Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang5/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   22
Đức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời
163 1088
Đức tin cho ta được nếm trước niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn phúc nhìn thấy Thiên Chúa, mục đích của cuộc lữ hành dưới thế này của chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa “mặt giáp mặt” (1Cr 13,12), và “Ngườithế nào chúngta sẽ được thấy như vậy” (1Ga 3,2). Do đó đức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời :
Ngay từ bây giờ chúng ta chiêmngắm những phúc lộc của đức tin như một hình ảnh phản chiếu trong gương, vànhư thể chúng ta đang nắm được những điều kỳ diệu mà đức tin bảo đảm với chúng ta rằng một ngày kia chúng ta sẽ được hưởng ( Thánh Ba-si-li-ô, Thánh Thần 15,36;

x.Thánh Tô-ma Aqu. toàn thư 2-2,4,1).


164 2846 309,1502 1006
Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta “tiến bước trong đức tin chứ chưa được thấy nhãn tiền” (2Cr 5,7), và nhận biết Thiên Chúa “như trong một tấm gương,một cách lờ mờ, có ngần, có hạn” (1Cr 13,12). Mặc dầu đức tin được sáng tỏ nhờ Đấng chúng ta tin, chúng ta thường phải sống đức tin trong mờ tối. Đức tin có thểbị thử thách. Thế giới nơi chúng ta đang sống thường có vẻ khác xa những gì đức tin đoan quyết với chúng ta. Các kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ, về những bất công và cái chết, dường như phản bác Tin Mừng. Những điều đó có thể làm cho đức tin nao núng và trở thành một cám dỗ cho người tin.
165 2719
Chính bấy giờ là lúc chúng ta phải hướng lòng về các nhân chứng đức tin: - Ông Áp-ra-ham, là người đã tin,"vẫn trông cậy, mặc dầu không còn gì để trông cậy” (Rm4,18) - Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, là người,"trong cuộc lữ hành đức tin” ( LG 58), đã đi vào tận “đêm tối của đức tin” ( Gio-an Phao-lô II, RM 18) khi hiệp thông với khổ hình Thập Giá và đêm đen trong mồ của Con; - và bao nhiêu nhân chứng đức tin khác nữa : “Được ngần ấy nhân chứng đức tin bao quanh, khác nào một đám mây, chúng ta hãy cởi bỏmọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt gắn chặt vào Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tinchúng ta” (Dt 12,1-2).

Mục 2


Chúng tôi tin

166 875
Đức tin là một hành vi cá nhân: Con người tựnguyện đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi riêng rẽ. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tựban cho mình đức tin, cũng nhưkhông ai tự ban cho mình sự sống. Người tin nhận được đức tin từ kẻ khác, phải truyền đức tin lại cho kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Đức Giê-su và tha nhân, thúc giục chúng ta nói với người khác về đức tin của chúng ta. Như thế, mỗi tín hữu là một mắt xích trong dây chuyền rộng lớn các tín hữu. Tôi không thểtin mà không có đức tin của người khác đỡ nâng, và với đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của kẻ khác.


167 1124 2040
“Tôi tin” ( Kinh Tin Kính các tông đồ) : Đây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữutuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Thánh Tẩy. “Chúng tôi tin” (Kinh Tin Kính Nicéa) : Đây là đứctin của Hội Thánh, được các giám mục họp thành Công Đồng hoặc, thông thường hơn, được cộngđoàn tín hữu cử hành phụng vụ cùng tuyên xưng. “Tôi tin": đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói : “tôi tin”, “chúng tôi tin”.
I."LẠY CHÚA, XIN NHÌN ĐẾN ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH CHÚA”
168 1253
Trước tiên, chính Hội Thánh đã tin, và nhưthế, mang lấy, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước tiên chính Hội Thánh ở khắp nơi tuyên xưng Chúa nhưchúng ta hát trong kinh “Te Deum": “Và khắp trên hoàn vũ, Hội Thánh hoan hỉ tuyên xưng Chúa là Chúa của mình”. Với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng tađược thúc đẩy và hướng dẫn tuyên xưng : “tôi tin”,"chúng tôi tin”. Chínhqua Hội Thánh mà chúng ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong Đức Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy. Trong sách “Nghi thức Rô-ma ”, thừa tác viên cử hành bí tích Thánh Tẩy hỏi người dự tòng : “Con xin gì cùng Hội Thánh Thiên Chúa? - Thưa : Con xin Đức tin. Đức tin làm ích gì cho con ?- Thưa đức tin cho con sự sống đời đời” ( OBA).
169 750 2030
Chỉ có Thiên Chúa ban ơn cứu độ;nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin qua Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta : “Chúng tôi tin Hội Thánh là mẹ ban cho chúng tôi sự sống mới, chứ không tin vào Hội Thánh như tác giả của ơn cứu độ ( Faustus de Riez, Spir. 1,2.) . Vì là mẹ, Hội Thánh cũng là người giáo dục đức tin”.
II. NGÔN NGỮ ĐỨC TIN
170 186
Chúng ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại mà các công thức đó diễn đạt, và đức tin cho phép chúng ta “chạm tới được”. “Hành vi đức tin của người tín hữu không dừng lại ở lời phát biểu, mà ở thực tại được pháp biểu ( ThánhTô-ma Aqu. toàn thư2-2, 1,2, ad 2 )”.Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại đó nhờ những công thức diễn tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn đạt và lưu truyền đức tin, bày tỏ đức tin trong các buổi cử hành cộng đoàn, hấp thụ và sống đức tin ngày một hơn.

171 78,857,84 185


Hội Thánh là “cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1Tm 3,15), trung thành bảo toàn “đức tin đã đượctruyền lại cho dân thánh một lần dứt khoát” (Gđ 3). Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời của Đức Ki-tô và lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các tông đồ. Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.

III. MỘT ĐỨC TIN DUY NHẤT

172 813
Từ bao thế kỷ, qua bao ngôn ngữ, bao nền văn hóa, bao dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất, lãnh nhận từ một Chúa duy nhất, lưu truyền nhờ một Phép Rửa duy nhất, ăn sâu trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa là Cha duy nhất ( x. Ep 4,4-6). Thánh I-rê-nê thành Ly-on, người đã làm chứng cho đức tin ấy, tuyên bố :

173 830
“Thật vậy, dù phân tán trên toàn thế giới cho tới tận cùng trái đất, nhưng vì đã lãnh nhận đức tin từ các Tông đồ và môn đệcác ngài, nên Hội Thánh ân cần gìn giữ lời rao giảng và đức tin đó như thể chỉ ở trong một ngôi nhà duy nhất, cùng tin một cách như nhau, như thế chỉ có một tâm hồn và một trái tim duy nhất,đồngthanh rao giảng, dạydỗ và lưu truyền lại lời rao giảng và đức tin ấy, như thể chỉ có một miệng lưỡi duy nhất” ( Chống lạc giáo 1,10,1-2).


174 78
“Vì, nếu trên toàn thế giới, các ngôn ngữ có khác nhau, nội dung Thánh Truyền vẫn là một và đồng nhất. Và các Giáo Đoàn được thiết lập tại Đức không hề có một đức tin hay một Truyền Thống nào khác, cả các Giáo Đoàn I-be-rơ (Tây Ban Nha cổ), các Giáo Đoàn người Xen-tơ (Pháp cổ), các Giáo Đoàn ở Đông Phương, ở Ai Cập, ở Li-By hay tại trung tâm thế giới cũng vậy...” ( Ibid ). “Như thế sứ điệp của Hội Thánh là chân thật và vững chắc, bởi chính trong Hội Thánh mà con đường cứu độ duy nhất xuất hiện trên khắp thế giới”.
175
Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, chúng ta phải ân cần gìn giữ. Ví như một kho tàng quí giá chứa đựng trong một bình quí dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, đứctin luôn luôn tươi trẻ và làm tươitrẻ chính bình chứa là Hội Thánh ( Ibid, 3,24,1).

TÓM LƯỢC
176


Tin là gắn bó bản thân con người cả trí khôn và ý chí với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải qua các việc làm và lời nói của Người.
177
“Tin” qui chiếu vào hai điểm : Đấng mặc khải và chân lýmặckhải. Chúng ta tin chân lý mặc khải vì tin tưởng ở Đấng mặc khải.
178
Chúng ta không được tin ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
179
Đức tin là một hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Để tin, con người cần đến những trợ lực bên trong của Thánh Thần.
180
“Tin” là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người.
181
“Tin” là hành vi có chiều kích Hội Thánh . Đức tin của Hội Thánh đi trước, sinhra, nâng đỡvà dưỡng nuôi đức tincủa chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. “Không thể có Thiên Chúa là Cha nếu không nhận Hội Thánh là mẹ” (Thánh Síp-ri-a-nô, Giáo hộihợp nhất).

182
“Chúng ta tin tất cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, được viết hoặc lưu truyền, và do Hội Thánh dạy chúng ta tin như chân lý được Thiên Chúa mặc khải” (SPF 20).

183
Đức tin cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa khẳng định : “Aitin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ : còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 16).

184
“Đức tin là nếm trước điều chúng ta sẽ được hưởng trong cuộc sống hạnh phúc mai sau” (Thánh Tô-ma Aq. giản lược 1,2).

Kinh Tin Kính
KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ĐỒ:
KINH TIN KÍNH CÔNG ĐỒNG NIXÊ CON-TAN-TI-NÔ-PÔ-LI
* Tôi tin kính Đức Chúa Trời
Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất
* Là Cha phép tắc vô cùng
Là Chúa Cha toàn năng,
* dựng nên trời đất
Đấng tạo thành trời đất

muôn vật hữu hình và vô hình


* Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô
Tôi tin kính một Chúa duy nhất
* là Con Một Đức Chúa Cha
là Đức Giê-su Ki-tô,
* cùng là Chúa chúng tôi
Con Một Thiên Chúa,
Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;
Ánhsáng bởi ánh sáng;
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật
được sinh ra mà không phải được tạo thành.
Đồng bản tính với Chúa Cha:
Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.
Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi
Người đã từ trời xuống thế;
* Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai
Bởi phép Chúa Thánh Thần
* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,
Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.
* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô
Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô
* Chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác,
Người chịu khổ hình và mai táng
* Xuống ngục tổ tông.
* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,
* lên trời,
Người lên trời
* ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng
ngự bên hữu Chúa Cha
* Ngày sau bởi trời lại xuống
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
* phán xét kẻ sống và kẻ chết
để phán xét kẻ sống và kẻ chết
triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.
* Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần,
Tôi tin kính Chúa Thánh Thần
Người là Chúa và là Đấng ban sự sống;
Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.
Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con
Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.
* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền
*
* Các thánh thông công * Tôi tin phép tha tội
Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội
* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại
* tôi tin hằng sống vậy
và sự sống đời sau.
* A-men
A-men

ĐOẠN THỨ HAI

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO

NHỮNG BẢN TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN

185 174, 949

Nói ” Tôi tin” nghĩa là “tôi nhập cuộc vào những điều chúng tôi tin”. Sự thông hiệp trong đức tin cần có một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho tất cả và kết hợp mọi người khi cùng tuyên xưng đức tin.

186

Ngay từ đầu, Hội Thánh của các tông đồ đã diễn đạt và thông truyền đức tin của mình trong những công thức ngắn và chuẩn mực cho mọi người ( x. Rm 10,9; 1Cr 15,3-5; v.v.). Chỉ ít lâu sau, Hội Thánh cũng muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược có hệ thống, phân chia thành điều khoản, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy.


Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không dựa theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất. Như hạt giống mang mầm sống của cả một cây lớn, bản tóm lược đức tin ấy chứa đựng trong ít lời, toàn bộ tri thức về lòng đạo chân thật của Cựu Ước và Tân Ước( Giáo lý Th. Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem. 5,12).

187


Chúng ta gọi các bản tổng hợp đức tin ấy là bản “tuyên xưng đức tin”, vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng; gọi là Kinh “Tin Kính” vì thường bắt đầu bằng câu “Tôi tin kính”, có khi còn gọi là bản “tín biểu” nữa.

188


” Tín biểu ” là chữ tắt của “biểu tượng đức tin”. Chúng ta dùng chữ “biểu, biểu tượng” được dịch từ “Symbolon” của tiếng Hi Lạp có nghĩa là phân nửa một vật được bẻ ra (chẳng hạn: đồng tiền bẻ đôi) mà người ta xuất trình như một dấu hiệu để nhận ra nhau."Tín biểu” là một dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. “Symbolon” cũng có nghĩa là một sưu tập, hay là bản tóm lược. Do đó Tín biểu là sưu tập những chân lý chính yếu của đức tin và trở thành điểm qui chiếu thứ nhất và căn bản của huấn giáo.

189 1237, 232

Lời “tuyênxưng đức tin” đầu tiên được thực hiện khi nhận phép rửa tội. “Tín biểu” trước hết là tín biểu của Bí tích Thánh Tẩy. Vì Bí tích Thánh Tẩy được ban “nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19) nên những chân lýcủa đức tin tuyên xưng trong phép rửa tội, được sắp xếp qui về Ba Ngôi Thiên Chúa.

190


Do đó Tín biểu được chia làm ba phần : “Trước hết, nói về Thiên Chúa Ngôi Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Hai và mầu nhiệm Cứu chuộc con người; sau hết Thiên Chúa Ngôi Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa chúng ta” ( Giáo lý Rô-ma 1,1,3.). Đó là “ba chương của ấn tín (rửatội)” ( Th. I-rê nê , Dem 100.).

191


“Ba phần đó tuy khác biệt nhưng nối kết với nhau. Dựa theo các Giáo Phụ chúng ta gọi đó là các tín điều phải tin. Như thân thể con người gồm nhiều chi thể, bản tuyên xưng đức tin gồm những chân lý chúng ta phải tin từng điều một, được gọi là “tín điều”. ( Sách Giáo lý Rô-ma 1,1,4.) Theo một truyền thống xưa, được thánh Am-rô-si-ô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai tín điều của kinh Tin Kính, dựatheo số các tông đồ để tượng trưng cho toàn bộ đức tin tông truyền( x. kinh Tin Kính 8).

192


Suốt chiều dài lịch sử, để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, chúng ta có nhiều bản tuyên xưng đức tin hay tín biểu : những bản tín biểu của các Giáo Hội thời các tông đồ và thời cổ (DS 1-64),bản tín biểu “Quicumque” còn gọi là của thánh A-ta-na-si-ô (DS 75-76), những bản tín biểu của một số Công đồng Tô-lê-đô (DS 525-541), La-tê-ra-nô (DS 800-802), Lyon (Ds 851-861), Tren-tô (DS 1862-1870)hay của một số Giáo Hoàng nhưbản Tuyên Xưng của Đức Giáo Hoàng Đa-ma-si-ô (DS 71-72), bản “Kinh Tin Kính Của Dân Thiên Chúa"(SPF) của Đức Phao-Lô VI (1968).

193


Không một tín biểu nào xuất phát từ những giai đoạn khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể bị coi là lỗi thời và vô ích. Các bản này giúp chúng ta ngày nay thấu hiểu và đào sâu đức tin ngàn đời của Hội Thánh qua các bảntóm lược khác nhau ấy.

Trong tất cả các tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh :

194

Kinh Tin Kính của các Tông đồ : gọi như thế, vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ. Đây là “tín biểu” rất cổ, được Giáo Hội Rô-ma sử dụng trong Bí tích Thánh Tẩy. Hội Thánh coi trọng bản này, vì “đây là tín biểu được bảo tồn trong Giáo Hội Rô-ma,nơi thánh Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ, đãđặt tông tòa và đã đem lại sự nhất trí trong toàn Hội Thánh” ( Th Am-rô-xi-ô, kinh Tin Kính 7).



195 242, 245 465
Kinh Tin Kính Công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no- po-liđược coi trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là bản chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Phương Đông và Phương Tây.

196


Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Kinh Tin Kính của các tông đồ, vì kinh này được kể là “bản giáo lý Rô-ma cổ xưa nhất”. Tuy nhiên, để bổ túc, chúng tôi sẽ luôn tham chiếu Kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no-po-li thường minh bạch và chi tiết hơn.

197 1064


Như trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, khi trọn cuộc sống của chúng ta được đưa vào “qui luật đạo lý” (Rm 6,17), chúng ta hãyđón nhận bản Kinh Tin Kính, để nhờ đó chúng ta được sống. Khiđọc kinh “Tin kính” với lòng tin, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được thông hiệp với toàn thể Hội Thánh. Chính Hội Thánh truyền đạt đức tin cho chúng ta, và (chính trong lòng) Hội Thánh mà chúng ta tin.
1274

Kinh Tin Kính này là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn luôn hiện diện; chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta ( Th. Am-rô-si-ô, kinh Tin Kính 1).

CHƯƠNG MỘT

TÔI TIN KÍNH THIÊN CHÚA LÀ CHA

198

Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là “Đầu và là Cuối” (Is 44,6), Khởi nguyên và Cùng đích của hết mọi sự. Kinh Tin Kính bắt đầu với Thiên Chúa Cha, vì Chúa Cha là Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa; tín biểu bắt đầu bằng việc sáng tạo trời đất vì việc sáng tạo là khởi đầu và là nền tảng mọi công trình của Thiên Chúa.



Mục 1

“Tôi tin kính Đức Chúa Trời làCha phép tắc vô cùng, dựng nên trời đất”

Tiết 1:Tôi tin kính Đức Chúa Trời

199 2083


“Tôi tin kính Đức Chúa Trời": lời khẳng định đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là lời cănbản nhất. Trọn tín biểu đều nói về Thiên Chúa. Tất cả các tín điều trong Kinh Tin Kính đều tùy thuộc vào tín điều thứ nhất, cũng như các giới răn làm rõ ý giới răn thứ nhất. Những tín điều còn lại, giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa hơn, như Người đã từng bước mặc khải cho con người. “Điều đầu tiên người tín hữu tuyên xưng là tin vào Thiên Chúa” ( Giáo lý Rô-ma 1,2,2.).
I- “TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA DUY NHẤT”

200 2085


Kinh Tin Kính của Công Đồng Ni-xê-a Con-tan-ti- nô-pô-li bắt đầu bằng những lời trên đây : Lờituyên xưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, bắt nguồn từ mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước, liên kết chặt chẽ với lời tuyên xưng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và có cùng một giá trị căn bản như vậy. Thiên Chúa là Đấng duy nhất : chỉ có một Thiên Chúa. “Đức tin Ki-tô giáo tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính” ( Ibid).

201 2083


Thiên Chúa tự mặc khải là Đấng Duy Nhất cho dân It-ra-en, dân được tuyển chọn : “Nghe đây, hỡi It-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 6,4-5). Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa kêu gọi Ít-ra-en và các dân nước quay về với Người là Đấng Duy Nhất : “Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Thiên Chúa nào khác. Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và tuyên xưng : Chỉ nơi Thiên Chúa mới có ơn phù trợ và cứu độ (Is 45,22-24) (x.Pl 2,10-11).

202 446 152

Chính Đức Giê-su xác định Thiên Chúa là “Đức Chúa Duy Nhất,” và phải yêu mến Người “hết lòng, hết linhhồn, hết tâm trí và hết sức lựcngươi” ( x.Mc 12,29-30). Đồng thời, Người cũng ngầm cho ta hiểu chính Người là “Đức Chúa” ( x.Mc 12,35-37). Tuyên xưng “Đức Giê-su là Đức Chúa” là đặc tính của đức tin Ki-tô giáo. Điều này không trái ngượcvới đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là “Đức Chúa và là Đấng Ban Sự Sống” không đưa đến một sự phân chia nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất:

42

Chúng tôi tin vững vàng và khẳng định đơn giản chỉ có một Thiên Chúa chân thực, vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần : ba ngôi vị, nhưngchỉ có một bản thể hay bản tính đơn thuần( Cđ La-tran IV: DS 800).



II- THIÊN CHÚA MẶC KHẢI DANH THÁNH NGƯỜI

203 2143


Thiên Chúa tự mặc khải cho Ít-ra-en, dân Người, bằng cách mặc khải Danh Thánh Người. Trong Thánh Kinh, tên của một người diễn tả yếu tính, căn tính và ý nghĩa đời họ. Thiên Chúa không phải là một sức mạnh vô danh. Thiên Chúa có tên. Cho biết tên tức là cho người khác biết mình; là cởi mở để người ta dễ dàng đến với mình, liên hệ mật thiết hơn và gọi được tên nhau.

204 63


Thiên Chúa đã từng bước mặc khải chính mình ra cho dân Người dưới nhiều danh thánh khác nhau. Tuy nhiên, việc mặc khải danh thánh cho Mô-sê trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc lửa, trước cuộc Xuất Hành và Giao Ước tại Xi-nai, đã được nhận là mặc khải căn bản cho Cựu và Tân Ước.
Thiên Chúa hằng sống

205 2575 268

Thiên Chúa gọi Mô-sê từ giữa bụi gai đang cháy nhưngkhông tàn lụi. Thiên Chúa nói với Mô-sê : “Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp” (Xh 3,6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên.Đấng kêu gọi và hướng dẫn các tổ phụ trong các cuộc hành trình của họ. Người là Thiên Chúa trung tín và giàu lòng thương cảm, luôn nhớ tới họ và các lời Người đã hứa; Người đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Người là vị Thiên Chúa có khả năng và muốn thực hiện ý định đó bất chấp không gian và thời gian; Người sẽ dùng quyền năng vô tận để thực hiện chương trình này.

“Ta là Đấng Hiện Hữu”

Mô-sê thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em, sai tôiđến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì ? thì con sẽ trả lời cho họ làm sao?"Thiên Chúanói với ông Mô-sê : “Ta là Đấng Ta là”.Và Người bảo : “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Ta là” sai tôi đến với anh em”. Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia”. (Xh 3,13-15).

206 43


Khi mặc khải danh thánh huyền bí của Người, YHWH (Gia-vê), có nghĩa : “Ta là Đấng Hiện Hữu” hoặc “Ta là Đấng Tự Hữu” hoặc nữa “Ta là Ta”, Thiên Chúa nói Người là ai và phải gọi tên Người như thế nào. Danh Thánh Thiên Chúahuyền bí cũng như Thiên Chúa là huyền nhiệm. Đó vừa là một mặc khải danh thánh, vừa là một khước từ danh xưng. Do đó, qua danh thánh này, chúng ta hiểu rõ về Thiên Chúa, Đấng nghìn trùng vượt trổi mọi khả năng hiểu biết và diễn tả của con người : Người là “Thiên Chúa ẩn mình” (Is 45,15); danh thánh Người khôn tả ( x.Thp 13,18); và Người là vị Thiên Chúa trở nên gần gũi với con người:

207


Khi mặc khải danh thánh, Thiên Chúa đồng thời mặc khải lòng trung tín của Người từ muôn thuở và cho tới muôn đời, có giá trị trong quá khứ ("Ta là Thiên Chúa cha ông ngươi": Xh 3,6) cũng như trong tương lai ("Ta sẽ ở vớingươi": Xh 3,12). Thiên Chúa mặc khải danh thánh mình là “Đấng Hiện Hữu” thì cũng tự mặc khải mình như vị Thiên Chúa luôn hiện diện, có mặt bên cạnh để giải cứu dân mình.

208 724 448 388

Trước sự hiện diện hấp dẫn và huyền bí của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Đứng trước bụi gai bốc cháy, Mô-sê cởi dép và che mặt ( x. Xh 3,5-6)khi đối diện với Thiên Chúa Chí Thánh. Đứng trước vinh quang của Thiên Chúa Chí Thánh, ngôn sứ I-sai-a thốt lên : “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5). Trước những dấu thiêng Chúa Giê-su làm, Phê-rô thốt lên : “Lạy Thầy. xin tránh xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi” (Lc 5,8). Nhưng bơ<150)i Thiên Chúa là Đấng Thánh, Người có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình tội lỗi trước mặt Ngườ i: “Ta không hành động theo cơn nóng giận vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm; ở giữangươi,Talà Đấng Thánh” (Hs 11,9).

Sau này Thánh Gio-an Tông đồ cũng nói : “Trước mặt Người, chúng ta sẽ an tâm, nếu lòng chúng ta có lên án chúng ta, vì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta và Người biết hết mọi sự” (1Ga 3,19-20).

209 446

Vì tôn kính Thiên Chúa Chí Thánh, dân Ít-ra-en không nêu danh thánh Người khi đọc Thánh Kinh; danh thánh mặc khảiđược thay thế bằng tước hiệu của Thiên Chúa : “Đức Chúa” (tiếng Hip-ri làAdonai; tiếng Hy lạp là Kyrios). Để tuyên xưng thiên tính của Đức Giêsu, các tín hữu cũng sử dụng tước hiệu đó : “ĐỨC GIÊ-SU là CHÚA”.



“Thiên Chúa trìu mến và xót thương”

210 2116, 2577

Sau khi dân Ít-ra-en phạm tội, chối bỏ Thiên Chúa để thờ con bê bằng vàng ( x.Xh.32), Thiên Chúa nghe lời cầu khẩn của Mô-sê và chấp nhận đồng hành giữa đám dân bất trung, để tỏ lòng yêu thương của Người ( x.Xh 33,12-17). Khi Mô-sê xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Người trả lời : “Ta sẽ cho ngươi thấy Ta nhân từ như thế nào và Ta sẽ xưng danh thánh Gia-vê trước mặt ngươi"(Xh 33,18-19). Đức Chúa đi qua trước mặt Mô-sê và nói : “Gia-vê, Gia-vê, Thiên Chúa trìu mến và xót thương, chậm bất bình, giàu ân sủng và thành tín” (Xh 34,5-6). Bấy giờ, Mô-sê tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thứ tha ( x.Xh 34,9).




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương