Hỏi Đáp Về Aqi-dah


{Không có bất cứ thứ gì giống Ngài cả và Ngài là Đấng nghe và thấy



tải về 1.24 Mb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích1.24 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

{Không có bất cứ thứ gì giống Ngài cả và Ngài là Đấng nghe và thấy} (Chương 42 – Al-Shura, câu 11).

﴿ وَلِلَّهِ ٱلۡأَسۡمَآءُ ٱلۡحُسۡنَىٰ فَٱدۡعُوهُ بِهَاۖ وَذَرُواْ ٱلَّذِينَ يُلۡحِدُونَ فِيٓ أَسۡمَٰٓئِهِۦۚ سَيُجۡزَوۡنَ مَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١٨٠ ﴾ [سورة الأعراف: 180]

{Và Allah có những tên gọi tốt đẹp và hoàn mỹ nhất, bởi thế, hãy cầu nguyện Ngài bằng các tên gọi đó. Và hãy tránh xa những kẻ bóp méo tên gọi của Ngài, rồi họ sẽ lãnh đủ về tội của họ.} (Chương 7 – Al-‘Araf, câu 180).

﴿ قُلِ ٱدۡعُواْ ٱللَّهَ أَوِ ٱدۡعُواْ ٱلرَّحۡمَٰنَۖ أَيّٗا مَّا تَدۡعُواْ فَلَهُ ٱلۡأَسۡمَآءُ ٱلۡحُسۡنَىٰۚ ﴾ [سورة الإسراء: 110]

{Hãy bảo họ: “các người hãy cầu nguyện Allah hay cầu nguyện Đấng Rahman, các người hãy cầu nguyện Ngài với bất cứ tên gọi nào (đều tốt cả) bởi vì Ngài có các tên gọi hoàn mỹ.} (Chương 17 – Al-Isra, câu 110).

+ + +


  • Câu hỏi 19: So sánh và suy diễn trong Tawhid Asma Wassifat là như thế nào và đâu là giáo lý đúng đắn?

  • Trả lời: So sánh có nghĩa là lấy các thuộc tính của Allah I đem so sánh với các tạo vật, còn suy diễn là suy luận các ý nghĩa về các thuộc tính cũng như các tên gọi của Allah I. Giáo lý đúng đắn nhất là không được so sánh và suy diễn các thuộc tính của Allah I bởi lẽ ý nghĩa các thuộc tính đó đều được hiểu theo tiếng Ả Rập còn việc suy diễn chúng ra làm sao hay như thế nào thì không một ai biết rõ về chúng mà chỉ duy một mình Allah I mà thôi, không một ai được phép hỏi các thuộc tính của Ngài như thế nào và ra làm sao. Cũng chính vì vậy nên những người Salaf đã xem việc đặt câu hỏi như vậy về các thuộc tính của Allah I là điều Bid’ah (đổi mới, cải biên, không có trong giáo lý của Islam), chẳng hạn như Imam Malik  khi được hỏi về từ Istiwa’ (ngự trên) như thế nào thì ông nói: “Istiwa’ thì đã biết, như thế nào thì không biết nhưng đức tin Iman vào nó là bắt buộc còn hỏi nó như thế nào là Bid’ah”. Và thật ra tạo vật không cần thiết phải hỏi như thế nào để làm gì!.

+ + +

  • Câu hỏi 20: Tawhid thờ phượng có ý nghĩa và giá trị như thế nào và hãy nói về hồng phúc của nó?

  • Trả lời: Tawhid có ý nghĩa rất lớn trong thờ phượng bởi nó là sự độc tôn hóa Allah I trong thờ phượng, và đối với người bề tôi thì nó là điều bắt buộc, là nghĩa vụ. Ai đã khẳng định dạng thức Tawhid này thì chắc chắn đã khẳng định các dạng thức Tawhid còn lại bởi vì Tawhid trong thờ phượng bao hàm cả Tawhid Rububiyah và Tawhid Asma Wassifat, hơn nữa một người có trí tuệ và có nhận thức đúng đắn không bao giờ thờ phượng cái không tồn tại hoặc không hoàn mỹ trong các tên gọi và các thuộc tính.

Tawhid thờ phượng là điều đầu tiên gia nhập một người vào Islam và cũng là điều cuối cùng mà một người bề tôi nên nói trước khi lìa khỏi thế gian.

Còn về hồng phúc của Tawhid thờ phượng thì nó là sự thờ phượng tốt nhất trong các hình thức thờ phượng: tội lỗi của người thuộc Tawhid thờ phượng sẽ được tha thứ và không bị đời đời kiếp kiếp trong Hỏa Ngục, và y sẽ được bằng an, được soi sáng và hướng dẫn. Allah I phán:



﴿ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَلَمۡ يَلۡبِسُوٓاْ إِيمَٰنَهُم بِظُلۡمٍ أُوْلَٰٓئِكَ لَهُمُ ٱلۡأَمۡنُ وَهُم مُّهۡتَدُونَ ٨٢﴾ [سورة الأنعام: 82]

{Những ai có đức tin và không trộn lẫn đức tin thuần túy của họ với điều sai trái (của việc tôn thờ đa thần) thì họ là những người sẽ được an toàn nhất bởi vì họ được hướng dẫn đúng theo Chính Đạo.} (Chương 6 – Al-An’am, câu 82).

Người của Tawhid thờ phượng sẽ được đảm bảo cho Thiên Đàng nếu như không có sự phủ định lời Tawhid “không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah và Muhammad là vị Thiên sứ của Ngài”. Còn nếu như những gì phủ nhận toàn bộ lời Tawhid này thì một người sẽ không phải là người của Tawhid cho dù y có nói trên chiếc lưỡi của mình. Lời hứa rằng người của Tawhid sẽ được tha thứ tội lỗi là đối với những tội lỗi không phủ định căn bản của Tawhid, đó là những tội lỗi không chứa đựng một điều gì liên quan đến Shirk. Còn riêng các Hadith nói về hồng phúc của Tawhid thì rất nhiều, chẳng hạn như Hadith của Uba-dah, Hadith của Itban, của Abu Saeed, Anas và những các vị khác.

+ + +


  • Câu hỏi 21: Định nghĩa đức tin Iman và các nền tảng của trụ cột của nó là gì?

  • Trả lời: Iman theo nghĩa của từ là sự tin tưởng, còn theo thuật ngữ giáo lý thì nó có nghĩa là nói bằng lưỡi, tin bằng con tim và làm theo các trụ cột, và nó là niềm tin kiên định rằng Allah I là Thượng Đế của mọi vạn vật, Ngài nắm quyền điều hành và chi phối chúng, Ngài là Đấng Tạo Hóa, Đấng Ban Cấp và Nuôi Dưỡng, Đấng làm cho sống và làm cho chết, và Ngài là Đấng đáng được thờ phượng, không có ai (vật) khác Ngài có quyền đó, tất cả mọi sự thờ phượng và phủ phục chỉ được dành riêng duy nhất một mình Ngài, và Ngài là Đấng có các thuộc tính hoàn hảo tuyệt đối không có bất cứ một khiếm khuyết hay điểm yếu nào.

Các nền tảng trụ cột của Iman có sáu nếu đối chiếu với Islam: đức tin nơi Allah I, nơi các Thiên thần của Ngài, các Kinh sách của Ngài, các vị Thiên sứ của Ngài, đức tin nơi cõi Đời Sau và đức tin nơi sự tiền định tốt và xấu. Sáu trụ cột đức tin này như đã được biết qua Hadith của Umar t khi đại Thiên thần Jibril hỏi Nabi e về đức tin Iman thì Người nói:

« أَنْ تُؤْمِنَ بِاللهِ وَمَلاَئِكَتِهِ وَكُتُبِهِ وَرُسُلِهِ وَالْيَوْمِ الآخِرِ وَتُؤْمِنَ بِالْقَدَرِ خَيْرِهِ وَشَرِّهِ » رواه مسلم.

Rằng ngươi phải tin nơi Allah, nơi các Thiên sứ của Ngài, các Kinh sách của Ngài, các vị Thiên sứ của Ngài, tin nơi cõi Đời Sau và tin nơi sự tiền định tốt và xấu” (Muslim).

Và khi đức tin Iman đứng một mình nó thì nó bao hàm tất cả: nói bằng lưỡi, tin bằng con tim và hành động bằng thể xác.



  • Câu hỏi 22: Iman có tăng và giảm không và nó tăng giảm bởi điều gì?

  • Trả lời: Đức tin Iman có tăng và giảm, nó tăng bởi sự tuân lệnh và giảm bởi những điều trái lệnh và tội lỗi. Allah I phán:

﴿ إِنَّمَا ٱلۡمُؤۡمِنُونَ ٱلَّذِينَ إِذَا ذُكِرَ ٱللَّهُ وَجِلَتۡ قُلُوبُهُمۡ وَإِذَا تُلِيَتۡ عَلَيۡهِمۡ ءَايَٰتُهُۥ زَادَتۡهُمۡ إِيمَٰنٗا وَعَلَىٰ رَبِّهِمۡ يَتَوَكَّلُونَ ٢ ﴾ [سورة الأنفال: 2]

{Quả thật những người có đức tin là những người mà quả tim của họ rúng động sợ hãi khi nghe nhắc đến Allah và khi nghe đọc các Lời Mặc khải của Ngài, đức tin của họ vững mạnh thêm và họ trọn tin và phó thác cho Thượng Đế của họ.} (Chương 8 – Al-Anfal, câu 2).

﴿ وَإِذَا مَآ أُنزِلَتۡ سُورَةٞ فَمِنۡهُم مَّن يَقُولُ أَيُّكُمۡ زَادَتۡهُ هَٰذِهِۦٓ إِيمَٰنٗاۚ فَأَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ فَزَادَتۡهُمۡ إِيمَٰنٗا وَهُمۡ يَسۡتَبۡشِرُونَ ١٢٤ ﴾ [سورة التوبة: 124]

{Và khi có một chương kinh được ban xuống thì có người trong bọn chúng lên tiếng: “Ai trong quí vị sẽ tăng thêm đức tin với nó?”. Bởi thế, đối với những ai có đức tin thì nó sẽ gia tăng đức tin cho họ và họ hoan hỉ.} (Chương 9 – Attawbah, câu 124).

﴿ لِيَزۡدَادُوٓاْ إِيمَٰنٗا مَّعَ إِيمَٰنِهِمۡۗ ﴾ [سورة الفتح: 4]

{để cho đức tin của họ ngày càng gia tăng.} (Chương 48 – Al-Fath, câu 4).

Và Nabi e nói:

« الإِيمَانُ بِضْعٌ وَسَبْعُونَ شُعْبَةً وَالْحَيَاءُ شُعْبَةٌ مِنَ الإِيمَانِ » رواه مسلم.

Iman gồm có bảy mươi mấy phần và tính mắc cỡ là một phần của Iman” (Muslim).

+ + +


  • Câu hỏi 23: Các nguyên nhân nào làm gia tăng đức tin Iman và các nguyên nhân nào làm giảm đức tin Iman?

  • Trả lời: Các nguyên nhân làm gia tăng đức tin Iman là những việc làm thiện tốt và phục tùng mệnh lệnh của Allah I và Thiên sứ của Ngài e, và các nguyên nhân làm giảm đức tin Iman là những việc làm trái lệnh và tội lỗi.

  • Câu hỏi 24: Định nghĩa Ilhad và thế nào là Ilhad nơi các tên gọi và các thuộc tính của Allah và kể ra các dạng Ilhad?

  • Trả lời: Theo nghĩa của từ Ilhad có nghĩa là nghiêng và lệch hướng, còn trong giáo lý thì Ilhad được dùng để nói về sự lệch hướng sau khi đã đi trên con đường ngay chính. Allah I phán:

﴿ إِنَّ ٱلَّذِينَ يُلۡحِدُونَ فِيٓ ءَايَٰتِنَا لَا يَخۡفَوۡنَ عَلَيۡنَآۗ أَفَمَن يُلۡقَىٰ فِي ٱلنَّارِ خَيۡرٌ أَم مَّن يَأۡتِيٓ ءَامِنٗا يَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِۚ ٱعۡمَلُواْ مَا شِئۡتُمۡ إِنَّهُۥ بِمَا تَعۡمَلُونَ بَصِيرٌ ٤٠ ﴾ [سورة فصلت: 40]

{Quả thật, những ai báng bổ các Lời Kinh của TA thì sẽ không trốn khỏi TA. Những kẻ bị ném vào trong Hỏa Ngục và những ai bước ra một cách an toàn vào Ngày Phục Sinh, ai tốt hơn ai? Các ngươi cứ làm những gì các ngươi muốn bởi quả thật Ngài (Allah) luôn nhìn thấy tất cả những gì các ngươi làm.} (Chương 41 – Fussilat, câu 40).

﴿ وَلِلَّهِ ٱلۡأَسۡمَآءُ ٱلۡحُسۡنَىٰ فَٱدۡعُوهُ بِهَاۖ وَذَرُواْ ٱلَّذِينَ يُلۡحِدُونَ فِيٓ أَسۡمَٰٓئِهِۦۚ سَيُجۡزَوۡنَ مَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١٨٠ ﴾ [سورة الأعراف: 180]

{Và Allah có những tên gọi tốt đẹp và hoàn mỹ nhất, bởi thế, hãy cầu nguyện Ngài bằng các tên gọi đó. Và hãy tránh xa những kẻ bóp méo tên gọi của Ngài, rồi họ sẽ lãnh đủ về tội của họ.} (Chương 7 – Al-‘Araf, câu 180).

Ilhad trong các tên gọi và các thuộc tính của Allah I là lệch khỏi ý nghĩa mà Ngài và Thiên sứ của Ngài e mô tả bằng sự suy diễn, so sánh và bóp méo. Allah I yêu cầu phải đứng yên trong các tên gọi và các thuộc tính của Ngài qua lời phán:



﴿ لَيۡسَ كَمِثۡلِهِۦ شَيۡءٞۖ وَهُوَ ٱلسَّمِيعُ ٱلۡبَصِيرُ ﴾ [سورة الشورى: 11]

{Không có bất cứ thứ gì giống Ngài cả và Ngài là Đấng nghe và thấy} (Chương 42 – Al-Shura, câu 11).

Trong câu Kinh này, Allah I khẳng định các tên gọi và các thuộc tính của Ngài đã được Ngài và được vị Thiên sứ của Ngài e mô tả.

Các dạng Ilhad về các tên gọi và các thuộc tính của Allah I:

1- Đặt tên cho các bụt tượng bởi một điều gì đó từ các tên gọi của Allah I, chẳng hạn như họ gọi thần Al-Lat là Thượng Đế, Al-Uzza là Đấng Toàn Năng.

2- Gọi Allah I bằng những gì không phù hớp với tính tối cao và thiêng liêng của Ngài như cách những người Thiên chúa giáo đã gọi Ngài là Chúa cha, còn những nhà triết lý thì gọi Ngài là nguồn động lực cho hành động.

3- Mô tả Allah I với những gì không phù hợp với tính tuyệt đối của Ngài cũng như với những gì mang tính chất yếu kém và khiếm khuyết, chẳng hạn như lời nói tồi tệ của những người Do thái rằng “Ngài nghỉ mệt vào ngày thứ bảy”, và câu nói của họ: {tay của Allah bị xích chặt lại} (Chương 5 – Al-Ma-idah, câu 64).

4- Bóp méo các tên gọi hoàn mỹ cũng như các thuộc tính tối cao của Allah I, phủ nhận ý nghĩa đích thực các tên gọi và thuộc tính của Ngài giống như một số người phái Jahmiyah: “Đấng Hằng Nghe không có sự nghe và Đấng Hằng Sống không có sự sống”.

5- So sánh các thuộc tính của Allah I với các thuộc tính các tạo vật của Ngài, điều chân lý là khẳng định các tên gọi và các thuộc tính của Ngài không được so sánh với các tạo vật.

+ + +


  • Câu hỏi 25: Có phải sự khác biệt tôn giáo bởi các vị Nabi khác nhau không, hãy trình bày rõ về vấn đề này?

  • Trả lời: Tôn giáo không khác biệt bởi các vị Nabi khác nhau mà tôn giáo của họ đều là một: thờ phượng duy nhất một mình Allah phủ nhận sự tổ hợp Shirk cùng với Ngài. Allah I phán:

﴿ شَرَعَ لَكُم مِّنَ ٱلدِّينِ مَا وَصَّىٰ بِهِۦ نُوحٗا وَٱلَّذِيٓ أَوۡحَيۡنَآ إِلَيۡكَ وَمَا وَصَّيۡنَا بِهِۦٓ إِبۡرَٰهِيمَ وَمُوسَىٰ وَعِيسَىٰٓۖ أَنۡ أَقِيمُواْ ٱلدِّينَ وَلَا تَتَفَرَّقُواْ فِيهِۚ ﴾ [سورة الشورى: 13]

{Ngài đã qui định cho các ngươi tôn giáo mà Ngài đã truyền xuống cho Nuh và tôn giáo mà TA đã mặc khải cho Ngươi (Muhammad) cũng là những gì TA đã truyền cho Ibrahim, Musa và Isa. Hãy giữ vững tôn giáo và chớ chia rẽ trong đó.} (Chương 42 – Ash-Shura, câu 13).

Mặc dù hệ thống giáo luật có khác nhau như Allah I đã phán:



﴿ لِكُلّٖ جَعَلۡنَا مِنكُمۡ شِرۡعَةٗ وَمِنۡهَاجٗاۚ ﴾ [سورة المائدة: 48]

{TA đã qui định cho từng Sứ giả trong các ngươi một hệ thống luật pháp và một lề lối.} (Chương 5 – Al-Ma-idah, câu 48 – 50).

Nhưng tôn giáo vẫn là một tức chỉ thờ phượng một mình Allah I duy nhất như Nabi e đã nói:

« نَحْنُ مَعَاشِرَ الأَنْبِيَاءِ أَوْلاَدُ عَلاَّتٍ: دِينُنَا وَاحِدٌ »

Chúng ta, các vị Nabi đều là những đứa con cùng cha khác mẹ, tôn giáo của chúng ta là một”.



  • Câu hỏi 26: Việc thờ phượng duy nhất một mình Allah I có thể hình thành hay không nếu không phủ nhận các tà thần, bằng chứng?

  • Trả lời: Sự thờ phượng Allah I không thể hình thành nếu không có sự phủ nhận các tà thần. Allah I phán:

﴿ فَمَن يَكۡفُرۡ بِٱلطَّٰغُوتِ وَيُؤۡمِنۢ بِٱللَّهِ فَقَدِ ٱسۡتَمۡسَكَ بِٱلۡعُرۡوَةِ ٱلۡوُثۡقَىٰ ﴾ [سورة البقرة : 256]

{Chắc chắn điều chân lý và lẽ phải bao giờ cũng rõ ràng và khác biệt với điều ngụy tạo và sai lệch. Do đó, người nào phủ nhận tà thần và tin tưởng nơi Allah thì quả thật y đã nắm chặt sơi dây cứu rỗi không bao giờ đứt.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 256).

﴿وَلَقَدۡ بَعَثۡنَا فِي كُلِّ أُمَّةٖ رَّسُولًا أَنِ ٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَٱجۡتَنِبُواْ ٱلطَّٰغُوتَۖ﴾ [سورةالنحل : 36]

{Và quả thật, TA đã cử phái đến với mỗi cộng đồng một vị sứ giả với mệnh lệnh rằng hãy thờ phượng Allah và tránh xa tà thần} (Chương 16 – Annahl, câu 36).

Nabi e nói:

« مَنْ قَالَ لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ وَكَفَرَ بِمَا يُعْبَدُ مِنْ دُونِ اللهِ حَرُمَ مَالُهُ وَدَمُهُ وَحِسَابُهُ عَلَى اللهِ » رواه مسلم.

Ai nói không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah và phủ nhận những gì được thờ phượng khác Ngài thì tài sản và tính mạng của y Haram xâm phạm và quyền xét xử là do nơi Allah thanh toán” (Muslim).

+ + +


  • Câu hỏi 27: Shirk là gì?

  • Trả lời: Shirk là hướng một hình thức thờ phượng nào đó đến ai (vật) khác Allah I, hoặc tin rằng có thượng đế và đấng điều hành khác ngoài Allah I, hoặc gán một thứ gì đó từ các tên gọi cũng như các thuộc tính của Allah I cho ai (vật) khác Ngài. Tất cả những điều này đều là Shirk với Allah I bị nghiêm cấm như Allah I đã phán:

﴿ وَٱعۡبُدُواْ ٱللَّهَ وَلَا تُشۡرِكُواْ بِهِۦ شَيۡ‍ٔٗاۖ ﴾ [سورة النساء: 36]

{Các ngươi hãy thờ phượng Allah và tuyệt đối không được Shirk với Ngài (tổ hợp với Ngài trong thờ phượng) bất cứ thứ gì.} (Chương 4 – Annisa’, câu 36).

Lời Tawhid “لاَ إِلَهَ إِلاَّ اللهُ” - “Không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Allah” khẳng định rằng Allah I không có đối tác ngang hàng trong quyền được thờ phượng, quyền tạo hóa và điều hành vũ trụ và mọi vạn vật và trong các tên gọi và các thuộc tính của Ngài.

+ + +


  • Câu hỏi 28: Trình bày chi tiết các dạng Shirk?

  • Trả lời: Shirk có hai dạng: đại Shirk và tiểu Shirk.

Dạng Shirk thứ nhất: Đại Shirk là trọng tội bị trục xuất khỏi tôn giáo và người nào chết trong tình trạng Shirk này thì sẽ đời đời kiếp kiếp sống trong Hỏa Ngục. Allah I phán:

﴿ مَا كَانَ لِلۡمُشۡرِكِينَ أَن يَعۡمُرُواْ مَسَٰجِدَ ٱللَّهِ شَٰهِدِينَ عَلَىٰٓ أَنفُسِهِم بِٱلۡكُفۡرِۚ أُوْلَٰٓئِكَ حَبِطَتۡ أَعۡمَٰلُهُمۡ وَفِي ٱلنَّارِ هُمۡ خَٰلِدُونَ ١٧ ﴾ [سورة التوبة: 17]

{Những người thờ đa thần không xứng đáng làm công việc bảo quản các Thánh đường của Allah bởi vì chúng tự xác nhận mình không có đức tin. Đó là những kẻ mà việc làm sẽ không có kết quả và chúng sẽ vào ở đời đời kiếp kiếp trong Hỏa ngục.} (Chương 9 – Attawbah, câu 17).

﴿ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يَغۡفِرُ أَن يُشۡرَكَ بِهِۦ وَيَغۡفِرُ مَا دُونَ ذَٰلِكَ لِمَن يَشَآءُۚ وَمَن يُشۡرِكۡ بِٱللَّهِ فَقَدِ ٱفۡتَرَىٰٓ إِثۡمًا عَظِيمًا ٤٨ ﴾ [سورة النساء: 48]

{Quả thật, Allah không tha thứ cho hành vi Shirk (hành vi gán ghép một đối tác ngang hàng với Allah trong thờ phượng) nhưng Ngài sẽ tha thứ cho những tội lỗi khác cho người nào Ngài muốn. Và ai làm điều Shirk với Allah thì quả thật y đã phạm phải một đại trọng tội không thể tha thứ.} (Chương 4 - Annisa’, câu 48).

Đại Shirk tập hợp bốn điều:

1- Shirk trong cầu xin và khấn vái: Allah I phán:



﴿ فَإِذَا رَكِبُواْ فِي ٱلۡفُلۡكِ دَعَوُاْ ٱللَّهَ مُخۡلِصِينَ لَهُ ٱلدِّينَ فَلَمَّا نَجَّىٰهُمۡ إِلَى ٱلۡبَرِّ إِذَا هُمۡ يُشۡرِكُونَ ٦٥ ﴾ [سورة العنكبوت : 65]

{Khi chúng lên tàu ra khơi, chúng cầu nguyện khấn vái Allah, chúng dâng trọn cả đức tin cho Ngài. Nhưng khi Ngài cứu chúng trở lại đất liền một cách an toàn thì chúng lại làm điều Shirk (cầu nguyện và khấn vái các thần linh khác Ngài)} (Chương 29 – Al-‘Ankabut, câu 65).

2- Shirk trong tuân lệnh va phủ phục: Nhận lấy tạo vật của Allah I làm thần linh, làm thượng đế để phục tùng và qui phục. Allah I phán:



﴿ ٱتَّخَذُوٓاْ أَحۡبَارَهُمۡ وَرُهۡبَٰنَهُمۡ أَرۡبَابٗا مِّن دُونِ ٱللَّهِ ﴾ [سورة التوبة: 31]

{Chúng đã nhận lấy tu sĩ Do thái và tu sĩ Công giáo làm Thượng Đế của chúng thay vì phải là Allah.} (Chương 9 – Attawbah, câu 31).

3- Shirk trong tình yêu: Yêu thương ai (vật) khác Allah I giống như yêu thương Ngài. Allah I phán:



﴿ وَمِنَ ٱلنَّاسِ مَن يَتَّخِذُ مِن دُونِ ٱللَّهِ أَندَادٗا يُحِبُّونَهُمۡ كَحُبِّ ٱللَّهِۖ وَٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ أَشَدُّ حُبّٗا لِّلَّهِۗ وَلَوۡ يَرَى ٱلَّذِينَ ظَلَمُوٓاْ إِذۡ يَرَوۡنَ ٱلۡعَذَابَ أَنَّ ٱلۡقُوَّةَ لِلَّهِ جَمِيعٗا وَأَنَّ ٱللَّهَ شَدِيدُ ٱلۡعَذَابِ ١٦٥ ﴾ [سورة البقرة : 165]

{Và trong nhân loại, có những kẻ đã dựng lên những thần linh ngang hàng cùng với Allah. Họ yêu thương chúng giống như tình yêu họ dành cho Allah. Còn những người có đức tin thì một lòng yêu thương Allah. Và nếu những người làm điều sai quấy có thể nhìn thấy sự thật thì chắc chắn họ sẽ không thấy gì ngoài sự trừng phạt bởi lẽ mọi quyền lực đều thuộc nơi Allah và quả thật Allah rất nghiêm khắc trong việc trừng phạt.} (Chương 2 – Albaqarah, câu 165).

4- Shirk trong sự định tâm: Allah I phán:



﴿ مَن كَانَ يُرِيدُ ٱلۡحَيَوٰةَ ٱلدُّنۡيَا وَزِينَتَهَا نُوَفِّ إِلَيۡهِمۡ أَعۡمَٰلَهُمۡ فِيهَا وَهُمۡ فِيهَا لَا يُبۡخَسُونَ ١٥ أُوْلَٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ لَيۡسَ لَهُمۡ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ إِلَّا ٱلنَّارُۖ وَحَبِطَ مَا صَنَعُواْ فِيهَا وَبَٰطِلٞ مَّا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ ١٦ ﴾ [سورة هود: 15، 16]

{Những ai ham muốn sự hào nhoáng của đời sống trần tục thì TA sẽ trả đầy đủ phần công lao của họ và TA sẽ không hề cắt giảm một tí nào ở nơi đó. Nhưng họ sẽ là những kẻ không hưởng được gì ở Đời sau ngoài ngọn lửa nơi Hỏa ngục, lúc đó họ mới nhận thấy rằng công trình của họ nơi trần gian sẽ tiêu tan và việc làm mà họ đã từng làm nơi đó chỉ là vô nghĩa.} (Chương 11 – Hud, câu 15, 16).

Dạng Shirk thứ hai: Tiểu Shirk, một trong các hình thức Shirk này là một số lời nói liên kết giữa Allah với một số tạo vật chẳng hạn như (مَا شَاءَ اللهُ وَشِئْتَ) – (Điều Allah và anh muốn), (وَلَوْ لَا الله وَفُلَان) – (Nếu không có Allah và anh thì ..), sự thề nguyện với ai (vật) khác ngoài Allah, ... Bởi thế, một người được yêu cầu phải tẩy sạch trái tim của y khỏi mọi điều Shirk nhỏ hay lớn. Allah I phán:

﴿ فَمَن كَانَ يَرۡجُواْ لِقَآءَ رَبِّهِۦ فَلۡيَعۡمَلۡ عَمَلٗا صَٰلِحٗا وَلَا يُشۡرِكۡ بِعِبَادَةِ رَبِّهِۦٓ أَحَدَۢا ١١٠ ﴾ [سورة الكهف : 110]

{Do đó, người nào mong muốn được gặp Thượng Đế của y thì hãy làm việc thiện tốt và chớ đừng Shirk với Thượng Đế của y một ai (vật) khác trong lúc thờ phượng Ngài} (Chương 18 – Al-Kahf, câu 110).

Và dạng tiểu Shirk là dạng Shirk kín đáo khó nhận thấy, và hầu như không thể nhận biết nó bởi vì nó còn khó thấy hơn cả dấu chân của con kiến đen. Cũng chính vậy nó được gọi là Riya’ có nghĩa sự phô trương những việc làm ngoan đạo để cho ai đó nhìn thấy chứ không hoàn toàn thành tâm vì Allah I. Thiên sứ của Allah e đã rất lo sợ cho cộng đống tín đồ của Người dính vào dạng Shirk này, Người e nói:

« إِنَّ أَخْوَفَ مَا أَخَافُ عَلَيْكُمُ الشِّرْكُ الأَصْغَرُ »

Quả thật, điều mà Ta lo sợ nhất cho các ngươi là tiểu Shirk

Các vị Sahabah y nghe vậy hỏi đó là gì thì Người nói: “Riya’” (Ahmad).

+ + +


  • Câu hỏi 29: Sự khác biệt giữa đại Shirk và tiểu Shirk ở Ngày Sau là gì?

  • Trả lời: Sự khác biệt giữa đại Shirk và tiểu Shirk ở Ngày Sau: người làm Shirk với dạng đại Shirk sẽ không được tha thứ tội lỗi nếu như y không sám hối trước khi chết, mọi việc làm ngoan đạo và thiện tốt của y sẽ vô giá trị nơi Allah I và y sẽ phải đời đời kiếp kiếp sống trong Hỏa Ngục; còn người làm Shirk với dạng tiểu Shirk thì cũng được cho rằng sẽ không được Allah I tha thứ tội lỗi nếu như không sám hối bởi lời phán mang ý nghĩa tổng quát:

﴿ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يَغۡفِرُ أَن يُشۡرَكَ بِهِۦ ﴾ [سورة النساء: 48]

{Quả thật, Allah không tha thứ cho hành vi Shirk (hành vi gán ghép một đối tác ngang hàng với Allah trong thờ phượng).} (Chương 4 - Annisa’, câu 48).

Tuy nhiên, tiểu Shirk không làm cho tất cả mọi việc làm ngoan đạo thiện tốt mất hết giá trị mà chỉ có việc làm nào có sự hiện diện của nó thì mới vô giá trí, và người làm điều thuộc dạng tiểu Shirk sẽ không phải sống đời đời kiếp kiếp trong Hỏa Ngục. Người của tiểu Shirk có thể vào Thiên Đàng nếu việc làm thiện tốt của có trọng lượng nặng hơn trên chiếc cân còn bằng không y phải vào Hỏa Ngục nhưng sau đó được trở ra.

Cầu xin Allah I phù hộ và che trở tránh xa khỏi mọi điều Shirk!!!.

+ + +


  • Câu hỏi 30: Ảnh hưởng của Shirk đối với người làm Shirk như thế nào?

  • Trả lời: Ảnh hưởng của Shirk đối với người làm Shirk có vô số tác hại, tiêu biểu:

1- Thất bại và thua thiệt ở trên cõi đời này và ở cõi Đời Sau, Allah I phán:

﴿ وَمِنَ ٱلنَّاسِ مَن يَعۡبُدُ ٱللَّهَ عَلَىٰ حَرۡفٖۖ فَإِنۡ أَصَابَهُۥ خَيۡرٌ ٱطۡمَأَنَّ بِهِۦۖ وَإِنۡ أَصَابَتۡهُ فِتۡنَةٌ ٱنقَلَبَ عَلَىٰ وَجۡهِهِۦ خَسِرَ ٱلدُّنۡيَا وَٱلۡأٓخِرَةَۚ ذَٰلِكَ هُوَ ٱلۡخُسۡرَانُ ٱلۡمُبِينُ ١١ ﴾ [سورة الحج: 11]

{Và trong nhân loại có kẻ thờ phượng Allah đứng trên bờ lề (của đức tin). Bởi thế, nếu gặp điều phúc lành thì y sẽ hài lòng với nó. Ngược lại, nếu gặp hoạn nạn thì y quay mặt sang phía khác. Thế là y thất bại ở cõi đời này và ở cõi Đời Sau. Đấy quả thật là một sự thua thiệt và mất mát rõ ràng.} (Chương 22 – Al-Hajj, câu 11).

2- Shirk làm cho một người lệch hướng khỏi con đường ngay chính để đến với sự lầm lạc. Allah I phán:

﴿ يَدۡعُواْ مِن دُونِ ٱللَّهِ مَا لَا يَضُرُّهُۥ وَمَا لَا يَنفَعُهُۥۚ ذَٰلِكَ هُوَ ٱلضَّلَٰلُ ٱلۡبَعِيدُ ١٢﴾ [سورة الحج: 12]

{Y cầu nguyện ngoài Allah những kẻ không gây hại cho y cũng không mang lợi cho y. Như thế là y đang lầm lạc rất xa.} (Chương 22 – Al-Hajj, câu 12).

3- Tác hại của Shirk là chỉ có hại chứ không có lợi, Allah I phán:

﴿ يَدۡعُواْ لَمَن ضَرُّهُۥٓ أَقۡرَبُ مِن نَّفۡعِهِۦۚ لَبِئۡسَ ٱلۡمَوۡلَىٰ وَلَبِئۡسَ ٱلۡعَشِيرُ ١٣ ﴾ [سورة الحج: 13]



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương