Họ ĐẠo kinh đỨc bà NỘi dung họ ĐẠo kinh đỨc bà: Sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ



tải về 0.97 Mb.
trang1/10
Chuyển đổi dữ liệu06.05.2018
Kích0.97 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

HỌ ĐẠO KINH ĐỨC BÀ
NỘI DUNG


  1. HỌ ĐẠO KINH ĐỨC BÀ: Sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ



29


2.


1. Ban Thường vụ: 40

61




CON NGƯỜI 'KINH ĐỨC BÀ' NGÀY NAY:

  1. Con người 'Kinh Đức Bà' với cuộc sống: Mục vụ di dân?

  2. Con người 'Kinh Đức Bà' với nếp sống văn hóa-văn minh:PÂH

  3. Con người 'Kinh Đức Bà' với truyền thống đạo đức:ƠG...

  1. HƯỚNG MỞ VỀ TƯƠNG LAI:

  1. Phát triển phạm vi văn hóa để có khả năng hội nhập xã hội văn minh?

  2. Chuẩn bị niềm tin, nhân cách Kitô giáo cho người trẻ đi xa họ đạo (di dân)?

  3. Tiếp tục giữ gìn các truyền thống sống đạo, kết quả nẩy sinh ơn gọi?

Phần phụ thêm:

    1. Vườn ảnh:

    2. Kinh hát cầu nguyện cho ' họ đạo Kinh Đức Bà'.

    3. Bản đồ hành chính khu vực họ đạo Kinh Đức Bà (nếu có)

    4. Danh sách các linh mục phục vụ tại họ đạo Kinh Đức Bà

HỌ ĐẠO KINH ĐỨC BÀ

130 năm

(1880-2010)




  1. HỌ ĐẠO KINH ĐỨC BÀ: Sự hình thành và phát triển qua các thời kỳ

A. NGUỒN GỐC HỌ ĐẠO KINH ĐỨC BÀ

1. Nguồn gốc khai sinh:

Nguồn gốc ban đầu khai sinh họ đạo Kinh Đức Bà, chính là sự quan phòng của Chúa. Khởi đầu do Lời Chúa kêu gọi, sai đi một tâm hồn trẻ trung, tràn đầy nhiệt thành với sứ mệnh truyền giáo, đó là Cha Vincent Victor Gonet1. Sau khi Cha nghe tiếng gọi của Chúa trong tâm hồn: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít", cha từ Pháp đến Việt Nam truyền giáo.

Theo tư liệu M.E.P, Cha lên đường sang Việt Nam và đến lập một vài họ đạo tại Tây Đàng Trong, thuộc Cần thơ như Tham Tướng, Cái Quanh..., nhưng sau đó cha nhận định về công việc của mình, được ghi lại như sau: 'Sau khi thành lập nhiều họ đạo, cha Gonet nhận thấy rằng những nhóm nhỏ, cô lập rải rác giữa người lương… không đáp ứng được yêu cầu. Vì nhiều lý do , mà cũng có thể không vì lý do gì, người Kitô hữu có thể bỏ đi dễ dàng, phân tán chỗ nầy chỗ kia, những người còn ở lại thì cũng chẳng sốt sắng và kiên trì. Vì thế cha quyết định tìm một vùng đất hoang rộng lớn để quy tụ hàng trăm Kitô hữu và dự tòng .



Cha nghĩ, nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng, những cộng đoàn Kitô hữu được thành lập như thế sẽ sốt sắng; hơn nữa, sẽ trở thành ngọn đèn chiếu hằng ngàn tia sáng rạng ngời lên lương dân chung quanh. Vì thế, cha xin và dễ dàng được phép quản trị một vùng rừng rú rộng rãi, đầy thú dữ. Để cải tạo, cha Gonet bắt đầu làm việc cực lực trong niềm tin vào Chúa quan phòng. Cha phải đi vay vốn. Cha tìm chiên lạc. Nhiều dự tòng cũng đến vừa tiếp tay vừa học đạo. Cha chia đất, cha cực lực làm việc đế mau phát hoang và biến rừng rú thành ruộng lúa phì nhiêu.

Sau năm năm làm việc không ngừng, cha Gonet vui mừng tạ ơn Chúa vì những ơn lành tuôn tràn trên công việc của cha. Ba phần tư khu rừng đã được khai phá. Cộng đoàn Kitô hữu mới đã được thành lập đầy sức sống: hơn 500 Kitô hữu và tân tòng dưới bóng Thánh giá và dưới quyền vị mục tử-ân nhân được mọi người kính trọng.

Trước khi cha đến, Trà lồng là vùng rừng rú mênh mông. Tin vào Chúa và chỉ vì Chúa, cha muốn làm một điều gì còn lớn lao hơn Cổ Cò và Hưng Hội. Cha muốn thành lập một cộng đoàn Kitô hữu lớn cỡ từ 4000 tới 5000 tín hữu. Chánh quyền thừa nhận công việc của cha nên dễ dàng nhượng cho cha những vùng đất rộng cấp phát cho giáo dân và những người định cư với cha... Từ những ngày đầu tiên, đã có một số khá đông những Kitô hữu không nơi nương tựa tìm đến với cha. Người lương nghe tiếng cha cũng đến xin đất và hứa trở lại đạo. Cha Gonet cũng làm giống như ở Cổ Cò: đón nhận mọi người, giúp đỡ, nhưng thường cha phải đi vay nợ. Nhờ hoa màu tốt tươi, cộng đoàn Trà Lồng chẳng bao lâu trở thành một trong những điểm truyền giáo quan trọng nhất; trước trận bão 1904, Trà Lồng gồm hơn 2000 giáo dân...2.

Sau khi họ đạo Trà Lồng đã hình thành, Cha tìm đến những giáo dân sống rải rác quanh vùng Trà Lồng. Cha qui tụ được trong khu vực nầy, có những gia đình Kitô hữu đầu tiên và dần dà thành lập họ đạo Kinh Đức Bà. Ban đầu có 6 gia đình; sau đó thêm 6 gia đình nữa. Những người đầu tiên đến, đó là:

1. Ông Câu Đắc (Nguyễn văn Đắc)

2. Ông Biện Suốt (Nguyễn văn Suốt)

3. Ông Từ Minh (Nguyễn văn Minh)

4. Ông Nguyễn văn Ơn

5. Ông Hương Chánh Kỷ (Ngô văn Kỷ)

6. Ông Thái bá Dược

7. Ông Biện Cương (Nguyễn văn Cương)

8. Ông Trần văn Sang

9. Ông Biện Cần (Phạm văn Cần)

10. Ông Thầy Tám Nay (Nguyễn văn Nay)

11. Ông Phạm Văn Giỏi

12. Ông Mai văn Lực

Trong những người đầu tiên nầy, có ông Thái bá Dược, là người lập nghiệp tại đây lâu hơn. Theo lời Ông Thái văn Hóa (sinh 1935), một anh em tôn giáo bạn cho biết, ông được nghe con ông Thái bá Tâm, là ông Thái bá Thạnh (sinh năm Mão-1903), cũng là người bác ruột của ông kể lại rằng:

Vào thời vua Dực Tông niên hiệu là Tự Đức (1848-1883), có ông Thái bá Túc (ngôi mộ hiện còn tại khu vực gần đất Thánh họ đạo Kinh Đức Bà) đã rời miền trung vào vùng nầy sinh sống. Trước đó, ông là quan triều đình Huế, không rõ vì sao rời bỏ triều đình để vào miền nam. Sau khi ở được một năm, triều đình Huế có sai người đi ngựa đến tìm, ông đi Huế khoảng 2 tháng, trở về và ở luôn tại Kinh Đức Bà cho tới chết. Ông có 3 người con trai là Thái bá Tâm, Thái bá Dõng và Thái bá Dược. Trong 3 người con nầy, chỉ có ông Thái bá Dược theo đạo công giáo (theo đạo từ khi còn trẻ) và kết hôn với bà Võ thị Sang. Con trai ông là Thái văn Thi, sau nầy sinh sống tại họ đạo Trà Lồng, còn con gái là Thái thị Khạo (hai Khạo) gả cho ông Phạm văn Giỏi và Thái thị Thọ (tư Thọ) gả cho ông xã Nhị (con ông Nguyễn văn Ơn).

Ngày nay, nhiều người tự hỏi, tại sao những cư dân đầu tiên dời vào 'vùng sâu vùng xa'? Theo ông Thái văn Hóa (không Công giáo) cho biết, người lớn nói rằng, ngày xưa chưa có kinh xáng múc, và khu vực nầy vừa sâu vừa rộng, dân chúng gọi là 'lung' (marsh), Lung Ngọc Hoàng3. Ngoài ra, có khu vực nhà bà tư Như (Maria Lê thị Như) ngày nay, gọi là 'lung Vạc Lục', hoặc có nơi ít sâu hơn, nhỏ hơn gọi là bàu, như 'Bàu Tràm', ‘bàu Trăm’. Tuy gọi là lung, nhưng cũng có chỗ cao chỗ thấp, mùa mưa thì nước đầy; mùa khô thì có chỗ khô cạn, có chỗ còn nước. Vì thế, muốn ở thì phải đốn cây xốc nạng, làm nhà trên lung; và khi chọn chỗ ở, thường chọn nơi nào vào mùa khô có nước để uống.

Như vậy, vùng nầy là khu đất rộng mênh mông, không phân biệt được chỗ nào là 'vùng sâu vùng xa'. Ông bà ngày xưa luôn tìm nơi nào tạm có điều kiện thuận lợi để sinh sống, nhất là sống gần nhau để tương trợ hoặc chống chọi với những hiểm nguy do thú rừng hoặc cái khắc nghiệt của thiên nhiên, thời tiết.

Ngày nay, ‘Lung Ngọc Hoàng’ còn được gọi là Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Lung Ngọc Hoàng, là vùng đất ngập nước rộng đến 2.800 ha; và theo nghiên cứu tổng hợp, đây là nơi còn lưu giữ lại cảnh thiên nhiên hoang sơ, là nơi bảo tồn đa dạng sinh học thuộc dạng độc đáo nhất cả nước hiện nay. Tại lung Ngọc Hoàng hiện nay, đang tồn tại trên 330 loài thực vật với 224 chi, 92 họ, trong số nầy có 56 loài mới phát hiện; ngoài ra còn nhiều loại thủy sản nước ngọt khác4.

Những người công giáo đầu tiên từ những nơi khác đến lập nghiệp tại vùng đất nầy khi còn trẻ khoảng đôi mươi hoặc 30 tuổi. Như ông Câu Đắc, theo bia mộ của ông tính từ ngày sinh 1850, tử 1936, hưởng thọ 86 tuổi và thành lập họ đạo 1880, thì khi đó ông đến lập nghiệp cũng sít soát 30 tuổi. Vả lại, theo suy đoán về chức vụ ông Câu, ở họ đạo lớn và lâu đời như họ đạo Mặc Bắc, lứa tuổi 30 khó có thể làm Câu trong họ đạo được. Thông thường, chức vụ được ghi nhớ gắn liền với tên gọi, chỉ là những chức vụ sau nầy được gán từ khi thành lập họ đạo Kinh Đức Bà, có thể làm câu từ thời cha Quimbrot hoặc cha Girodet. Như vậy, từ thời cha Quimbrot đã có tổ chức Câu, Biện5.


2. Những truyền khẩu về họ đạo:

a) Tên họ đạo: Kinh Đức Bà

Theo người lớn tuổi kể truyền lại qua nhiều đời, chính cha Gonet và những người Khmer thời đó cho biết vào khoảng năm 1864, trong vùng nầy, có bầy tượng 75 con, thường xuyên lội qua lại từ Ôven, vùng Tam Hạt (giáp 3 hạt Sóc Trăng, Cần thơ, Rạch giá, nay là Hậu Bối ), Cái côn, Láng Sen (Phụng Tường), đi về sông lớn, qua Lào, trong suốt 20 năm thành lung gọi là lung Bách chang (có khi gọi là Bát chan). Lúc đó, có ông Hai (không rõ tên) mời anh của ông trùm Lãnh, người Tây ban Nha, cũng là cha nuôi của Út Ngộ, tên là Siva, có súng và mang xuống Tam Hạt để bắn voi. Tuy không chết, nhưng làm voi sợ và bỏ đi hết.6

Vào năm 1878, khi cha Gonet đến, vùng đất nầy rừng rậm hoang vu, có cọp, có trâu rừng. Sau nầy khoảng từ năm 1901 đến 1904, Cha Gonet cho đào các con kênh 7. Để đào các kinh nầy, phải huy động khoảng 500 người Việt và Khmer. Kinh đào khoảng 3m (mét), có để một bên làm lộ làng:


1. Kinh từ Bôna qua Tân Lập.

2. Kinh từ Tam Hạt ra Trà cú cạn.

3. Kinh Đường Láng.

4. Kinh Đức Bà.

5. Kinh quanh ruộng.

Khu vực nầy khi đó còn hoang vu chưa có người ở và cũng như chưa có kinh đào 'Kinh Đức Bà'. Ở tại vàm Kinh Đức Bà, có một 'cây Kè' (x. hình cây Kè) rất lớn, đường kính khoảng 60 cm, lá có nhiều gai. Vài giáo dân khoét vào thân cây kè rỗng ruột và đặt vào đó một tượng Đức Mẹ chắp tay, như để biểu lộ niềm tin tưởng của mình vào Đức Mẹ, tượng quay hướng về họ đạo Kinh Đức Bà hiện nay. Còn con kinh chảy dài từ vàm vào nhà thờ như hiện nay, do cha Gonet cho đào theo đường trâu lội (x. hình trâu rừng). Con kinh rộng 3 mét, sâu khoảng 1,5 mét. Mùa nước đi bằng ghe xuồng, còn mùa khô con kinh khô cạn, đất nứt nẻ, người ta đi bộ trong lòng con kinh đào đó; và vì hai bên chưa có người ở, nên trên bờ có nhiều cây trâm bầu, bờ kinh có nhiều cỏ nga, sậy phủ chồm xuống kinh.

Vào thời đó, người người qua lại trông thấy có tượng Đức Mẹ ở ngoài vàm kinh. Nhiều người mỗi khi đi ngang qua, tin tưởng cầu nguyện và truyền miệng nhau, đã hình thành tên gọi con kinh là 'Kinh Đức Chúa Bà' (ngày nay người lớn tuổi họ đạo Mặc Bắc vẫn quen gọi là kinh Chúa Bà). Sau nầy, khi cư dân đông đúc, người ta gọi là xóm Đức Chúa Bà. Từ đó, họ đạo có tên là họ đạo Kinh Đức Chúa Bà, và ngày nay gọi là Kinh Đức Bà. Theo sổ sách8 từ thời Cha Yves Quimbrot, sổ Rửa tội có ghi bằng tiếng La tinh: 'Beatae Mariae Virginis' (24/8/1923), có lúc các Cha cũng ghi bằng tiếng Việt tên Họ đạo Kinh Đức Chúa Bà (23/12/1924), có khi là Kinh Đức Bà Maria hoặc Kinh Đức Bà; và trong sổ hôn phối, Cha Antôn Nguyễn kim Núi ghi nơi chứng hôn bằng tiếng Pháp: tại nhà thờ 'Sainte Marie Virgine' (đây là lần đầu tiên có chứng hôn tại nhà thờ kinh Đức Bà, vì từ 13/7/1903 đến trước 24/11/1960 luôn ghi sổ, là chứng hôn ở Mỹ phước hoặc Tân Lập, hoặc Bôna hoặc Trà lồng).
b) Bổn mạng họ đạo: Đức Bà núi Carmêlô

Theo lời của người lớn tuổi trong họ đạo kể lại, bổn mạng họ đạo là ‘Đức Bà núi Carmêlô’ đã có từ lâu. Các ông bà nhớ lại, mỗi khi gần tới ngày 16/7 hàng năm, cha sở Antôn Nguyễn kim Núi từ họ đạo Trà Lồng qua họ đạo Kinh Đức Bà trước lễ ba ngày, để cấm phòng cho họ đạo. Bà con giáo dân bỏ công việc nhà, dành thời giờ nghe giảng dạy sáng chiều, suốt 3 ngày phòng, rất sốt sắng.

Sau nầy, Cha Gioan Baotixita Châu ngọc Phương, nguyên là Thầy giúp xứ họ đạo Kinh Đức Bà có cho biết, vào năm 1980, sau khi cho dời nhà thờ lần cuối cùng về vị trí hiện nay, cha sở Phêrô Lê văn Duyên xác định lại ngày lễ mừng bổn mạng họ đạo là "Đức Bà núi Carmêlô" (Our Lady of mount Carmel). Lý do cha sở xác định ngày 16 tháng 7 là bổn mạng Đức Bà núi Carmêlô, vì theo lịch công giáo từ năm 1981 trở đi ngày 16 tháng 7 là ngày lễ có tên 'Đức Bà núi Carmêlô'.

Cũng cần biết một chút về địa danh núi Carmêlô (Carmel). Theo tên gọi tại Israel, tiếng Do Thái đọc là 'Karem El', có nghĩa là 'vườn nho của Chúa'. Dưới chân núi Carmel tiên tri Êlia chiến thắng 400 sư sãi thần Baal, đưa dân Do thái trở về tin vào Thiên Chúa duy nhất. Và cũng là nơi mà Mẹ Maria từng hiện ra phù trì và giúp đỡ, chỉ hướng cho các ẩn sĩ tại Carmel vượt qua thử thách, hiểm nguy bằng cách dời dòng từ Đất Thánh (Holy Land) chuyển về phương Tây.

Điều nầy cho thấy hai ý nghĩa: một là Ý Chúa muốn giáo dân họ đạo kinh Đức Bà luôn tin Chúa là Thiên Chúa duy nhất, và dường như muốn chúc phúc cho họ đạo trở thành vườn nho xinh đẹp của Chúa. Hai là Ý Chúa muốn cho người giáo dân Kinh Đức Bà không chỉ được Mẹ Maria nâng đỡ, cho dù đi khắp phương trời nào; nhưng còn định hướng cho họ đạo sống nội tâm theo gương Mẹ, nghĩa là "luôn ghi nhớ và suy niệm trong lòng", để khám phá ra Ý Chúa trong mọi hoàn cảnh sống.

Người dân họ đạo Kinh Đức Bà luôn tạ ơn Chúa vì đã quan phòng để có Mẹ Maria là người Mẹ hiền lành và linh thiêng làm bổn mạng. Chắc chắn Mẹ sẽ chúc phúc cho mọi người trên bước đường đời, sống làm con Chúa và con Mẹ9.
c) Nhà thờ họ đạo Kinh Đức Bà:

Theo người lớn tuổi truyền miệng từ đời nầy sang đời khác, nhà thờ họ đạo Kinh Đức Bà qua nhiều thời kỳ, cất nhà thờ năm lần và đã phải di dời tới các nơi khác nhau.


Ông Lê văn Sanh, thư ký Hội đồng giáo xứ thời cha Phêrô Huỳnh tiến Bộ đã kể rằng, mẹ ông là Bà Ngô thị Tám (1901-1988) được kể lại, cho biết rằng:

Vào năm 1880, để có thể cất nhà thờ tại khu vực Đất Thánh hiện nay, cha Gonet phải cho trâu kéo đất từ nơi khác đến lấp thêm cao, vì đây là vùng trũng thấp. Nhà thờ đầu tiên do cha Gonet cất, đơn sơ bằng cây lá, và đất Thánh ở bên cạnh, vì theo truyền thống xa xưa, nhà thờ ở đâu thì đất Thánh gần đó. Nhà thờ được cất ở gò cao hướng đông gần cây thánh giá đất thánh hiện nay.

Vào tháng 9 âm lịch năm Giáp Thìn, bị thiên tai 'năm Thìn bão lụt' (1904), tất cả các nhà thờ trong vùng đều sập. Nhà thờ Kinh Đức Bà cũng bị sập và cha Gonet cho cất lại cũng bằng lá (khu đất Thánh không thấy có vết tích nền gạch ngói). Sau nầy khi Cha sở Quimbrot đã mua được đất để làm đất phượng tự hiện nay, thì cho dời nhà thờ lần thứ nhất vào vị trí nền của nhà ngôi trường hiện nay (trường mới xây sau nầy, nằm trên vị trí nền nhà thờ cũ, là ngôi trường của Chính quyền thời đó tạm mượn đất để xây một lớp học văn hóa). Nhà thờ mới dựng được cất làm bằng gạch ngói, vách ván, có 4 căn (hiện nay còn những tán bằng gạch, to lớn là móng của nhà thờ còn nằm phía dưới ngôi trường); và nhà xứ cũng được dựng gần bên. Tuy không xác định được xây cất năm nào rõ ràng, nhưng cũng biết khoảng thời gian ngôi nhà thờ tồn tại. Như ông Tư Sử kể lại, cha ông là biện Tuôi nói rằng, 'lúc 14 tuổi (năm 1914) đã biết có ngôi nhà thờ gạch ngói nầy'. Đến thời cha sở Núi, nhân dịp nhà thờ Trà Rầm phải dỡ bỏ theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, nhà thờ dỡ đi không rõ năm nào? (cha Phêrô Nguyễn văn Chính, cha sở Trà Lồng hiện nay cho biết, năm 1945 thấy còn nhà thờ, nhưng đến năm 1952 đã mất), Cha Antôn cho dỡ những cây cột nhà thờ Trà Rầm bằng cây 'Căm xe', đem về nối dài nhà thờ Kinh Đức Bà thêm ba căn nữa, và hoàn thành vào ngày 8/12/195410.

Nhưng vào 8 giờ sáng ngày 12/11/195611, năm Thân, một cơn bão làm sập nhà thờ và hai trường học, cùng lúc với nhà thờ Trà Lồng, và cha Antôn Nguyễn kim Núi (cha sở Trà Lồng) cho dời lần hai về khu vực trước đài Đức Mẹ hiện nay. Mọi người trong họ đạo đóng góp và chuẩn bị làm lại nhà thờ. Hội cựu tu sĩ họ đạo chung góp tiền và sử dụng lại cây ván cũ của nhà thờ sập, đã dựng trường học lớn (22m x 9,2m) để làm nhà thờ tạm dựng tạm.

Từ ngày bão đến áp lễ Giáng Sinh, giáo dân phải xem lễ, đọc kinh ngoài trời liên tục 6 chúa nhật cho đến khi hoàn thành nhà thờ tạm nầy. Và từ lễ Giáng sinh trở đi họ đạo sinh hoạt trong ngôi nhà thờ tạm nầy, để chờ dựng lại một ngôi thánh đường khang trang. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh cứ tiếp diễn nên việc xây cất ngôi thánh đường mới vẫn chưa thực hiện được.

Kết thúc chiến tranh vào năm 1975, cha sở Phêrô Lê văn Duyên, cho dời nhà xứ về nền trường học sơ cấp của họ đạo, phía đài T. Martinô hiện nay, và nền nhà xứ cũ để cho các Sơ Dòng Mến Thánh Giá Cần Thơ ở để phục vụ họ đạo. Còn nhà thờ, theo ông bảy Sanh kể, sau năm 1975, Cha Duyên có ý muốn di chuyển nhà thờ về khu vực mới. Đức Cha Giacôbê Nguyễn ngọc Quang đề nghị chuyển về đất Nhà Chung, là khu vực ông tư Ngự hiện nay (vì là vị trí trung tâm họ đạo), nhưng Hội đồng Giáo Xứ thấy khu đất nầy hẹp, ngang chỉ có 100m, đề nghị dời về khu vực hiện nay rộng hơn, ngang 200m. Và tháng 11 năm 1980 cha Lê văn Duyên xin phép Chính Quyền địa phương dời về phía sau khu vực nhà thờ hiện nay, rộng rãi hơn để tiện bề tái thiết bằng vật liệu nặng trong tương lai. Đây là cuộc di dời nhà thờ lần thứ ba. Và ngay trên khu vực nền nhà thờ cũ đó, có làm một căn nhà sinh hoạt để sinh hoạt và dạy giáo lý nhiều năm.



treân neàn môùi vaøo naêm 1980

Nhà thờ cũ được dời lần thứ ba trên nền mới vào năm 1980

Vào năm 1986, họ đạo xin phép sửa chữa và nâng cấp nhà thờ như vị trí hiện nay; còn nhà xứ, họ đạo đổi đất Nhà Chung cho ông hai Sánh, ông hai Sánh cũng để lại nhà mình làm nhà xứ, và cha sở cho gỡ bỏ nhà xứ cũ, để đất trống (nay đặt tượng đài Thánh Martinô). Trong dịp nầy, giáo dân đã cùng nhau góp công, góp của để xây dựng. Trước hết, làm gian cung thánh và phòng thánh; dần dà sau nầy sẽ tiếp tục cho hoàn thành mặt tiền nhà thờ. Nhà thờ mới rộng 16m dài 40m.

Như vậy, nhà thờ họ đạo Kinh Đức Bà đã được xây dựng 5 lần, phải di dời ba lần, và đặt vào bốn vị trí nơi khác nhau trong khu vực họ đạo Kinh Đức Bà.

Nhà thờ họ đạo Kinh Đức Bà được nâng cấp vào năm 1986-1988
d) Tượng đài Đức Mẹ:

Nhiều người lớn cho biết, tượng đài Đức Mẹ đã có từ trước cơn bão năm Thân (1956), thời cha Antôn Nguyễn kim Núi là cha sở Trà Lồng kiêm nhiệm họ Kinh Đức Bà. Tượng Đức Mẹ nầy do nghệ nhân ‘thợ Lung’ rất khéo tay, gốc tại họ đạo Trà lồng, và đắp theo mẫu do cha Antôn Núi đưa ra.

Tượng Đức Mẹ họ đạo kinh Đức Bà, có thể là “ĐỨC MẸ NGƯỜI NGHÈO” 12; vì tượng nầy rất giống tượng ‘Đức Mẹ người nghèo” tại Bỉ. Nét đặc biệt của tượng, Đức Mẹ chắp tay, nét mặt dịu hiền, mặt hướng về phía bên con tim, mắt nhìn xuống người nghèo.

Gọi là “Đức Mẹ người nghèo”, vì Mẹ hiện ra vào năm 1933 tại Banneux, nước Bỉ, cho một em gái nhỏ 11 tuổi tên Mariette Beco; Mẹ hiện ra với em Mariette tất cả 8 lần, vào khoảng 7 giờ tối, suốt thời gian từ ngày 13/01 đến 02/3/1933.

Và trong một lần hiện ra, Mariette hỏi: “Thưa Bà Đẹp, Bà là ai? Đức Trinh Nữ trả lời: “Mẹ là Trinh Nữ của người nghèo”. Và sau đó, Mẹ dẫn em đến suối nước lần hai và nói: “Suối nước nầy được dành cho mọi quốc gia, để giúp đỡ những người nghèo”13

Vào năm 2010 là ‘Năm Thánh’, Giáo hội Việt nam ghi dấu 350 năm thành lập 2 giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, mừng 50 năm lập hàng giáo phẩm Việt nam, đánh dấu sự trưởng thành của Giáo hội Việt nam (1960-2010); riêng họ đạo Kinh Đức Bà, năm nầy cũng là năm kỷ niệm 130 năm thành lập họ đạo. Và để đánh dấu một giai đoạn quan trọng và cũng để xác định bổn mạng họ đạo bằng hình tượng cụ thể, cha sở Albertô Lê ngọc Bích cho làm tượng đài Đức Mẹ núi Carmêlô phía sau Đài Đức Mẹ, mà cha Phêrô Lê văn Duyên xây dựng năm 1988. Tượng đài mới nầy hoàn thành vào bổn mạng họ đạo 16/7/2010, và sẽ được Đức Cha phó Stêphanô Tri bửu Thiên làm phép vào ngày ban bí tích Thêm sức tại họ đạo vào tháng 12/2010.

Sở dĩ có sự gợi hứng làm tượng dài nầy, là do lần hành hương Thánh Địa (Palestine), cha sở Albertô Lê ngọc Bích đã cố gắng sưu tìm được hình tượng về Đức Mẹ tại Núi Carmêlô, bổn mạng họ đạo Kinh Đức Bà. Hơn nữa, vì thấy cần đánh dấu một giai đoạn quan trọng của họ đạo trong dịp Năm Thánh của Giáo hội Việt nam, nên ngày 13/9/2009, cha nhờ Điêu khắc gia Đặng văn Trịnh, chuyên nghiệp về làm tượng lớn ở thành phố Biên Hòa, đã làm bản phát thảo về tượng theo hình mẫu, và ngày 7/3/2010 được gởi đến Kinh Đức Bà để các Cha và Hội Đồng Giáo Xứ góp ý sửa chữa lần nhất. Và đến tháng 6/2010 cha sở và đại diện HĐGX đến tại chỗ xưởng đắp tượng để sửa chữa lần thứ hai. Sau đó, mới khởi sự đổ khuôn đắp tượng. Khi hoàn thành sẽ đặt tượng cao 3m trên một mô đất đắp cao 3m.


3. Địa giới họ đạo Kinh Đức Bà:

Họ đạo Kinh Đức Bà thuộc địa bàn tỉnh Hậu giang, nằm gọn trong xã Phương Phú, trên các ấp Phương Thạnh, Bình Hòa, Phương Bình, Phương An A, Phương An B.



a) Ranh giới:

- Phía Đông giáp họ đạo Bôna,

- Phía Tây giáp họ đạo Trà Lồng (xẻo Su)

- Phía Nam giáp họ đạo Thánh Tâm, Hưng phú

- Phía Bắc giáp họ đạo Long Mỹ (cầu Móng, Lai Hiếu)
b) Bản đồ mục vụ họ đạo Kinh Đức Bà: ranh giới các khu được phân chia như sau,
Khu 1: Hai bên kinh ngọn Đức Bà tới kinh Chùa, thông qua kinh bờ bao lâm trường cũ (phía bên mặt trời mọc).

Khu 2: Đầu kinh giải phóng (ngã 5) đến hết kinh, tới ấp Bình Hòa (ấp Phương Ninh cũ) với dân cư hai bên kinh.

Khu 3: Từ nhà anh năm Điện (có bồn nước sinh hoạt khu vực) dọc hai bên bờ kinh, dài tới cầu Đất Thánh và hai bên kinh cụt (Phú điền).

Khu 4: Từ bờ bao cũ lâm trường, từ nhà năm Điện đi hướng nam tới cuối kinh, với dân cư hai bên kinh đi tới Trụ Đá.

Khu 5: Đầu kinh bờ bao lâm trường cũ, theo hướng bắc với dân cư hai bên, tới cầu Đội Hai.

Khu 6: Từ cầu anh hai Thuyền đi về chợ tới nhà hai Ẩn, phía bên lộ nhựa.

Khu 7: Tiếp tục khu 6, đường lộ nhựa, kéo dài tới xã và đi về phía Trà Lồng tới cầu năm Trung, giáp ranh đất Trà Lồng.

Khu 8: Bên kia kinh ngọn (đối diện khu 1) chạy dọc lên bờ bao lâm trường Phương Ninh, và khu vực bờ bao lâm trường.

Khu 9: Từ kinh thủy lợi đối diện khu 7, chạy dài ra chợ tới nhà anh út Hùng.

Khu 10: Từ nhà anh út Hùng ra vàm sông xáng về Búng Tàu và bên kia sông giáp Bôna và nhà thờ Thánh Tâm.

Khu 11: Từ đầu khu 5, đi ra hướng chợ giáp ranh khu 9.

Khu 12: Từ cuối khu 5 (kinh Đội Hai), đi hai ngõ, thẳng về kinh Đội Bốn và đi về phía lâm trường giáp khu 2.

BÀN ĐỒ


họ đạo Kinh Đức Bà

LONG MỸ

BẮC




T
LÂM TRƯỜNG

PHƯƠNG NINH
ÂY ĐÔNG

N
Khu 8

Khu 8

Kinh

GIẢI PHÓNG
AM






Khu 8


Khu 12

Kinh

Đội 4


Khu 2

Khu 2



Ñaát Thaùnh



Khu 12

Kinh



Поделитесь с Вашими друзьями:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương