Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang2/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   22
3
Những ai đã nhờ ơn Chúa giúp đón nhận lời kêu gọi của Đức Ki-tô và tự nguyện đáp ứng, cũng được tình yêu Đức Ki-tô thúc đẩy đi loan báo Tin Mừng khắp nơi trên thế giới. Kho tàng đã được lãnh nhận từ các tông đồ này đã được các người kế nhiệm bảo toàn một cách trung tín. Mọi ki-tô hữu cũng được kêu gọi truyền đạt kho tàng ấy từ thế hệ này đến thế hệ khác, bằng lời rao giảng đức tin, bằng cách sống đức tin trong tình chia sẻ huynh đệ, và diễn tả đức tin đó trong phụng vụ và kinh nguyện ( Cv 2,42).
II. TRUYỀN ĐẠT ĐỨC TIN _ VIỆC HUẤN GIÁO
4
Ngay từ thời Hội Thánh sơ khai, thuật ngữ “huấn giáo” được dùng để gọi toàn bộ các nỗ lực được huy động trong Hội Thánh để đào tạo môn đệ, để giúp con người tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, hầu nhờ đức tin , họ được sống nhân danh Người, để giáo dục và chỉ dẫn họ trong cuộc sống đời này, và như thế, xây dựng Thân Thể Đức Ki-tô(CT 1; 2)
5
“Huấn giáo là giáo dục đức tin cho trẻ em, thanh niên và người lớn, gồm đặc biệt là việc giảng dạy giáo lý Ki-tô giáo một cách có tổ chức và hệ thống, nhằm khai tâm họ vào cuộc sống ki-tô hữu sung mãn"(CT 18).

6
Trong sứ mạng mục vụ của Hội Thánh, có một số yếu tố liên hệ đến huấn giáo, chuẩn bị cho huấn giáo hoặc bắt nguồn từ huấn giáo, như: loan báo Tin Mừng sơ khởi tức là rao giảng của vị thừa sai để khơi dậy đức tin; nghiên cứu những lý lẽ để biện minh cho đức tin; sống tích cực đời ki-tô hữu, cử hành các bí tích, hội nhập vào cộng đoàn Hội Thánh, làm chứng bằng hoạt động tông đồ và truyền giáo. Dù không lẫn lộn, nhưng huấn giáo vẫn đi đôi với những yếu tố này...( CT 18 )


7
“Huấn giáo liên kết mật thiết với toàn bộ đời sống của Hội Thánh. Chính nhờ Huấn giáo, Hội Thánh không những phát triển về địa dư và số lượng mà nhất là sự tăng trưởng bên trong và đáp ứng ý định cứu độ của Thiên Chúa"(CT 13)
8
Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời điểm nổi bật về huấn giáo. Thực vậy, vào thời các giáo phụ, người ta thấy có những vị thánh Giám Mục dành một phần quan trọng của thừa tác vụ cho huấn giáo. Đó là các thánh Sy-ri-lô Giám mục Giê-ru-sa-lem và Gio-an Kim Khẩu, Am-rô-xi-ô và Âu-Tinh, cùng với nhiều giáo phụ khác. Các ngài đã để lại những tác phẩm huấn giáo mẫu mực
9

Huấn giáo luôn nhận được nguồn năng lực mới từ các Công Đồng. Về phương diện nầy, Công đồng Tren-tô là một gương mẫu phải nêu lên : Các hiến chế và sắc lệnh của Công Đồng này đã đưa huấn giáo lên hàng ưu tiên; Công Đồng đã khơi nguồn cho quyển Giáo Lý Rô-ma là một tác phẩm hàng đầu của loại sách yếu lược trình bày giáo lý Ki-tô giáo; Công Đồng đã khích lệ việc tổ chức dạy và học giáo lý và đã thúc đẩy việc phát hành nhiều bộ sách giáo lý nhờ những đóng góp của các Giám mục, các nhà thần học thánh thiện như : Thánh Phê-rô Ca-ni-xi-ô; Ca-rô-lô Bô- rô-mê-ô; Tô-ri-bi-ô thành Mô-giô-vê-rô, Rô-be-tô Bê-la-mi-nô.


10
Vì thế, không lạ gì sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II, nhiều người lại chú ý đến huấn giáo. Các văn kiện Toà Thánh cho thấy rõ điều nầy: - Chỉ thị đại cương về huấn giáo - (1971) - Các khóa họp Thượng hội đồng Giám mục về Phúc Âm Hoá - (1974) và về huấn giáo (1977 ) - Các tông huấn “Rao Giảng Tin Mừng"- (1975) và “Giảng Dạy Giáo Lý” (1979). Khóa họp bất thường Thượng hội đồng Giám mục năm 1985 xin “cho soạn ra một quyển sách giáo lý hoặc một toát yếu thu gọn toàn bộ đạo lý công giáo về mặt đức tin cũng như luân lý” (Bài báo cáo chung kết II B 4.). Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã coi ước nguyện của Thượng Hội Đồng Giám Mục như ước nguyện của chính mình, khi nhìn nhận rằng: “Niềm mong ước đó hoàn toàn đáp ứng một nhu cầu thiết thực của Hội Thánh toàn cầu và của các Giáo Hội địa phương” (Diễn từ 7-12-1985). Ngài đã huy động tất cả để thực hiện niềm mong ước đó của các nghị phụ.
III. QUYỂN GIÁO LÝ NÀY ĐƯỢC VIẾT VỚI MỤC ĐÍCH GÌ? CHO AI ?
11
Mục tiêu của bộ sách giáo lý này là trình bày một cách có tổ chức và tổng hợp những nội dung cốt yếu và căn bản của đạo lý công giáo về mặt đức tin cũng như luân lý, dưới ánh sáng Công Đồng Va-ti-ca-nô II và toàn bộ Thánh Truyền. Nguồn tư liệu chính của bộ sách là Thánh Kinh, các giáo phụ, phụng vụ và huấn quyền của Hội Thánh. Sách được dùng “như bản quy chiếu cho các sách giáo lý cũng như toát yếu được soạn ra trong các nước ” (THĐGM 1985).
12
Quyển sách này chủ yếu được dành cho các vị phụ trách huấn giáo: đứng đầu là các Giám mục, với tư cách Thầy dạy đức tin và mục tử trong Hội Thánh. Sách được cung cấp cho các ngài như dụng cụ chu toàn trọng trách dạy dỗ Dân Chúa. Qua các ngài, sách đến tay các người soạn giáo lý, các linh mục và giáo lý viên. Mọi tín hữu khác cũng sẽ đọc được trong đó nhiều điều bổ ích.
IV. BỐ CỤC CỦA QUYỂN GIÁO LÝ
13
Bố cục sách dựa theo truyền thống cổ điển của các sách giáo lý, được soạn xoay quanh bốn trục chính : việc tuyên xưng đức tin trong bí tích Thánh Tẩy (kinh Tin Kính), các bí tích, đời sống đức tin (các điều răn), và kinh nguyện của người tín hữu (kinh Lạy Cha)
Phần Thứ Nhất : Tuyên Xưng Đức Tin
14
Những ai thuộc về Đức Ki-tô nhờ đức tin và phép rửa, phải tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người (Mt 10,32; Rm 10,9). Nhằm mục đích ấy, quyển Giáo Lý này trước hết trình bày nội dung của mặc khải và đức tin : với Mặc Khải, Thiên Chúa ngỏ lời và ban chính mình cho con người; nhờ đức tin con người đáp lời Thiên Chúa (đoạn 1). Kinh Tin Kính tóm lược những hồng ân mà Thiên Chúa ban cho con người, vì Người là Tác Giả mọi điều thiện hảo, là Đấng Cứu Chuộc, là Đấng Thánh Hoá. Các tư tưởng trên xoay quanh “ba điều” tuyên xưng trong bí tích Thánh Tẩy : - Tin một Thiên Chúa duy nhất: Chúa Cha toàn năng, Đấng Sáng Tạo; - Tin Đức Giê-su Ki-tô là Con của Người, là Đức Chúa và là Đấng cứu độ chúng ta; - và tin Chúa Thánh Thần trong Hội Thánh (đoạn 2)
Phần thứ hai: Các bí tích đức tin
15
Phần thứ hai trình bày ơn cứu độ, đã được Đức Giê-su Ki-tô và Chúa Thánh Thần thực hiện một lần dứt khoát, nay thực hiện như thế nào trong các hành động thánh thiêng của phụng vụ Hội Thánh (đoạn 1), đặc biệt trong bảy bí tích (đoạn 2).
Phần thứ ba: Đời sống đức tin
16
Phần thứ ba trình bày cùng đích tối hậu của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa là để được hưởng hạnh phúc, và nêu lên những con đường đưa đến hạnh phúc: - sống ngay thẳng và tự do nhờ lề luật và ân sủng của Chúa (đoạn 1) ; - bằng cách thực thi hai mệnh lệnh “mến Chúa, yêu người” được triển khai trong Mười Điều Răn của Thiên Chúa (đoạn 2).
Phần thứ tư: Kinh nguyện trong đời sống đức tin
17
Phần cuối cùng nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của kinh nguyện trong đời sống các tín hữu (đoạn 1), kết thúc với một giải thích ngắn về bảy lời nguyện xin trong kinh Lạy Cha (đoạn 2). Trong các lời nguyện xin này, chúng ta gặp được toàn bộ ơn lành mà con người mong đợi và Cha trên trời hằng muốn ban cho chúng ta.
V. NHỮNG CHỈ DẪN THỰC TIỄN CHO VIỆC SỬ DỤNG SÁCH NÀY
18
Chúng tôi quan niệm sách này như một bản trình bày có hệ thống về toàn bộ đức tin công giáo. Vậy phải đọc sách này như một khối thống nhất . Nhiều chỉ dẫn được ghi ngoài lề bản văn (số nghiêng, chỉ những đoạn khác cùng một đề tài) và bảng tra theo chủ đề được đặt ở cuối sách, cho thấy rõ mỗi chủ đề trong liên hệ với toàn bộ nội dung đức tin.
19
Thường các bản văn Thánh Kinh không được trích nguyên văn, nhưng chỉ ghi xuất xứ (với “x") ở cước chú. Để hiểu nghĩa đoạn văn ấy sâu xa hơn, nên tra chính các bản văn đó. Các tham chiếu Thánh Kinh này rất hũu ích cho huấn giáo.
20
Những đoạn in chữ nhỏ là những ghi chú thuộc loại sử học, hộ giáo hoặc là những bài tường trình tín lý bổ sung.
21
Các đoạn trích dẫn in chữ nhỏ, lấy từ những văn kiện các giáo phụ, phụng vụ, tông huấn hoặc hạnh các thánh, được dùng để giúp bản văn tín lý thêm phong phú. Thường những bản văn ấy được chọn nhằm sử dụng trực tiếp trong Huấn giáo.
22
Cuối mỗi mục, có một số câu ngắn tóm lược cốt lõi của bài học. Những câu “TÓM LƯỢC” ấy nhằm đề xuất những công thức tổng hợp và dễ nhớ giúp việc huấn giáo ở các địa phương.
VI. NHỮNG THÍCH NGHI CẦN THIẾT
23
Sách này nhấn mạnh đến phần trình bày đạo lý. Thật vậy, chúng tôi muốn giúp độc giả hiểu sâu rộng về đức tin, nhờ đó, đức tin được trưởng thành, đâm rễ vào cuộc sống và tỏa sáng thành lời chứng (CT 20-22; 25).
24
Chính vì nhắm mục đích này, chúng tôi không có ý định thực hiện những thích nghi trong cách trình bày giáo lý cũng như những phương pháp huấn giáo theo những đòi hỏi do khác biệt về văn hóa, tuổi tác, mức trưởng thành tinh thần, hoàn cảnh xã hội và Giáo Hội... của những người học giáo lý. Việc thích nghi cần thiết ấy là trách nhiệm của những người soạn sách giáo lý chuyên biệt, và nhất là của những vị giảng dạy.

Người giảng dạy phải “trở nên tất cả cho mọi người” (1Cr 9,22), để chinh phục mọi người cho Đức Giê-su Ki-tô...., đừng tưởng rằng chỉ có một hạng người duy nhất được giao cho mình, vì thế có thể tùy tiện giảng dạy và huấn luyện mọi người tín hữu như nhau theo cùng một phương pháp duy nhất, bất di bất dịch. Phải nhớ rằng, trong Đức Giê-su Ki-tô, có người như trẻ sơ sinh, có người như thiếu niên, những người khác như đã trưởng thành ... Khi truyền đạt các mầu nhiệm đức tin và các qui luật sống, người giảng dạy phải thích nghi với tinh thần và trí hiểu của người nghe ( Giáo lý Rô-ma, lời tựa 11).


KẾT: TRÊN HẾT MỌI SỰ LÀ ĐỨC ÁI
25
Để kết thúc phần trình bày này, thiết tưởng nên nhắc lại nguyên tắc mục vụ đã được quyển Giáo Lý Rô-ma nêu ra :
Tất cả mục đích của giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong Tình Yêu vĩnh cửu. Dù có thể trình bày thật khéo léo điều phải tin, cậy hay làm, nhưng điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu.
PHẦN THỨ NHẤT

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN


Một phần bích họa ở hầm mộ thánh Priscilla tại Rô-ma, đầu thế kỷ III. Ảnh Đức Mẹ cổ xưa nhất.

Trong số các hình ảnh cổ xưa nhất của nghệ thuật Ki-tô giáo, bức ảnh này nêu lên chủ đề cốt lõi của đức tin Ki-tô giáo: mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa được sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

Bên trái, hình dáng một người đưa tay chỉ một ngôi sao ở phía trên Đức Trinh Nữ bồng con : một vị ngôn sứ, có lẽ là ông Ba-la-am, báo tin “một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp sẽ lên cai trị” (Ds 24,17). Đó là tất cả niềm mong đợi của thời Giao Ước Cũ, và tiếng kêu cứu của loài người sa ngã (x.27, 528).

Lời tiên báo đó được ứng nghiệm khi Đức Giê-su ra đời. Con Thiên Chúa làm người do quyền năng Chúa Thánh Thần, sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a (x.27, 53, 422, 488). Đức Ma-ri-a sinh hạ và trao ban Người cho nhân loại. Như vậy, Đức Ma-ri-a là hình ảnh tinh tuyền nhất của Hội Thánh (x. 967).


ĐOẠN THỨ NHẤT

” TÔI TIN ” - ” CHÚNG TÔI TIN ”


26
Khi tuyên xưng đức tin, chúng ta khởi đầu thế này : “tôi tin” hoặc “chúng tôi tin”. Vậy trước khi trình bày đức tin của Hội Thánh, được tuyên xưng trong kinh Tin Kính, diễn đạt trong phụng vụ, thể hiện trong việc thực hành các Điều Răn và trong kinh nguyện, chúng ta hãy tự hỏi xem “tin” nghĩa là gì. Đức tin là lời con người đáp trả lại Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải và hiến mình cho con người, khi ban ánh sáng chứa chan cho con người đang đi tìm ý nghĩa tối hậu của đời mình. Do đó, trước hết chúng ta sẽ bàn về cuộc tìm kiếm của con người (chương một), kế đến bàn về Mặc Khải của Thiên Chúa, qua đó, Thiên Chúa đi bước trước để tỏ mình cho con người (chương hai), và cuối cùng, là lời con người đáp trả trong đức tin (chương ba).

CHƯƠNG MỘT

CON NGƯỜI “CÓ KHẢ NĂNG” ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA
I - CON NGƯỜI KHAO KHÁT THIÊN CHÚA
27 355,1701 1718
Tận đáy lòng, con người khao khát Thiên Chúa vì con người được tạo dựng do Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với mình, và chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm gặp chân lý và hạnh phúc mà họ không ngừng tìm kiếm.
Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa. Ngay từ lúc mới sinh ra, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa : thực thế, sở dĩ con người hiện hữu là do Thiên Chúa đã vì yêu thương mà tạo dựng con người,và cũng vì yêu thương mà luôn luôn bảo tồn con người; và con người chỉ sống hoàn toàn theo chân lý một khi tự ý nhìn nhận tình yêu ấy và phó thác đời mình cho Đấng tạo dựng mình (GS 19,1).

28 843, 2566 2095-2109


Trong lịch sử loài người và cho tới ngày nay, loài người đã diễn đạt việc tìm kiếm Thiên Chúa bằng nhiều cách qua các tín ngưỡng và các thái độ tôn giáo (cầu khẩn, cúng tế, tịnh niệm, phụng tự, v.v...). Mặc dù có khi còn mơ hồ bất minh, những hình thức này quá phổ biến, đến nổi có thể gọi con người là một hữu thể tôn giáo :
Từ một người, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất. Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định cho các dân tộc và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm mà tìm thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta có (Cv 17,26-28).
29 2123-2128 398
Nhưng “mối tương quan thân thiết và sống còn giữa con người với Thiên Chúa"(GS 19,1), có thể bị lãng quên, không biết tới và còn bị minh nhiên chối từ. Những thái độ như thế có thể do nhiều nguyên nhân (GS 19-21) : nổi loạn trước sự dữ trên thế giới, vô tri hoặc thờ ơ về tôn giáo, lo toan về thế gian và tiền của( Mt 13,22), gương xấu của các tín hữu, những trào lưu tư tưởng nghịch tôn giáo, cuối cùng là thái độ của con người tội lỗi, vì sợ sệt mà trốn tránh Thiên Chúa ( St 3,8-10) và tiếng gọi của Người (Gn 1,3).
30 2567, 845 368
“Hạnh phúc thay những tâm hồn tìm kiếm Thiên Chúa” (Tv 105,3). Cho dù con người có thể quên lãng hay chối từ Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mỗi người tìm kiếm Người để được sống và được hạnh phúc. Nhưng sự tìm kiếm này đòi hỏi con người vận dụng tất cả trí tuệ, ý chí chính trực, “một lòng ngay thẳng”, và phải có cả chứng từ của người khác hướng dẫn họ kiếm tìm Thiên Chúa.
Lạy Chúa, Chúa cao cả và đáng muôn lời ca ngợi: quyền năng Chúa lớn lao và trí tuệ Chúa khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, lại dám nghĩ có thể ca ngợi Chúa ; mặc dù chính con người đó, với số kiếp phù du, mang nơi mình tang chứng của tội lỗi và dấu chứng Chúa chống lại kẻ kiêu căng. Dù sao, con người, phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, muốn ca ngợi Chúa. Chính Chúa thúc giục con người làm như vậy, khi cho họ tìm được sướng vui trong lời ngợi khen Chúa, vì Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, và lòng chúng con vẫn khắc khoải bao lâu chưa được nghỉ ngơi trong Chúa (Th. Âu-tinh, tự thuật 1.1,1).
II. NHỮNG CON ĐƯỜNG GIÚP CON NGƯỜI NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA
31
Được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được mời gọi nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, người tìm Thiên Chúa sẽ khám phá ra một số “con đường” giúp nhận biết Người. Những con đường này còn được gọi là “bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa”, không theo nghĩa bằng chứng khoa học tự nhiên, nhưng theo nghĩa những “luận cứ đồng qui và có sức thuyết phục”, giúp con người biết chắc có Thiên Chúa.
Những “con đường” đến với Thiên Chúa xuất phát từ thụ tạo : thế giới vật chất và con người.
32 54, 337
Thế giới : căn cứ vào vận hành và biến hóa của thế giới, tính cách vô thường, trật tự và vẻ đẹp của nó, người ta có thể nhận biết Thiên Chúa như là nguyên thủy và cùng đích của vũ trụ.
Về người ngoại giáo, Thánh Phao-lô khẳng định : “Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì thật là hiển nhiên trước mặt họ: Thật thế, chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người” (Rm 1,19-20) ( Cv 14,15.17 ; 17,27-28; St 13,1-9).
Thánh Âu-tinh nói : “Hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, của biển khơi, của khí trời nở phồng và lan tỏa, của bầu trời ..., hãy hỏi tất cả những thực tại ấy. Tất cả sẽ trả lời bạn : “Hãy xem đó, chúng tôi quả là đẹp”. Vẻ đẹp của chúng là một lời tuyên xưng. Ai đã làm ra những cảnh đẹp thiên biến vạn hoá ấy, nếu không phải là Đấng toàn mỹ không bao giờ đổi thay ? ” ( Bài giảng 241,2).
33 2500,1730 1776 1703 366
Con người : Với tâm hồn cởi mở đón nhận sự thật và vẻ đẹp, với lương tri, tự do và tiếng nói của lương tâm, với khát vọng vươn tới vô tận và hạnh phúc, con người tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Qua những đặc tính trên , con người nhận ra những dấu chỉ cho thấy mình có linh hồn. “Vì mầm sống vĩnh cửu mà con người mang nơi mình, không thể giản lược chỉ duy vào vật chất” (GS 18,1 ; x 14,2), nên linh hồn con người chỉ có thể xuất phát từ Thiên Chúa.
34 199
Thế giới và con người minh chứng rằng chúng không phải là nguyên lý tiên khởi và cứu cánh tối hậu của chính mình, nhưng tham dự vào Đấng là Hữu Thể Tự Tại, vô thủy vô chung. Như vậy, qua những “con đường” khác nhau , con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một thực tại , là nguyên lý tiên khởi và là cứu cánh tối hậu của mọi sự, “mà mọi người gọi là Thiên Chúa” (Thánh Tô-ma Aqui. Tổng luận thần học 1,2,3).

35 50 159


Nhờ những năng lực của mình, con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa hữu ngã. Nhưng để cho con người có thể sống thân thiết với Người, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình cho con người và ban cho họ khả năng đón nhận mặc khải ấy trong đức tin. Tuy nhiên, các “bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa” có thể giúp con người dễ đón nhận đức tin và cho thấy đức tin không nghịch với lý trí .
III. QUAN NIỆM CỦA HỘI THÁNH VỀ VIỆC NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA
36 355
“Hội Thánh, mẹ chúng ta, khẳng định và dạy rằng: Từ những loài thụ tạo, con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, có thể nhận biết cách chắc chắn về Thiên Chúa như là nguyên lý và cùng đích của mọi loài” (Cđ Vat I: DS 3004; x.3026; DV 6). Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mặc khải của Thiên Chúa. Con người có được khả năng đó là vì đã được tạo dựng “theo hình ảnh Thiên Chúa

(x. St 1,26)”.


37 1960
Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể của mình, con người rất khó nhận biết Thiên Chúa nếu chỉ dựa vào ánh sáng của lý trí :
Lý trí con người nhờ sức lực và ánh sáng tự nhiên của mình,có thể nhận biết cách xác thật và chắc chắn về một Thiên Chúa hữu ngã, Đấng bảo vệ và điều khiển thế giới bằng sự quan phòng, cũng như về luật tự nhiên mà Đấng Sáng tạo đã đặt trong tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trở ngại ngăn cản lý trí vận dụng hữu hiệu năng lực tự nhiên của nó.Vì những chân lý liên quan đến Thiên Chúa và loài người vượt hẳn lãnh vực khả giác, lại đòi hỏi con người phải xả thân và quên mình khi muốn hành động và sống theo chân lý đó. Để nắm bắt những chân lý như thế, tinh thần con người phải chịu nhiều khó khăn do giác quan và trí tưởng tượng, cũng như những ham muốn xấu xa do nguyên tội gây nên. Vì thế, trong những lãnh vực đó, những điều mà con người không muốn là có thật, thì họ dễ dàng tự thuyết phục mình rằng chúng chỉ là điều dối trá hay mơ hồ ( Pi-ô XII, enc.Humani Generis: DS 3875).
38 2036
Vì thế, con người cần được mặc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những trong những gì vượt quá trí khôn, mà còn trong “những chân lý tôn giáo và luân lý tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí để con người trong hoàn cảnh hiện tại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm” ( DS 3876 ; x. Vatican I DS 3005 ; DV 6 ; Th. Tô-ma Aquinô,

Tổng luận thần học 1,1,1.)


IV. PHẢI NÓI VỀ THIÊN CHÚA THẾ NÀO ?
39 851
Khi chủ trương lý trí có khả năng nhận biết Thiên Chúa, Hội Thánh tin tưởng có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người và với mọi người. Niềm xác tín này là khởi điểm cho cuộc đối thoại của Hội Thánh với các tôn giáo khác, với triết học và khoa học, cũng như với những người vô tín ngưỡng và vô thần.
40
Vì khả năng nhận biết Thiên Chúa của chúng ta có giới hạn, nên ngôn ngữ chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa cũng giới hạn. Chúng ta chỉ có thể xướng danh Người khởi từ những gì chúng ta biết về các thụ tạo và theo cách thức hiểu biết và suy tư hạn hẹp của loài người chúng ta.
41 213, 299
Có thể nói mọi thụ tạo đều mang dáng vấp nào đó của Thiên Chúa, đặc biệt là con người được sáng tạo theo hình ảnh Người. Những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của thụ tạo (tính chân, thiện, mỹ của chúng) phản chiếu sự toàn hảo vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa khởi từ những nét hoàn hảo của thụ tạo, “vì từ sự nguy nga của thụ tạo, người ta luận ra được ý niệm về Đấng Tạo Hoá” (Kn 13, 5).
42 212,300 370
Thiên Chúa trổi vượt mọi thụ tạo. Vậy cần phải không ngừng luyện lọc ngôn ngữ chúng ta, cho bớt đi những gì hạn hẹp, tượng hình, và chưa hoàn hảo, để khỏi lẫn lộn Đức Chúa “khôn tả xiết, khôn dò thấu, vô hình, vô phương nắm giữ” ( Phụng vụ lễ Thánh Gio-an Kim Khẩu, Anaphore.)với những gì con người hình dung được. Lời nói của nhân loại vẫn luôn thiếu sót, không diễn tả hết mầu nhiệm của Thiên Chúa.

43 206
Khi nói như thế về Thiên Chúa, tuy ngôn ngữ chúng ta diễn tả theo cách phàm nhân, nhưng thực sự đạt tới chính Thiên Chúa, dù không thể diễn tả được Người trong sự giản đơn vô biên của Người. Chúng ta phải nhớ rằng “giữa Đấng Sáng Tạo và loài thụ tạo, không thể nhấn mạnh sự tương đồng mà không làm cho sự bất tương đồng giữa hai bên càng thêm lớn hơn nữa” ( Cđ La-tran IV: DS 806), và “chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa như thế nào, mà chỉ hiểu được Người không như thế nào, và những hữu thể khác có vị trí nào trong tương quan với Thiên Chúa"(Th.Tô-ma Aqu.s.gent.1,30).

TÓM LƯỢC
44
Tự bản tính và ơn gọi, con người là một hữu thể tôn giáo. Phát sinh từ Thiên Chúa và quy hướng về Thiên Chúa, con người chỉ đạt được cuộc sống nhân bản đầy đủ khi tự do liên kết với Thiên Chúa.
45
Con người được tạo dựng nên để sống hiệp thông với Thiên Chúa. Nơi Người, họ tìm được hạnh phúc : “trong Chúa, con không hề còn đau khổ buồn phiền nữa; được tràn đầy Chúa, đời con sẽ đầy đủ trọn vẹn” ( Th. Âu-tinh, Tự thuật.10, 28,39).
46
Khi biết nghe sứđiệp của các thụ tạo và tiếng nói của lương tâm, con người có thể biết chắc có Thiên Chúa là nguyên nhân và cùng đích của mọi sự.
47
Hội Thánh dạy rằng con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí có thể nhận biết chắc chắn về Thiên Chúa duy nhất và chân thật, là Đấng Tạo Hóa và Đức Chúa của chúng ta, qua những công trình của Người ( x.Cđ Vat I: DS 3026).
48
Chúng ta có thể thật sự nói về Thiên Chúa, dựa vào những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của các thụ tạo, phần nào giống Thiên Chúa toàn hảo vô biên, cho dù ngôn ngữ có hạn của chúng ta không tài nào diễn tả hết mầu nhiệm được.

49
“Không có Đấng Sáng Tạo, loài thụ tạo biến tan” (GS 36). Vì thế, người tín hữu cảm thấy tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách mang ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống đến cho những ai không biết hoặc chối từ Người .

CHƯƠNG HAI

THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI


50 36 1066
Nhờ lý trí tự nhiên, con người có thể nhận biết Thiên Chúa một cách chắc chắn, dựa vào những công trình của Người. Nhưng còn có một loại nhận biết khác, mà con người không thể đạt tới bằng sức lực của chính mình, đó là loại nhận biết nhờ mặc khải của Thiên Chúa (x.Cđ Vat I: DS 3015). Bằng một quyết định hoàn toàn tự do, Thiên Chúa tự mặc khải và ban chính mình cho con người. Thiên Chúa làm điều đó bằng cách mặc khải mầu nhiệm của Người, ý định yêu thương Người đã có từ muôn thuở trong Đức Ki-tô, để mưu ích cho mọi người. Thiên Chúa mặc khải trọn vẹn ý định của Người khi cử Người Con chí ái là Đức Ki-tô, Chúa chúng ta, và khi cử Thánh Thần đến với loài người.

Mục 1


Mặc Khải của Thiên Chúa
I. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI “Ý ĐỊNH YÊU THƯƠNG”

51 2823 1996


“Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Người. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa” (DV 2).
52
Thiên Chúa, Đấng “ngự trong ánh sáng siêu phàm” (1Tm 6,16), muốn thông ban sự sống thần linh của chính mình cho loài người mà Người đã tự do sáng tạo, để làm cho loài người được trở nên nghĩa tử trong Con Một của Người (Ep 1,4-5). Bằng cách tự mặc khải chính mình, Thiên Chúa muốn giúp cho loài người có khả năng đáp lời Người, nhận biết và yêu mến Người vượt trên những gì họ có thể làm được tự sức mình.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương