Hỏi Đáp Về Aqi-dah



tải về 1.24 Mb.
trang6/7
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích1.24 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

{Hãy bảo họ: “Hỡi người dân Kinh sách! Chớ thái quá trong tôn giáo của các người một cách sai trái và cũng chớ đi theo đám người lạc đạo trước đây bởi vì chúng đã dắt nhiều người lầm lạc và tự chúng cũng đã tự lạc khỏi con đường ngay chính (của Islam)” } (Chương 5 – Al-Ma-idah, câu 77).

Những người dân Kinh sách là những người Do thái và Thiên Chúa. Những người Do thái thì thái quá trong việc xúc phạm đối với Nabi Ysa u, họ cho rằng Người là đứa con được hình thành từ sự dâm loàn của mẹ Người, còn những người Thiên Chúa thì thái quá trong việc ca ngợi Người đến mức tôn Người lên ngang hàng với Thượng Đế, họ đã tôn Người lên làm Đấng Thờ Phượng, họ tự gán cho Allah là Chúa ba ngôi (Maryam, Allah và Ysa) trong khi Allah tối cao và vĩ đại hơn những gì họ đã gán cho Ngài.

Allah I phán:

﴿ لَّقَدۡ كَفَرَ ٱلَّذِينَ قَالُوٓاْ إِنَّ ٱللَّهَ ثَالِثُ ثَلَٰثَةٖۘ وَمَا مِنۡ إِلَٰهٍ إِلَّآ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞۚ ﴾ [سورة المائدة: 73]

{Chắc chắn là không có đức tin những ai nói: “Quả thật, Allah là Đấng thứ ba trong ba ngôi”. Quả thật, Thượng Đế thì chỉ có một Thượng Đế duy nhất mà thôi.} (Chương 5 – Al-Ma-idah, câu 73).

Quả thật, họ còn thái quá trong sự biểu hiện tình yêu thương và lòng kính trọng những người ngoan đạo, họ yêu thương và kính trọng những người ngoan đạo đến tôn thờ và súng bái, họ trở thành những người thờ phượng như ai (vật) khác Allah I. Sự thái quá là nguyên nhân đầu tiên cho sự Shirk xảy ra trong con cháu của Adam như nó đã xảy ra với cộng đồng Nuh u. Họ là những người đầu tiên sáng lập ra điều Shirk và Nuh u là vị Thiên sứ đầu tiên được Allah I cử phái đi kêu gọi mọi người trở về sự độc tốn hóa Ngài (Tawhid) và cảnh báo họ vệ Shirk. Allah I phán:



﴿ إِنَّآ أَرۡسَلۡنَا نُوحًا إِلَىٰ قَوۡمِهِۦٓ أَنۡ أَنذِرۡ قَوۡمَكَ مِن قَبۡلِ أَن يَأۡتِيَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٞ ١ قَالَ يَٰقَوۡمِ إِنِّي لَكُمۡ نَذِيرٞ مُّبِينٌ ٢

أَنِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَٱتَّقُوهُ وَأَطِيعُونِ ٣ [سورة النوح: 1 - 3]



{Quả thật, TA (Allah) đã cử Nuh đến cho người dân của Y với mệnh lệnh: “Hãy cảnh báo người dân của Ngươi trước khi một sự trừng phạt đau đớn sẽ xảy cho họ”. Y đã kêu gọi: “Này hỡi dân ta, ta là một người bán trước được không khai cử đến với các người, các người hãy thờ phượng Allah và hãy kính sợ Ngài và hãy tuân lệnh ta.} (Chương 71 – câu 1-3).

Nhưng người dân của Nuh u vẫn ngoan cố trong sự vô đức tin và Shirk, họ bảo nhau phải duy trì và giữ lấy những thần linh của họ:



﴿ وَقَالُواْ لَا تَذَرُنَّ ءَالِهَتَكُمۡ وَلَا تَذَرُنَّ وَدّٗا وَلَا سُوَاعٗا وَلَا يَغُوثَ وَيَعُوقَ وَنَسۡرٗا ٢٣ ﴾ [سورة نوح: 23]

{Và họ bảo: “Chớ từ bỏ các thần linh của các người và chớ bỏ các thần: Wadd, Suwa, Yaghut, Ya’uq, và Nasr.} (Chương 71 – Nuh, câu 23).

Ibnu Abbas t nói: (Đây là tên của những người đàn ông ngoan đạo thuộc người dân của Nabi Nuh u. Khi những người này chết đi, Shaytan đã thì thầm với người dân của Người u nên dựng lên các tượng đài nơi mà họ đã thường ngồi và đặt các tượng đài đó theo tên của họ). Thế là người dân của Người u làm theo lời xúi giục của Shaytan nhưng chỉ để tưởng nhớ đến những vị ngoan đạo đó nhưng rồi khi họ chết đi con cháu của họ sau này không biết nên đã thờ phượng các tượng đài đó. Khi hiểu được những gì xảy ra với cộng đồng của Nabi Nuh u thì sẽ hiệu được mục đích của Islam, bởi vì sự kêu gọi của Nabi Muhammad e chính là sự kêu gọi của Nabi Nuh u và những gì xảy ra trong cộng đồng của Muhammad e từ sự thái quá đối với những người ngoan đạo cũng giống như những gì xảy ra trong cộng đồng của Nabi Nuh u. Vậy chúng ta đã biết được sự thái quá là nguyên nhân của sự bị hủy diệt và điều Shirk đầu tiên xảy ra là ở vấn đề thái quá đối với những người ngoan đạo.

+ + +


  • Câu hỏi 53: Giới luật về việc tôn vinh Thiên sứ của Allah e?

  • Trả lời: Sự tôn vinh Thiên sứ của Allah e được xem xét theo hai trường hợp khác nhau.

  • Sự tôn vinh theo ý nghĩa đích thực của nó: là tiếp nhận Sunnah của Người e, tuân theo sự hướng dẫn của Người, thực hiện những gì Người sai bảo và tránh xa những gì Người nghiêm cấm, tin vào những gì Người thông tin cho biết, và chỉ thờ phượng Allah I theo sự hướng dẫn và qui định của Người e. Allah I phán:

﴿ قُلۡ إِن كُنتُمۡ تُحِبُّونَ ٱللَّهَ فَٱتَّبِعُونِي يُحۡبِبۡكُمُ ٱللَّهُ وَيَغۡفِرۡ لَكُمۡ ذُنُوبَكُمۡۚ وَٱللَّهُ غَفُورٞ رَّحِيمٞ ٣١ ﴾ [سورة آل عمران : 31]

{Hãy bảo họ (Muhammad!): “Nếu các người yêu thương Allah thì hãy tuân thủ mệnh lệnh của Ta rồi Allah sẽ yêu thương các người và tha thứ tội lỗi cho các người. Bởi Allah là Đấng Khoan dung và Nhân từ} (Chương 3 – Ali-‘Imran, câu 31).

﴿ وَمَآ ءَاتَىٰكُمُ ٱلرَّسُولُ فَخُذُوهُ وَمَا نَهَىٰكُمۡ عَنۡهُ فَٱنتَهُواْۚ وَٱتَّقُواْ ٱللَّهَۖ إِنَّ ٱللَّهَ شَدِيدُ ٱلۡعِقَابِ ٧ ﴾ [سورة الحشر : 7]

{Và những gì mà Thiên sứ mang đến cho các ngươi thì các ngươi hãy nhận lấy nó, và những gì mà Y ngăn cấm các ngươi thì các ngươi hãy kết thúc nó ngay. Và các ngươi hãy kính sợ Allah, quả thật, Allah rất nghiêm khắc trong việc trừng phạt.} (Chương 59 – Al-Hashr, câu 7).

﴿ يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ أَطِيعُواْ ٱللَّهَ وَأَطِيعُواْ ٱلرَّسُولَ وَأُوْلِي ٱلۡأَمۡرِ مِنكُمۡۖ ﴾ [سورة النساء: 59]

{Hỡi những người có đức tin! Hãy tuân lệnh Allah và tuân lệnh Thiên sứ cũng như hãy tuân lệnh vị lãnh đạo trong số các ngươi.} (Chương 4 – An-Nisa, câu 59).

Nabi e nói:

« مَنْ عَمِلَ عَمَلاً لَيْسَ عَلَيْهِ أَمْرُنَا ، فَهْوَ رَدٌّ » رواه البخاري ومسلم.

Ai làm một việc làm nào đó mà nó không nằm trong sứ mạng của Ta thì việc làm đó không được chấp nhận” (Albukhari và Muslim).



  • Sự tôn vinh một cách thái quá, tôn kính quá độ đến mức sùng bái và thờ phượng thì không được phép. Nabi e nói:

« إِيَّاكُمْ وَالْغُلُوَّ فِى الدِّينِ فَإِنَّمَا أَهْلَكَ مَنْ كَانَ قَبْلَكُمُ الْغُلُوُّ فِى الدِّينِ » رواه ابن ماجه وأحمد.

Các ngươi hãy coi chừng sự thái quá trong tôn giáo bởi quả thật những người trước thời các ngươi đã bị hủy diệt bởi sự thái quá trong tôn giáo” (Ibnu Ma-jah và Ahmad).

Thiên sứ của Allah e chỉ là một người bề tôi chứ không phải là Đấng thờ phượng, Người là vị Thiên sứ phải được tuân lệnh và đi theo.

Và một trong những hình thức thái quá đối với Người e là hướng một sự thờ phượng nào đó đến Người e như cầu nguyện đến Người, cầu xin phúc lành nơi Người, tìm sự cứu rỗi nơi Người; và một trong những hình thức thái quá đối với Người e là tán dương và ca ngợi quá mức bởi vì Người đã nói:

« إِيَّاكُمْ وَالْغُلُوَّ فِى الدِّينِ فَإِنَّمَا أَهْلَكَ مَنْ كَانَ قَبْلَكُمُ الْغُلُوُّ فِى الدِّينِ » رواه ابن ماجه وأحمد.

Các ngươi hãy coi chừng sự thái quá trong tôn giáo bởi quả thật những người trước thời các ngươi đã bị hủy diệt bởi sự thái quá trong tôn giáo” (Ibnu Ma-jah và Ahmad).

+ + +


  • Câu hỏi 54: Giới luật về việc Du-a (cầu nguyện, khấn vái) đến Thiên sứ của Allah e tại mộ của Người?

  • Trả lời: Du-a (cầu nguyện, khấn vái) đến Thiên sứ của Allah e tại mộ của Người là việc làm Shirk cho dù ở gần hay ở cách xa mộ của Người, bởi vì việc Du-a là hình thức thờ phượng chỉ được phép hướng đến một mình Allah I duy nhất. Allah I phán nghiêm cấm vị Nabi của Ngài:

﴿ وَلَا تَدۡعُ مِن دُونِ ٱللَّهِ مَا لَا يَنفَعُكَ وَلَا يَضُرُّكَۖ فَإِن فَعَلۡتَ فَإِنَّكَ إِذٗا مِّنَ ٱلظَّٰلِمِينَ ١٠٦ ﴾ [سورة يونس: 106]

{Và chớ cầu nguyện ngoài Allah những kẻ không mang lại lợi ích cũng chẳng gây hại được Ngươi.} (Chương 10 – Yunus, câu 106).

Nabi e nói:

« إِنَّهُ لَا يُسْتَغَاثُ بِي وَإِنَّمَا يُسْتَغَاثُ بِاللهِ » الجوامع الكبير

Quả thật, không được cầu xin phúc lành đến Ta mà chỉ được cầu xin phúc lành đến một mình Allah” (Al-Jawa-mia’ Al-Kabir).

Người nào muốn được sự cầu xin ân xá của Thiên sứ e thì hãy làm theo Sunnah của Người và hãy cầu xin Allah I ân xá cho y vào Ngày Phán Xét. Đây chính là điều mà Thiên sứ của Allah e yêu thích, Allah I phán:

﴿ قُلۡ إِن كُنتُمۡ تُحِبُّونَ ٱللَّهَ فَٱتَّبِعُونِي يُحۡبِبۡكُمُ ٱللَّهُ وَيَغۡفِرۡ لَكُمۡ ذُنُوبَكُمۡۚ وَٱللَّهُ غَفُورٞ رَّحِيمٞ ٣١ ﴾ [سورة آل عمران : 31]

{Hãy bảo họ (Muhammad!): “Nếu các người yêu thương Allah thì hãy tuân thủ mệnh lệnh của Ta rồi Allah sẽ yêu thương các người và tha thứ tội lỗi cho các người. Bởi Allah là Đấng khoan dung và nhân từ} (Chương 3 – Ali-‘Imran, câu 31).

+ + +


  • Câu hỏi 55: Giới luật về việc Du-a bên mộ của Nabi e?

  • Trả lời: Du-a bên mộ Nabi e hướng mặt về ngôi mộ là không được phép cho dù là mộ của Nabi hay mộ của ai khác, bởi vì Allah I không qui định bất cứ nơi nào là Qiblah ngoài ngôi đền Ka’bah cả. Qiblah duy nhất cho người Muslim dù còn sống hay đã chết chỉ có một đó là ngôi đền Ka’bah. Còn khi nào người Muslim muốn cầu nguyện cho bản thân mình hay cầu nguyện cho người Muslim khác thì y hãy hướng mặt về Qiblah, đây là điều được giáo luật khuyến khích; còn nếu y muốn dâng lễ nguyện Salah thì bắt buộc y phải hướng mặt về Qiblah.

Ý nghĩa cho việc không được phép hướng mặt đến mộ trong lúc Du-a là bởi vì đó là phương tiện gắn kết trái tim với người chết và hướng những gì thuộc riêng một mình Allah I đến với ai (vật) khác ngoài Ngài.

+ + +


  • Câu hỏi 56: Khái niệm về Sihr và cho biết giới luật về nó cùng với bằng chứng giáo lý?

  • Trả lời: Theo nghĩa của từ Sihr là những gì bí ẩn và nhẹ nhàng, còn theo thuật ngữ giáo lý thì Sihr có nghĩa là bùa chú và phép thuật làm ảnh hướng đến tinh thần, tâm hồn và thể xác của con ngươi như gây bệnh tật, làm chết người, và chia cắt tình nghĩa vợ chồng.

Việc học, tìm hiểu, nghiên cứu và hoạt động Sihr la Haram dẫn đến Kufr bởi Allah I đã phán:

﴿ وَٱتَّبَعُواْ مَا تَتۡلُواْ ٱلشَّيَٰطِينُ عَلَىٰ مُلۡكِ سُلَيۡمَٰنَۖ وَمَا كَفَرَ سُلَيۡمَٰنُ وَلَٰكِنَّ ٱلشَّيَٰطِينَ كَفَرُواْ يُعَلِّمُونَ ٱلنَّاسَ ٱلسِّحۡرَ ﴾ [سورة البقرة: 102]

{Và họ đã đi theo những điều mà những tên Shaytan đã đọc (lệch lạc) về quyền lực của Sulayman. Và Sulayman đã không phủ nhận đức tin mà chính những tên Shaytan đã phủ nhận đức tin, chúng chỉ dạy nhân loại phép thuật.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 102).

Nabi e nói:

« اجْتَنِبُوا السَّبْعَ الْمُوبِقَاتِ » . قَالُوا يَا رَسُولَ اللهِ ، وَمَا هُنَّ قَالَ « الشِّرْكُ بِاللهِ ، وَالسِّحْرُ ، وَقَتْلُ النَّفْسِ الَّتِى حَرَّمَ اللهُ لإِلاَّ بِالْحَقِّ ، وَأَكْلُ الرِّبَا ، وَأَكْلُ مَالِ الْيَتِيمِ ، وَالتَّوَلِّى يَوْمَ الزَّحْفِ ، وَقَذْفُ الْمُحْصَنَاتِ الْمُؤْمِنَاتِ الْغَافِلاَتِ » رواه البخاري ومسلم.

Hãy tránh bảy điều hủy hoại. Các vị Sahabah liền hỏi : “Thưa Thiên sứ của Allah, chúng là những gì ?. Thiên sứ nói: “Đó là shirk (tức gán cho Allah một đối tác ngàng hàng cùng với Ngài), ma thuật (bùa ngải), truất đi mạng sống mà Allah đã làm thành thiêng liêng ngoại trừ để thiết lập công lý, cho vay ăn lãi, xâm chiếm tài sản của con mồ côi, trốn chạy trên chiến trường, và vu khống những người phụ nữ đạo đức không giữ thân thể. (Albukhari và Muslim).

+ + +


  • Câu hỏi 57: Sihr (ma thuật, bùa ngải) là thực hay ảo tưởng?

  • Trả lời: Một số Sihr là thực, có ảnh hưởng đến thể xác, tinh thần và tâm hồn, nó có thể làm cho bệnh, làm chết người, và chia rẽ một người với vợ (chồng ) của y. Nếu Sihr không thực thì chắc chắn Allah I đã không phán qui định rằng người dùng Sihr là người phủ nhận đức tin, đã không phán rằng y sẽ không có phần tốt đẹp nào ở Đời Sau cả và đã không ra lệnh bảo phải cầu xin Ngài che chở và bảo vệ khỏi nó.

Một số Sihr chỉ là ảo giác: những gì được thực hiện trước mắt của mọi người với những thứ chỉ mang tính ảo giác không thực hoặc với thủ thuật nhanh lẹ làm hoa mắt người nhìn. Loại Sihr này không gây hại đến thể xác mà chỉ là trò lừa và thủ thuật khéo léo

Và những hình thức Sihr với ý nghĩa gây ảo giác hay chỉ là những thủ thuật khéo léo để đánh lừa cái nhìn của người khác được gọi là ảo thuật hoặc trò bịp bợm trong cờ bạc. Và những hình thức Sihr ở dạng này giáo luật qui định là Haram chưa đến mức Kufr (vô đức tin).

+ + +


  • Câu hỏi 58: Việc Nabi e bị Sihr có phải là thực không? Và ai đã làm Sihr hại Người?

  • Trả lời: Chuyện Nabi e bị Sihr là sự thực. Kẻ đã làm Sihr hại Người chính là một người Do thái tên Lubaid bin Al-A’sam. Hắn đã làm một cái gút thắt từ vỏ thân cây chà là khô và đặt nó vào trong cái giếng, tuy nhiên, Allah I đã gởi xuống hai vị Thiên thần gỡ Sihr đó cho Nabi e và họ đã cho Người biết kẻ đã làm Sihr hại Người cũng như cho biết chỗ của cái gút thắt và bảo Người cầu xin Allah I che chở. Và Allah I đã mặc khải hai chương Kinh: Al-Falaq và Annas (được gọi là hai chương Isti’a-zdah tức cầu sự che chở nơi Allah thoát khỏi điều xấu), với hai chương Kinh này Allah I đã giải Sihr cho Nabi e, và hai chương Kinh này trở thành những lời niệm chú cho cộng đồng tín đồ của Nabi Muhammad e để tránh tà ma và bủa ngải.

+ + +

  • Câu hỏi 59: Việc Nabi e bị Sihr có mâu thuẫn với vị thế Nabi của Người không?

  • Trả lời: Việc Nabi e bị Sihr không mâu thuẫn cũng như không phủ nhận vị thế Nabi của Người bởi vì Sihr không thể ảnh hưởng đến trí tuệ và sự nhận thức và tinh thần của Người mà nó chỉ ảnh hưởng đến thân xác của Người e mà thôi. Hơn nữa, Allah I là Đấng bảo toàn cho Lời Mặc Khải của Ngài như Ngài đã phán:

﴿ إِنَّا نَحۡنُ نَزَّلۡنَا ٱلذِّكۡرَ وَإِنَّا لَهُۥ لَحَٰفِظُونَ ٩ ﴾ [سورة الحجر:9]

{Quả thật, TA (Allah) đã ban lời nhắc nhở (Qur’an) xuống và TA sẽ luôn bảo quản nó} (Chương 15 – Al-Hijr, câu 9).

Việc Sihr làm ảnh hưởng đến thể xác của Nabi e là bằng chứng rõ ràng và mạnh mẽ chứng minh Nabi e chỉ là một con người phàm tục giống như bao người phàm khác, rằng Người cũng phải đối mặt với những bệnh tật, nhưng tai kiếp mà những người phàm khác phải đối mặt. Và bằng chứng co việc Allah I ban đặc ân cho Người e là Ngài đã cho Người thoát khỏi tác hại của Sihr, và đây cũng là bằng chứng rằng Sihr đã thực sự xảy ra đối với Người e và cũng là nguyên nhân mà giáo luật qui định việc niệm chú và cầu xin che chở từ Allah I tránh khỏi Sihr và những điều xấu.

Quả thật, Nabi e đã tìm sự cứu rỗi nơi Allah I để thoát khỏi những điều gây hại và điều xấu giống như bao người phàm tục khác tìm sự cứu rỗi nơi Ngài.

Và mọi sự việc xảy ra đều do sự cho phép của Allah I như Ngài đã phán:



﴿ وَمَا هُم بِضَآرِّينَ بِهِۦ مِنۡ أَحَدٍ إِلَّا بِإِذۡنِ ٱللَّهِۚ ﴾ [سورة البقرة: 102]

{Và họ (những người làm bùa thuật) không hại được ai ngoài trừ có phép của Allah.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 102).

+ + +


  • Câu hỏi 60: Giới luật về việc dùng phương pháp trị liệu bằng Sihr?

  • Trả lời: Việc dùng phương pháp điều trị bằng Sihr là không được phép trong Islam bởi vị nó liên quan đến đức tin Iman. Nếu dùng Sihr để giải Sihr thì việc làm đó hủy hoại đức tin Iman, cũng chính vì vậy nên Allah I đã sắc lệnh qui định niệm chú và cầu xin Ngài che chở để giải Sihr và những điều gây hại khác. Trong một Hadith được ghi lại, khi Thiên sứ của Allah e được hỏi về việc Annushrah thì Người nói:

« هُوَ مِنْ عَمَلِ الشَّيْطَانِ » رواه أبو داود وأحمد.

Đấy là việc làm của Shaytan” (Abu Dawood và Ahmad).

Annushrah là hình thức giải Sihr, có hai dạng:

Dạng thứ nhất: Dùng Sihr giải Sihr, hình thức này là người làm Sihr và bị Sihr đều nhờ vả đến sự giúp đỡ của Shaytan, đây là hình thức giải Sihr không được phép.

Dạng thứ hai: Giải Sihr bằng niệm chú, cầu xin Allah I che chở, cùng với những lời Du-a theo giáo lý và những phương thuốc điều trị được phép, đây là hình thức giải Sihr được phép.

Và một số lời niệm chú cũng như cách giải Sihr theo giáo lý Islam:



  • Đọc chương: (قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلۡفَلَقِ) và (قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلنَّاسِ).

  • Một số học giả nói: giã nhuyễn lá táo lấy nước pha vào nước lã rồi đọc: Ayah Kursi (câu 225 của chương Albaqarah), ba chương Kinh (112, 113, 114): (قُلۡ هُوَ ٱللَّهُ أَحَدٌ) (قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلۡفَلَقِ), (قُلۡ أَعُوذُ بِرَبِّ ٱلنَّاسِ) và các câu Kinh dưới đây:

﴿ فَوَقَعَ ٱلۡحَقُّ وَبَطَلَ مَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١١٨ فَغُلِبُواْ هُنَالِكَ وَٱنقَلَبُواْ صَٰغِرِينَ ١١٩ وَأُلۡقِيَ ٱلسَّحَرَةُ سَٰجِدِينَ ١٢٠ قَالُوٓاْ ءَامَنَّا بِرَبِّ ٱلۡعَٰلَمِينَ ١٢١ رَبِّ مُوسَىٰ وَهَٰرُونَ ١٢٢ ﴾ [سورة الأعراف: 118 - 122]

﴿ مَا جِئۡتُم بِهِ ٱلسِّحۡرُۖ إِنَّ ٱللَّهَ سَيُبۡطِلُهُۥٓ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يُصۡلِحُ عَمَلَ ٱلۡمُفۡسِدِينَ ٨١ وَيُحِقُّ ٱللَّهُ ٱلۡحَقَّ بِكَلِمَٰتِهِۦ وَلَوۡ كَرِهَ ٱلۡمُجۡرِمُونَ ٨٢ ﴾ [سورة يونس: 81، 82]

﴿ إِنَّمَا صَنَعُواْ كَيۡدُ سَٰحِرٖۖ وَلَا يُفۡلِحُ ٱلسَّاحِرُ حَيۡثُ أَتَىٰ ٦٩ ﴾ [سورة طه: 69]

  • Sau đó, thổi phun nhẹ ba lần vào nước lá táo (hoặc nước lã) rồi dùng nó tắm cho người bệnh .. Insha-Allah, với cách này, người bệnh sẽ được Allah I giải thoát khỏi Sirh.

+ + +

  • Câu hỏi 61: Tairah là gì và giới luật qui định thế nào về sự việc này?

  • Trả lời: Tairah có nghĩa là tin rằng các loài chim nào đó là điềm báo cho điều tốt hay xấu, họ tin rằng nếu gặp một loài chim nào đó bay đến theo một hướng nào đó thì sẽ mang điều tốt hay điều xấu nào đó, chẳng hạn như nếu chim bay đến theo hướng bên phải thì đó là điềm báo cho một điều tốt lành và may mắn, còn nếu như con chim đó bay đến theo hướng bên trái thì đó là điềm báo cho một điều xấu và rủi ro. Đây là niềm tin sai lệch không có cơ sở giáo lý, niềm tin sai lệch này đã có từ thời của Fir’aun (Pharaon) và những người của thời kỳ ngu muội (trước Islam). Allah I đã bác bỏ niềm tin sai lệch này và Ngài bắt buộc những người có đức tin phải gắn trái tim của họ với Ngài và tin nơi Ngài, còn tất cả tạo vật chẳng có quyền năng mang lại điều lành hay gây điều dữ. Allah I phán phủ nhận niềm tin sai lệch của Fir’aun và đồng bọn của hắn về những điều mà hắn và đồng bọn của hắn cho rằng là điềm báo xấu:

﴿ وَإِن تُصِبۡهُمۡ سَيِّئَةٞ يَطَّيَّرُواْ بِمُوسَىٰ وَمَن مَّعَهُۥٓۗ أَلَآ إِنَّمَا طَٰٓئِرُهُمۡ عِندَ ٱللَّهِ وَلَٰكِنَّ أَكۡثَرَهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ ١٣١ ﴾ [سورة الأعراف: 131]

{Và khi chúng gặp điều bất hạnh chúng đổ tội cho Musa và những ai theo Y đã mang điều xui xẻo đến nhưng thực chất đối với Allah điều xui xẻo chỉ là của chúng, nhưng đa số bọn chúng không biết.} (Chương 7 – Al-Araf, câu 131).

Khi chúng gặp chuyện chẳng lành thì chúng đổ tội cho Nabi Musa u và các tín đồ của Người, chúng bảo rằng sự xui xẻo là đến từ nơi Người và các tín đồ của Người. Allah I đã nói cho chúng biết rằng Nabi Musa u chỉ mang đến điều tốt đẹp và phúc lành, và Ngài cho chúng biết rằng những điều xấu và không may mà chúng gặp phải là bởi vì chúng đã không tin và làm theo Musa nên đó là nguyên nhân Allah trừng phạt chúng {nhưng thực chất đối với Allah điều xui xẻo chỉ là của chúng}.

Như vậy, những điều xấu xảy ra cho Fir’aun và đồng bọn của hắn là do những hành động và việc làm xấu xa và tội lỗi của họ nhưng họ là không nhận thấy lỗi lầm và sai trái của họ. Allah I phán:

﴿ وَلَٰكِنَّ أَكۡثَرَهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ ١٣١ ﴾ [سورة الأعراف: 131]

{Nhưng đa số bọn chúng không biết.} (Chương 7 – Al-Araf, câu 131).

﴿ قَالُوٓاْ إِنَّا تَطَيَّرۡنَا بِكُمۡۖ لَئِن لَّمۡ تَنتَهُواْ لَنَرۡجُمَنَّكُمۡ وَلَيَمَسَّنَّكُم مِّنَّا عَذَابٌ أَلِيمٞ ١٨ قَالُواْ طَٰٓئِرُكُم مَّعَكُمۡ أَئِن ذُكِّرۡتُمۚ بَلۡ أَنتُمۡ قَوۡمٞ مُّسۡرِفُونَ ١٩ ﴾ [سورة يس: 18، 19]

{Họ bảo: “Chúng tôi thấy có điềm xui nơi các ông. Nếu các ông không chịu ngưng thì chắc chắn chúng tôi sẽ ném đá giết các ông và chắc chắn chúng tôi sẽ áp dụng hình phạt đau đớn với các ông”.(Các sứ giả đáp): “Điềm xui của quí vị là do nơi quí vị. Sao quí vị cho là điều xui khi được nhắc nhở. Không, quí vị đúng là một đám người phạm mọi thứ tội.} (Chương 36 – Yasin, câu 18, 19).

Nabi I nói:

« الطِّيَرَةُ شِرْكٌ الطِّيَرَةُ شِرْكٌ » رواه أبو داود.

Tairah là Shirk, Tairah là Shirk” (Abu Dawood).



  • Tóm lược: Những gì con người lấy làm nguyên nhân trong khi Allah I không coi đó là nguyên nhân thì đó là tiểu Shirk còn nếu như y tin rằng nó mang lại điều lành và ban điều dữ thì y đã phạm vào đại Shirk. Quả thật, Nabi e đã dạy cách giải tỏa đối với ai nhìn thấy hay nghe thấy một điều gì đó không tốt đẹp bằng lời niệm chú:

« اللَّهُمَّ لاَ يَأْتِى بِالْحَسَنَاتِ إِلاَّ أَنْتَ وَلاَ يَدْفَعُ السَّيِّئَاتِ إِلاَّ أَنْتَ وَلاَ حَوْلَ وَلاَ قُوَّةَ إِلاَّ بِكَ » رواه أبو داود.

“Ollo-humma la ya’ti bil-hasana-t illa anta wa la yadfa’u assayyi-at illa anta wa la hawla wa la quwata illa bika”

Lạy Allah, không có điều tốt đẹp và phúc lành nào đến ngoài sự cho phép của Ngài, và không có một điều xấu nào được xua tan ngoài quyền năng của Ngài, và không có một quyền lực hay sức mạnh nào ngoài Ngài” (Abu Dawood).

Và khi nào có một điều gì đó không tốt lành xảy đến với bản thân người Muslim thì y hãy nói:

« اللَّهُمَّ لاَ خَيْرَ إِلاَّ خَيْرُكَ وَلاَ طَيْرَ إِلاَّ طَيْرُكَ وَلاَ إِلَهَ غَيْرُكَ » رواه أحمد.

“Ollo-humma la khoiro illa khoiruka wa la toiro illah toiruka wa la Ila-ha ghoiruka”

Lạy Allah, quả thật không điều tốt lành ngoài điều tốt lành của Ngài, không có điều xấu nào ngoài sự an bài của Ngài và không Thượng Đế nào ngoài Ngài” (Ahmad).

+ + +


  • Câu hỏi 62: Sự khác biệt giữa điềm xấu và điềm tốt?

  • Trả lời: Sự khác biệt giữa điềm xấu và điềm tốt: điềm xấu là cách nghĩ xấu về Allah I, hướng một điều gì đó thuộc về Ngài đến ai (vật) khác Ngài, gắn nối trái tim với tạo vật không ban lợi cũng chẳng gây hại, còn điềm tốt là cách nghĩ tốt nơi Allah I, tin rằng Ngài luôn đáp lại những mong muốn. Nghĩ tốt về Allah I là điều được yêu cầu còn nghĩ xấu về Ngài là điều bị nghiêm cấm; nghĩ tốt về Allah I là một phần của đức tin Iman và là đặc điểm của người có đức tin, còn nghĩ xấu về Ngài là bản chất và đặc điểm của Nifaq (giả tạo) và những người Munafiq.

Allah I phán:

﴿ بَلۡ ظَنَنتُمۡ أَن لَّن يَنقَلِبَ ٱلرَّسُولُ وَٱلۡمُؤۡمِنُونَ إِلَىٰٓ أَهۡلِيهِمۡ أَبَدٗا وَزُيِّنَ ذَٰلِكَ فِي قُلُوبِكُمۡ وَظَنَنتُمۡ ظَنَّ ٱلسَّوۡءِ وَكُنتُمۡ قَوۡمَۢا بُورٗا ١٢ ﴾ [سورة الفتح: 12]

{Không, các ngươi nghĩa rằng Sứ giả (của Allah) và những người có đức tin sẽ không bao giờ trở về gặp gia đình, và điều đó làm cho các ngươi cảm thấy khoan khoái trong lòng và cac snguowi đã có tư tưởng xấu; và các ngươi là một đám người sắp bị suy vong.} (Chương 48 – Al-Fath, câu 12).

Và sự suy nghĩ tốt lành là biểu hiện của sự lạc quan chẳng hạn như đề cập đến lời nói tốt lành hoặc biểu hiện hành vi tốt đẹp với hy vọng điều tốt đẹp nơi Thượng Đế và cầu xin Ngài phúc lành giống như một người bị bệnh khi y nghe được lời nói bình an và lành bệnh thì y tinh thần của y sẽ trở nên tốt hơn vì y hy vọng nơi điều tốt lành ở Thượng Đế của y.

Và điềm xấu khiến tinh thần bi quan bị nghiêm cấm trong giáo lý, hình ảnh thí dụ cho điều này chẳng hạn như một người khi bắt đầu chuyến đi xa hay vào đầu ngày y nhìn thấy một người tật nguyền: người què hay người mù thì y trở nên lo lắng và cho rằng đó là điềm báo xấu và rủi ro cho chuyến đi xa hay cho ngày hôm đó và y đã hủy chuyến đi hoặc cẩn trọng cho ngày hôm đó. Đây là niềm tin lệch lạc bị nghiêm cấm. Do đó, người Muslim hãy nên kính sợ Allah I và tìm lấy những nguyên nhân được giáo lý cho phép.

Một hình thức tin vào điềm báo xấu bị nghiêm cấm là tìn vào thời gian nào đó, giờ khắc nào đó sẽ không tốt lành cho chuyến đi xa hoặc không tốt lành cho một công việc nào đó, chẳng hạn như không đi xa vào tháng Safar hay không cưới gả vào tháng Shauwal và vào ngày thứ tư. Nabi e nói:

« لاَ عَدْوَى وَلاَ طِيَرَةَ وَلاَ هَامَةَ وَلاَ صَفَرَ » رواه البخاري ومسلم.

Chẳng phải do truyền nhiễm, chẳng có điềm gở, chẳng do chim cú hay do tháng Safar” (Albukhari và Muslim).

Mọi sự vật và thời gian đều là tạo vật của Allah I chẳng có quyền năng ban lợi hay gây hại bất cứ điều gì.

1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương