Hồ SƠ thị trưỜng liên bang nga


Các ngành kinh tế mũi nhọn



tải về 306.59 Kb.
trang4/6
Chuyển đổi dữ liệu09.11.2017
Kích306.59 Kb.
1   2   3   4   5   6

2. Các ngành kinh tế mũi nhọn:


Kinh tế của Nga chủ yếu dựa vào xuất khẩu hàng hóa, với các nhóm hàng xuất khẩu chính là dầu mỏ, khí đốt, hóa chất, kim loại, vũ khí cá nhân và vũ khí phục vụ quốc phòng. Trong giai đoạn hiện nay, Nga đang tập trung ưu tiên cho phát triển ngành năng lượng do năng lượng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn giúp kinh tế Nga cất cánh và nâng cao vị thế quốc tế trong những năm gần đây. Cho tới năm 2020, sản lượng khai thác dầu mỏ của Nga sẽ tăng khoảng 9%, trong khi sản lượng khai thác khí đốt tăng 35,2% so với năm 2007, đạt 880 tỷ m3.

Ngày 6/8/2008, Nga đã công bố Kế hoạch phát triển năng lượng hạt nhân của nước này đến năm 2020. Kế hoạch đặt ra các mục tiêu: nâng sản lượng điện hạt nhân của Nga vào năm 2020 chiếm 20-22% toàn bộ nhu cầu năng lượng điện của nước này; kể từ năm 2020 trở đi các nhà máy điện hạt nhân của Nga sẽ chuyển dần sang sử dụng công nghệ mới; xây dựng hạ tầng cơ sở có hiệu quả trong việc xử lý nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng và các chất thải phóng xạ... Một trong những hướng ưu tiên của Nga là xây dựng các trung tâm quốc tế làm giàu Urani trên lãnh thổ nước này, nhằm đưa Nga trở thành đối tác toàn cầu trong lĩnh vực năng lượng và kinh doanh năng lượng hạt nhân. Các trung tâm như vậy có nhiệm vụ bảo đảm quyền bình đẳng của các nước phi hạt nhân, trong việc tiếp cận các nguồn nhiên liệu hạt nhân được làm giàu ở mức độ thấp, với điều kiện phải tuân thủ Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Nga cũng chủ trương tăng cường xây dựng thêm các nhà máy điện hạt nhân công suất vừa và nhỏ, để cung cấp điện cho các vùng sâu, vùng xa. Đồng thời, đẩy mạnh bán công nghệ hạt nhân cho các nước đang phát triển, bảo đảm xuất khẩu trang thiết bị và kỹ thuật hạt nhân đạt khoảng 8-14 tỷ USD vào năm 2020. Kế hoạch trên nhằm bảo đảm vị trí dẫn đầu về công nghệ của Nga trên thế giới trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân và khả năng cạnh tranh cao của các nhà máy điện hạt nhân của Nga, cũng như đẩy mạnh hợp tác với các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực này.

4. Các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài:


Chính phủ Nga đánh giá cao tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài trong sự phát triển kinh tế của mình. Luật đầu tư năm 1991 đảm bảo quyền công bằng của nhà đầu tư nước ngoài như với các nhà đầu tư trong nước (Tuy nhiên một số ngành có những hạn chế đối với quyền sở hữu nước ngoài). Luật đầu tư nước ngoài năm 1999 cũng phê chuẩn nguyên tắc này. Ở cấp khu vực, nhiều chính quyền địa phương đã phát triển các điều luật và chương trình để thu hút vốn FDI, bao gồm cả các dự án thành lập các khu công nghệ gần các trường đại học và các khu chế xuất gần với cảng và biên giới. Mặc dù những cải cách về thuế ở cấp liên bang nhằm tạo ra một sân chơi công bằng cho các nhà đầu tư và hạn chế mức khuyến khích do các khu vực đưa ra, nhưng thực tế thì các nhà đầu tư nước ngoài có máu mặt vẫn tiếp tục nhận được sự khuyến khích này từ các chính quyền địa phương. Mấy năm gần đây, Nga đúc rút bài học kinh nghiệm từ "liệu pháp sốc", tìm kiếm con đường cải cách phù hợp với kinh tế trong nước và nhanh chóng chuyển đổi mô hình kinh tế, tích cực tạo ra hệ thống kinh tế thị trường. Sau 15 năm cải cách, môi trường kinh tế Nga đã có sự cải thiện rõ rệt, vì thế càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

Tình hình đầu tư nước ngoài vào và đầu tư ra nước ngoài Liên bang Nga:

Năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Nga đạt 26,1 tỷ USD, tăng gấp đôi so với năm 2004. Năm 2007 số vốn đầu tư nước ngoài là 82,5 tỷ USD, cũng tăng gần gấp đôi năm 2006. Năm 2008 đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào Nga so với năm 2007 giảm 14,2%, đạt 103,8 tỉ USD. Trong năm 2009, đầu tư vào kinh tế Nga đã giảm 17%, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm 41% và chỉ đạt mức 3,6%, mặc dù Chính phủ Nga đã thực thi các biện pháp chống khủng hoảng, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và phát triển một nền kinh tế mở đối với đầu tư.

Theo Ngân hàng Trung ương Nga, môi trường đầu tư được cải thiện đã có sức hút mạnh với các công ty lớn thế giới. Những công ty khổng lồ về sản xuất ô tô nay đã có mặt tại Nga: Ford, General Motors, Toyota, Nissan, Volkswagen, BMW, Renault, KIA… Kinh tế nước Nga ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Theo Ủy ban thống kê quốc gia LB Nga (Rossatt), tổng mức đầu tư nước ngoài của LB Nga từ tháng giêng đến tháng chín năm 2008 đạt 91 tỷ 343 triệu đô la Mỹ, tăng 68,6% so với cùng kỳ năm 2007. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Nga năm 2009 giảm xuống mức 40 tỷ USD do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Năm 2010 số FDI đổ vào Nga chỉ đạt 13 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư của Nga ra nước ngoài, năm 2010 đạt 260,5 tỷ USD.

III. QUAN HỆ NGOẠI GIAO – CHÍNH TRỊ VỚI VIỆT NAM


Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam: 30/1/1950

Từ năm 1997, hai bên thường xuyên trao đổi các đoàn cấp cao, thể hiện rõ mối quan hệ truyền thống và hợp tác nhiều mặt vốn có.


1. Các chuyến thăm cao cấp gần đây


Phía Nga sang thăm ta: Chủ tịch Đu-ma Quốc gia Xe-le-dơ-nhốp và Chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga Chéc-nô-mư-rơ-đin (năm 1997); Tổng thống Nga Pu-tin (28/02-02/03/2001); Tổng thống Nga V. Putin sang thăm Việt Nam nhân kỳ họp APEC 2006 tại Hà Nội; Tổng thống Nga V. Medvedev năm 2010 nhân kỳ họp thượng đỉnh ASEAN tại Hà Nội, Thủ tướng Nga D. Medvedev (tháng 11/2012)

Phía ta sang thăm LB Nga: Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 6/1994); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (tháng 8/1998);Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 9/2000); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (tháng 10/2002); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (từ ngày 14-18/1/2003); Chủ tịch nước Trần Đức Lương (từ ngày 17-19/5/2004). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (Tháng 9/2007), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 10/2008), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (22-26/4/2009), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (2010), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (2010), Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (11-08-2011); Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (7-2012), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (7/2012)

Cơ sở điều ước pháp lý mới cho quan hệ hợp tác song phương đã được tạo dựng khá đầy đủ. Từ năm 1991 đến 2007 đã có khoảng 50 văn kiện song phương được ký kết. Đặc biệt, hai nước đã thúc đẩy giải quyết dứt điểm thỏa đáng một số vấn đề tồn đọng trong quan hệ từ thời Liên Xô để lại như xử lý nợ của Việt Nam, vấn đề Nga chấm dứt trước thời hạn việc sử dụng quân cảng Cam Ranh. Trên cơ sở quan hệ hữu nghị truyền thống, tin cậy, xuất phát từ quan điểm gần gũi trong nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, Việt Nam và Liên bang Nga đã và đang phối hợp chặt chẽ tại Liên hợp quốc và các diễn đàn đa phương khác.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương