nhận ra rằng để hợp tác thành công thì các nước ASEAN phải tránh sự can thiệp về chính trị của các thế lực bên ngoài vào các vấn đề nội bộ. Vì thế, các nước ASEAN cố gắng xây dựng một tổ chức hợp tác khu vực để cùng phát triển hơn là một tổ chức khu vực quân sự như phần lớn các tổ chức khu vực khác tồn tại trong Chiến tranh lạnh. Trong thời gian đó, những nguyên tắc hợp tác chính trị quan trọng và trở thành nền tảng vững chắc và quan trọng cho sự hợp tác của các nước ASEAN cho đến hiện nay :

  • Tôn trọng độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, quyền bĩnh đẳng của nhau

  • Quyền của mỗi thành viên tồn tại tự do khỏi sự can thiệp của các thế lực bên ngoài

  • Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

  • Giải quyết các sự bất đồng và tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình

  • Hợp tác hiểu quả giữa các nước.


b. Một số thành tựu hợp tác chính trị :
Từ 1967, ASEAN đã đóng góp to lớn cho hòa bình và sự ổn định của khu vực và xây dụng mối quan hệ với các quốc gia, lãnh thổ và tổ chức khác. Một số thành tựu tiêu biểu :

  • Vào ngày 27/11/1971 các bộ trưởng ngoại giao kí Tuyên bố Khu vực hòa bình, tự do, trung lập - Zone of Peace, Freedom and Neutrality (ZOPFAN) Declaration.

  • 5 năm sau một loạt các bước hợp tác chính trị quan trọng được thông qua tại Hội nghị cao cấp lần 1 ở Bali. 3 tài liệu quan trọng đã được thông qua :

  • Tuyên bố về Hiệp ước ASEAN - the Declaration of ASEAN Concord. Đây là lần đâu tiên các nước ASEAN mở rộng hợp tác chính trí. Hiệp ước nhắc lại những nguyên tắc về một khu vực ổn định và chương trình hành động hợp tác chính trị nhằm

  • Hiệp ước Tình hữu nghị và hợp tác ở khu vực Đông Nam Á - the Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia (TAC). Hiệp ước này chủ yếu cung cấp cơ chế để giải quyết các bất đồng giữa các nước trong khu vực. Hiện nay, nó vẫn là một hiệp định quan trong của ASEAN.

  • Thỏa thuận về việc thành lập Ban thư kí ASEAN - Agreement Establishing the ASEAN Secretariat.

  • Vào ngày 15/12/1995, tai Hội nghị cao cấp lần thứ 15 tại Bangkok, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á Phi Hạt nhân - Treaty on the Southeast Asia Nuclear Weapon-Free Zone (SEANWFZ). Hiệp ước chính thức có hiệu lực vào ngày 27/3/1997.

  • Một trong những hợp tác quan tọng nhất trong lịch sự ngoại giao của ASEAN là giải quyết vấn đề Xung đột Campuchia. Các nước ASEAN đã hợp tác thành lập Hội Đông tối cao Campuchia dưới sự trợ giúp của Liên Hợp Quốc để thực hiện các biện pháp mang lại hòa bình cho Campuchia. Đến 30/4/1999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN, đánh dấu một kỉ nguyên mới của ASEAN bao gồm đầy đủ các thành viên trong khu vực..


c. Diễn đàn Khu vực ASEAN – ASEAN Regional Forum (ARF) :
Vào đầu thập niên 1990, khi Liên Xô sụp đổ, chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều vấn đề chính trị quân sự khác nhau xuất hiện, mâu thuẫn và xung đột xảy ra rộng khắp thế giới, các nước ASEAN nhận thấy cần xây dựng một cơ chế để tăng cường sự đối thoại hiểu biết giữa các quốc gia ASEAN và giữa ASEAN với các nước khác để đối mặt với tình hình mới. 1994, Diễn đàn Khu vực ASEAN – ASEAN Regional Forum (ARF) đa được thành lập nhằm mục tiêu trên. Các mục tiêu của Diễn đàn khu vực ASEAN được quy định rõ trong tuyên bố của các nhà lãnh đạo ARF đầu tiên (1994), đó là:

  • Tăng cường đối thoại hợp tác và hội đàm các vấn đề chính trị và an ninh của các nước có chung lợi ích và mối quan tâm; và

  • Đóng góp đáng kể vào những nỗ lực nhằm xây dựng một khu vực đáng tin cậy và dân chủ ở châu Á – Thái Bình Dương.

Cuộc họp Bộ trưởng lần thứ 27 cũng đã khẳng định "ARF sẽ trở thành một diễn đàn tư vấn có hiệu quả ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhằm thúc đẩy đối thoại cởi mở về hợp tác an ninh và chính trị ở khu vực. Trong bối cảnh đó, ASEAN nên làm việc với các đối tác của ARF để xác lập các mối quan hệ có tính xây dựng và dự đoán được ở châu Á Thái Bình Dương".

Hiện nay, ARF bao gồm 25 quốc gia có cùng mối quan tâm đến an ninh khu vực châu Á Thái Bình Dương. Đó là 10 quốc gia thành viên của ASEAN; 10 nước đối tác đối thoại của ASEAN (bao gồm Úc, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, NgaHoa Kỳ), một quan sát viên của ASEAN (Papua New Guinea), cùng với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Mông CổPakistan. Đông Timo được kết nạp vào ARF vào năm 2005.



Về cơ chế làm việc, Bộ ngoại giao và thương mại chịu trách nhiệm về các chính sách của ARF, cộng với sự tham vấn của Bộ quốc phòng. Các cuộc họp của ARF được tổ chức hàng năm ở cấp Bộ trưởng ngoại giao. Chủ tịch của ASEAN, được luân phiên hàng năm, cũng là chủ tịch của ARF. Văn bản chính thức chủ yếu của ARF là tuyên bố của chủ tịch ARF được phát hành ngay sau khi mỗi cuộc họp bộ trưởng diễn ra. Diễn đàn ARF còn được hỗ trợ bằng các cuộc họp quan chức cấp cao ARF (ARF SOM), được tổ chức hàng năm vào tháng 5 hoặc tháng 6. Hai cuộc họp khác của Nhóm hỗ trợ liên ngành khác của ARF về các Biện pháp xây dựng lòng tin (ISG on CBMs) cũng được tổ chức hàng năm ở cấp quan chức, được điều hành bởi một nước thành viên ASEAN và một nước không phải là thành viên của ASEAN.

2. Hợp tác kinh tế :
a. Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp :
Hợp tác nông nghiệp ASEAN bắt đầu từ khoảng thời gian 1968, không lâu sao khi ASEAN được thành lập. Mục tiêu ban đầu là đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm giữa các nước trong khối. Đến năm 1977, quan hệ hợp tác này được mở rộng sang lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp. Đến hiện nay, các lãnh vực cụ thể trong quan hệ hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp bao gồm: cây trồng, an toàn thực phẩm, chăn nuôi, ngư nghiệp, đào tạo và hợp tác nông nghiệp, hợp tác khai thác các sản phẩm rừng và nông nghiệp.

Mục tiêu chính của Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp là tăng cường và thực hiện các hoạt động hợp tác nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông lâm thủy sản ASEAN cũng như thúc đẩy thực hiện an toàn thực phẩm trong khu vực và hướng ra thế giới.

Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệp được điều hành bởi Hội Nghị Bộ trưởng Nông nghiệp và Lâm Nghiệp ASEAN ( ASEAN Ministers on Agriculture and Forestry - AMAF). Ngoài ra, còn có sự trợ giúp của SOM, và các tiểu ban phụ như Hội nghị, Nhóm thư kí, Ban điều hành để soạn thảo các chính sách và thực hiện các hoạt đông được ra trong khung thời gian cho phép. Trong một số năm gần đây, AMAF còn được tổ chức dưới hình thức AMAF +3, nhằm đẩy mạnh hợp tác ngoài khu vực với các đối tác khác.

Một số văn bản hợp tác gần đây của AMAF :



  • Ghi nhớ về tăng cường hợp tác vệ sinh dịch tễ giữa ASEAN và CHND Trung Hoa năm 2007 (Memorandum of Understanding between the Association of Southeast Asian Nations and the Government of the People's Republic of China on Strengthening Sanitary and Phytosanitary Cooperation, Singapore, 20 November 2007)

  • Tuyên bố về tăng cường Luật Kiểm soát và Thực hiện Luật Kiểm Lâm năm 2007 (ASEAN Statement on Strengthening Forest Law Enforcement and Governance (FLEG), Bangkok, 1 November 2007)

  • Hiệp định về thành lập Quỹ Sức Khỏe Động Vật ASEAN năm 2006 (Agreement for the Establishment of ASEAN Animal Health Trust Fund, Singapore, 17 November 2006)

  • Ghi nhớ về hợp tác nông nghiệp giữa TKK ASEAN và Bộ trưởng Nông Nghiệp CHND Trung Hoa năm 2002 ( Memorandum of Understanding Between the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) Secretariat and the Ministry of Agriculture of the People’s Republic of China on Agricultural Cooperation, Phnom Penh, 2 November 2002)

  • Ghi nhớ về Bảo vệ và Bảo Tồn rùa biển ASEAN năm 1997 (Memorandum of Understanding on ASEAN Sea Turtle Conservation and Protection(12-September 1997)

b. Hợp tác Hải Quan:
Vào hội nghị ASEAN lần thứ 9 năm 2003 đã thông qua Chương trình hải quan bao gồm những vấn đề chủ yếu :

  • Thực hiện Hành Lang Xanh (Green Lines) cho những sản phẩm ưu đãi theo chương trình CEPT tại hải quan cửa khẩu của những nước thành viên.

  • Thực hiện hiệp ước WTO về định giá hàng hóa và hướng dẫn thực hiện các biện pháp phù hợp hải quan trước cuối 2004.

  • Cam kết danh vực dành cho cá nhân từ cơ quan quản lý Hải quan các nước thành viên.

  • Áp dụng chế độ một cửa bao gồm hệ thống xử lý tài liệu thương mại tự động cho từng quốc gia và khu vực.

Vì thế các quan chức Hải quan các nước ASEAN hợp tác xây dựng Bản hướng dẫn định giá Hải Quan ASEAN - the ASEAN Customs Valuation Guide (ACVG).Vào Hội nghị Thủ trưởng các Cơ quan Hải Quan ASEAN lần 2 năm 2004 tại Brunay đã họp và nhất trí việc trao đổi thông tin về hàng hóa được sử dụng để các doanh nghiệp để định giá hải quan để hỗ trợ cho vấn đề xây dựng chính sách hải quan. Ngoài ra, hàng loạt những vấn đề về kĩ thuật hải quan, tên gọi, chuẩn hóa thông tin, hài hòa những thông lệ hải quan theo phương pháp định giá chung của WTO/GATT.

Hiện nay, ASEAN đang xây dựng một danh mục biểu thuế hài hòa chung ASEAN (AHTN). Danh mục biểu thuế này sẽ dựa trên dựa trên phiên bản mới nhất của hệ thống Hài Hòa miêu tả và mã số hàng hóa mới nhất do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành.













Tổng kim ngạch xuất khẩu trong và ngoài ASEAN (nguồn http://www.aseansec.org/)


c. Hợp tác Công nghiệp :
Từ ngày thành lập đến nay ASEAN đã có 5 chương trình hợp tác công nghiệp giữa các nước thành viên trong lĩnh vực công nghiệp.

  • Các dự án công nghiệp ASEAN được thông qua tại Hội nghi thượng đỉnh ASEAN lần 1 (1976)

  • Các liên doanh công nghiệp ASEAN (AUV – ASEAN Industrial Joint Venture) bắt đầu từ 1/1983

  • Bổ sung công nghiệp ASEAN (AIC – ASEAN Industrial Complementation) đưa ra 6/1991.

  • Liên kết sản xuất chung Nhãn Mác (BBC – Brand brand complementation) khởi đầu từ 10/1988

  • Chương trình hợp tác công nghiệp (ASEAN Industrial Cooperation – AICO) được kí tại Singapore 27/4/1996 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/11/1996 dùng để thay thế cho BBC và AIJC.

Mục đích chủ yếu của AICO là khuyến khích liên kết sản xuất giữa các xí nghiệp của các nước ASEAN, kể cả các xí nghiệp vừa và nhỏ, và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ASEAN. Các sản phẩm được sản xuất bởi các xí nghiệp tham chương trình AICO được hưởng mức ưu đãi thuế quan tối đa của chương trình CEPT là 0-5% và các khuyến khích phi thuế quan do từng nước quy định . Đây là một dạnh đẩy nhanh thực hiện AFTA trước thời hạn đối với các sản phẩm được chế tạo bởi các liên kết sản xuất trong ASEAN.


Tổng kế những ứng dụng được phê chuẩn của các nước thành viên AICO (nguồn http://www.aseansec.org/)
d. Chương trình hợp tác đầu tư :
ASEAN là một trong khu vực thu hút đầu tư hàng đầu thế giới vì thế cộng đồng ASEAN luôn khẳng định cam kết cung cấp cho các nhà đầu tư một môi trường cạnh tranh và hấp dẫn cho nhà đầu tư và các hoạt động kinh doanh. Vào tháng 7/1998 ASEAN kí hiệp định thành lập khu đầu tư ASEAN (AIA – ASEAN Investment Area) để cung cấp một môi trường tự do kinh doanh, đầu tư, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.

Mục tiêu chính của AIA là :



  • Hợp tác để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN từ các nguồn trong và ngoài ASEAN.

  • Dành nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT – National Treatment) cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020.

  • Mở cửa tất ca các ngành công nghiệp cho cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020.

  • Thúc đẩy sự di chuyển vốn, lao động có tay nghề, công nghệ giữa các nước thành viên ASEAN.

Hiệp định AIA đã mở rộng sang các ngành sau : sản xuất, nông nghiệp, khai khoáng, nông lâm nghiệp, và dịch vụ (có giới hạn một số ngành). Cung cấp thông tin minh bạch trong chính sách, luật, thủ tục hành chính đầu tư. Xóa bỏ hàng rào đầu tư và tự do hóa luật và chính sách đầu tư của tất cả những khu vực được quy định trong Hiệp định.

Để thực hiện nội dung của Hiệp định AIA, ASEAN đề ra 3 chương trình :



  • Chương trình hợp tác và thuận lợi hóa

  • Chương trình xúc tiến và nhận thức.

  • Chương trình tự do hóa.

Mỗi nước ASEAN sẽ tự vách ra các kế hoạch hành động để cụ thể hóa các chương trình nói trên. Cứ mỗi 2 năm 1 lần, các kế hoạch của từng quốc gia sẽ được rà soát để đảm bảo tiến độ thực hiện AIA.
e. Chương trình hợp tác về dịch vụ :
Dịch vụ là một lĩnh vực khá quan trọng trong khối ASEAN. Để phát triển tự do hóa tự do thương mại dịch vụ trong khối, 12/1995 Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN trong Hội nghị cao cấp ASEAN lần 5 đã thông qua Hiệp định khung dịch vụ ASEAN (AFAS).

AFAS nhằm mục tiêu xóa bỏ mọi rào cản thương mại dịch vụ trong những quốc gia ASEAN để tăng khả năng cạnh tranh của những nhà cung cấp dịch vụ ASEAN. AFAS cung cấp sự hướng dẫn rộng rãi cho các nước thành viên ASEAN để cải thiện khả năng tiếp cận thị trường và đảm bảo Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia trong quốc gia ASEAN. Tất cả các quy định của AFAS bám sát luật quốc tế được quy định của GATS và WTO.

Hiện tại, ASEAN đã đạt được 6 gói cam kết được thông qua 4 vòng đàm phán. Những gói cam kết sẽ cung cấp thông tin chi tiết cho mỗi những thành viên trong nhiều lịch vực dịch vụ khác nhau. Ngoài ra còn có 2 gói cam kết bổ sung trong lịch vực tài chính (the second and third Package of Commitments of Financial Services under the AFAS) được kí kết bởi các Bộ trưởng Tài chính ASEAN và 2 gói bổ sung về lịch vực vận tải hàng không (the Fourth and Fifth Packages of Commitments on Air Transport Services under the AFAS) được Bộ trưởng giao thông các nước kí kết.

Các thành viên ASEAN tiếp tục làm việc để mở rộng đàm phán đến những lĩnh vực còn lại. Trong đó, Bản dự thảo Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community Blueprint ) tại Hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo ASEAN lần thứ 13 tại Singapore đã đề xuất thực hiện những bước cơ bản tiếp theo để tự do hóa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ trước 2015. Ngoài ra, các nước còn thỏa thuận sẽ thực hiện công nhận lẫn nhau trình độ giáo dục, kinh nghiệm, giấy chứng nhận hoặc giấy phép hành nghề trong việc cấp giấy phép hoặc giấy chứng nhận cho những nhà cung cấp dịch vụ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ giữa các nước.



Bản tỷ lệ các ngành trong GDP của các nước ASEAN(nguồn http://www.aseansec.org/)


f. Hợp tác tài chính ngân hàng :
Chương trình nổi bật đầu tiên của ASEAN trong lĩnh vực tài chính ngân hàng là thỏa thuận trao đổi (Swap Arrangment) giữa các ngân hàng trung ương và các cơ quan tiền tệ ASEAN được kí kết tại Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 2 (1977) nhằm cung cấp kịp thời các khoản tín dụng quanh tế ngắn hạn cho các nước thành viên đang gặ hó khăn tong thanh toán quốc tế. Thỏa thuận này hết hạn vào năm 1992 và được gia hạn thêm 5 năm đến 1997. Hiện nay các nước đang dàm phán về hoạt dodongj tiếp theo nhằm thiết lập một diễn đàng giữa các ngân hàng trung ương của các nước thành viên. Các nước ASEAN cũng đã nhất trí tiếp tục công tác theo dõi các vấn để tài chính quốc tế ccso thể có ảnh hưởng đến ASEAN để kịp thời có biện pháp xử lý.

Trong giai đoạn sau 1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã có nhiều tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế ASEAN vì thế các nước ASEAN đã tích cực hợp tác để hỗ trợ nhau trong cuộc khủng hoảng và đề phòng cũng như dự báo các cơn khủng hoảng kinh tế khác trong tương lai.

Nhằm mục tiêu trên, tại hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN vào 2004, chương trình Tiến trình giám sát ASEAN (ASEAN Surveillance Process - ASP) đã được thành lập. ASP bao gồm những mục tiêu sau :


  • Thứ nhất, là sự giám sát phát triển kinh tế và tài chính quốc gia, khu vực cũng như toàn cầu. Việc giám sát phục vụ cho hai mục đích: theo dõi tiến trình phục hồi và phát hiện bất cứ dấu hiệu nào của việc tái phát tính dễ bị tổn thương trong các nền kinh tế ASEAN. Kết quả của tiến trình giám sát được thông báo cho các bộ trưởng tài chính hai năm một lần;

  • Thứ hai, là xét duyệt công bằng (Peer review), cung cấp một diễn đàn, trong đó các Bộ trưởng tài chính ASEAN có thể trao đổi các quan điểm và thông tin về những phát triển tại các nền kinh tế trong nước, bao gồm các cả biện pháp chính sách đã được thực hiện và tiến trình cải cách cơ cấu. Sự xét duyệt tạo ra một cơ hội cân nhắc các hành động tập thể hoặc đơn phương nhằm phản ứng trước những mối đe doạ tiềm năng đối với một nền kinh tế thành viên bất kỳ. ASP có vai trò như một cơ chế cảnh báo sớm.

Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng vach ra lộ trình hội nhập tài chính ASEAN nhằm mục đích tăng cường các cơ chế hỗ trợ và tự lực trong khu vực. Việc thực hiện lộ trình này sẽ đóng góp cho hiện thực hoá Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã được các nhà lãnh đạo ASEAN đưa ra vào tháng 10 năm 2003 tại Bali. AEC là mục tiêu cuối cùng của tiến trình hội nhập kinh tế như đã được phác thảo trong Viễn cảnh ASEAN 2020 và Đồng thuận Bali II (Bali Concord II) nhằm thiết lập một thị trường thống nhất và một nền tảng sản xuất được đặc trưng bằng sự luân chuyển tự do hàng hoá, dịch vụ, đầu tư và các luồng vốn. AEC sẽ tạo điều kiện cho sự thuyên chuyển các nhà kinh doanh, lao động có kỹ năng và các nhân tài trong khu vực.

Ngoài ra, ASEAN cũng hướng đến thành lập một Cộng đồng kinh tế theo như mô hình cộng đồng kinh tế của EU. Cũng giống như EU, việc thông qua một đồng tiền chung ASEAN khi đạt đủ các điều kiện thích hợp sẽ là giai đoạn cuối của một Cộng đồng kinh tế ASEAN. Tuân theo lộ trình này, các cách tiếp cận và các mốc phát triển cần được xác định trong các lĩnh vực được cho là có tính quyết định đối với sự hội nhập về tiền tệ và tài chính, đó là: (a) Phát triển thị trường vốn; (b) Tự do hoá tài khoản đầu tư; (c) Tự do hoá các dịch vụ tài chính; (d) Hợp tác tiền tệ ASEAN. Việc phát triển thị trường vốn đòi hỏi đẩy mạnh năng lực về thể chế, bao gồm khuôn khổ luật pháp và các quy định, cũng như tạo điều kiện cho các mối quan hệ hợp tác xuyên biên giới lớn hơn và làm hài hoà các thị trường vốn trong khu vực. Sự hợp tác về tiền tệ trong ASEAN sẽ tiến đến xem xét khả năng ký kết các thoả thuận về tiền tệ, bao gồm cả một hệ thống thanh toán tiền tệ ASEAN phục vụ cho trao đổi hàng hoá địa phương nhằm làm giảm nhu cầu thanh toán bằng đồng đôla và giúp đẩy mạnh sự ổn định của các đồng tiền trong khu vực, ví dụ như là có thể thiết lập một nền thương mại bên trong khu vực ASEAN sử dụng các đồng tiền khu vực.


g. Các hợp tác kinh tế khác :


  • Viễn thông và công nghệ thông tin - Telecommunications and IT

  • Phát triển khu vực - Growth Areas

  • Quyền sở hữu trí tuệ - IAI Intellectual Property

  • Khoáng sản và dịch vụ năng lượng - Investment Minerals & Energy Services

  • Doanh nghiệp vừa và nhỏ - SMEs

  • Tiêu chuẩn và thống nhất tiêu chuẩn - Standard & Conformance

  • Du lịch - Tourism

  • Giao thông vận tải - Transportation



tải về 1.14 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương