Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang19/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   22

867
Hội Thánh thánh thiện : Thiên Chúa chí thánh là Đấng sáng lập Hội Thánh; Đức Ki-tô, Phu Quân của Hội Thánh đã hiến mình để thánh hóa Hội Thánh; Thánh Thần ban cho Hội Thánh sự sống thánh thiện. Dù bao gồm những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn là “cộng đoàn không tội lỗi của những người tội lỗi ”. Nơi chư thánh, Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện của mình. Nơi Đức Ma-ri-a, Hội Thánh đạt được “sự toàn thiện”.
868
Hội Thánh công giáo : Hội Thánh rao giảng đức tin trọn vẹn, tiếp nhận và quản lý đầy đủ các phương tiện cứu độ; Hội Thánh được sai đến với mọi dân tộc; Hội Thánh ngỏ lời với tất cả mọi người; Hội Thánh bền vững trong mọi thời đại; “tự bản chất, Hội Thánh phải truyền giáo” (x. AG.2).
869
Hội Thánh tông truyền : Hội Thánh được xây dựng trên nền móng vững chắc là “mười hai tông đồ của Con Chiên” (Kh 21,14); Hội Thánh bất diệt; Hội Thánh được gìn giữ không sai lầm trong chân lý: (x. Mt l6,l8) Đức Ki-tô điều khiển Hội Thánh nhờ thánh Phê-rô và các tông đồ khác mà những người kế nhiệm các ngài là Đức Giáo Hoàng và giám mục đoàn.
870
“Hội Thánh duy nhất của Chúa Ki-tô mà trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng, là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền (...) Hội Thánh này được thể hiện nơi Hội Thánh Công Giáo, do vị kế nhiệm Phê-rô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển, dù bên ngoài cơ cấu Hội Thánh cũng có nhiều yếu tố thánh hóa và chân lý” (LG 8).

Tiết 4: Các Ki-tô hữu - cơ cấu phẩm trật, giáo dân, đời sống thánh hiến


871 1268-1269 782-786
“Ki-tô hữu là những người được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy, trở nên Dân Thiên Chúa, do đó tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Ki-tô. Theo điều kiện riêng của mình, họ được mời gọi thực thi sứ mạng mà Chúa đã giao cho Hội Thánh thực hiện trên thế giới” (CIC 204,1; LG 31).
872 1934 794
“Do được tái sinh trong Đức Ki-tô, mọi tín hữu đều bình đẳng về phẩm giá và hoạt động. Nhờ sự bình đẳng thật sự này, tất cả đều cộng tác xây dựng Thân Thể Đức Ki-tô, tùy theo hoàn cảnh và chức vụ riêng của mỗi người” (can 208; x. LG 32).
873 814,1937
Những khác biệt Chúa đã muốn đặt giữa những chi thể trong Thân Thể Người, là để phục vụ cho sự hiệp nhất và sứ mạng của Hội Thánh. “Trong Hội Thánh có nhiều thừa tác vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ mạng. Chúa Ki-tô đã trao phó cho các tông đồ và những người kế nhiệm các ngài nhiệm vụ nhân danh và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Còn phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào nhiệm vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Ki-tô nên họ cũng đảm nhận phần việc của mình trong sứ mạng chung của toàn Dân Thiên Chúa, trong Hội Thánh và ở giữa trần gian” (x. AA 2). “Trong cả hai thành phần giáo sĩ và giáo dân, có những tín hữu qua việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm theo cung cách riêng của họ”, được thánh hiến cho Thiên Chúa để phục vụ sứ mạng cứu độ của Hội Thánh” (CIC can 207,2).
I. CƠ CẤU PHẨM TRẬT CỦA HỘI THÁNH
Mục đích của thừa tác vụ trong Hội Thánh

874 1544
Chính Đức Ki-tô là nguồn cội của thừa tác vụ trong Hội Thánh. Người đã thiết lập, trao quyền và sứ mạng, phương hướng và cứu cánh cho thừa tác vụ Hội Thánh :


“Để chăn dắt và phát triển Dân Chúa luôn mãi, Đức Ki-tô đã thiết lập các thừa tác vụ khác nhau trong Hội Thánh hầu mưu ích cho toàn thân. Thật vậy, các thừa tác viên sử dụng quyền bính thiêng liêng mà phục vụ các anh em mình, để mọi người thuộc Dân Thiên Chúa ... đạt tới ơn cứu độ” (LG 18).

875 166 1548 1536


“Làm sao tin nếu không được nghe trước đã? Làm sao nghe nếu không có ai rao giảng? Làm sao rao giảng nếu không được sai đi?” (x. Rm 10,14-15). Không ai, không cá nhân nào cũng như không cộng đoàn nào, có thể tự loan báo Tin Mừng cho chính mình. “Có đức tin là nhờ nghe giảng” (x. Rm 10,17). Không ai có thể tự cho mình quyền và sứ mạng loan báo Tin Mừng. Sứ giả của Chúa nói và hành động không phải do quyền lực riêng, nhưng do uy quyền của Đức Ki-tô; không phải với tư cách là thành viên của cộng đồng nhưng nói với cộng đồng nhân danh Đức Ki-tô. Không ai có thể ban cho mình ân sủng của Thiên Chúa; ân sủng phải được Thiên Chúa ban cho và trao tặng. Như thế, phải có các thừa tác viên phân phát ân sủng, được phép và được quyền do Đức Ki-tô ban. Từ nơi Người, các giám mục và linh mục nhận sứ mạng và quyền năng để hành động thay quyền Đức Ki-tô là Đầu, các phó tế nhận sức mạnh phục vụ Dân Thiên Chúa bằng “công tác phục vụ” trong phụng vụ, Lời Chúa và bác ái, trong sự hiệp thông với giám mục và hàng linh mục. Thừa tác vụ mà các sứ giả của Đức Ki-tô sử dụng để cử hành và trao ban, nhờ hồng ân Thiên Chúa, những gì bản thân họ không thể tự cử hành và trao ban, được truyền thống Hội Thánh gọi là “bí tích”. Thừa tác vụ của Hội Thánh được trao ban qua một bí tích đặc biệt.
876 1551 427
Thừa tác vụ của Hội Thánh có tính phục vụ gắn liền với bản tính bí tích. Vì các thừa tác viên hoàn toàn tùy thuộc Đức Ki-tô là người giao sứ mạng và quyền hạn, nên họ thực sự là “nô lệ của Đức Ki-tô” (x. Rm 1,1), theo gương Đức Ki-tô, Đấng tự nguyện vì chúng ta “mặc lấy thân nô lệ” (x. Ph 2,7). Vì lời và ân sủng mà họ phục vụ, không phải là của họ nhưng của Đức Ki-tô, được ủy thác cho họ để trao lại cho người khác, nên họ tự nguyện trở thành nô lệ cho mọi người (x.1Cr 9,19).
877 1559
Cũng thế, đặc tính tập đoàn phát xuất từ bản tính bí tích của thừa tác vụ Hội Thánh. Khi bắt đầu thừa tác vụ của mình, Chúa Giê-su đã thiết lập nhóm Mười Hai, “mầm mống của dân Ít-ra-en mới, đồng thời cũng là nguồn gốc của hàng giáo phẩm” (x. AG 5). Được tuyển chọn chung với nhau, họ cùng được sai đi chung với nhau và tình hiệp nhất huynh đệ của họ sẽ giúp cho mọi tín hữu được hiệp thông huynh đệ; sự hiệp thông này sẽ phản ảnh và làm chứng cho sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa (x. Ga 17,21-23). Vì thế, mỗi giám mục thi hành thừa tác vụ của mình trong lòng Giám Mục Đoàn, hiệp thông với Giám Mục Rô-ma, người kế nhiệm thánh Phê-rô và là thủ lãnh Giám Mục Đoàn; các linh mục thi hành thừa tác vụ của mình trong lòng linh mục đoàn giáo phận, dưới sự chỉ đạo của vị giám mục.

878 1448
Sau cùng, do bản tính bí tích, thừa tác vụ Hội Thánh còn có đặc tính cá nhân. Các thừa tác viên của Đức Ki-tô hiệp thông với nhau trong hành động, nhưng họ cũng hành động cách cá nhân. Mỗi người được gọi đích thân : “Phần con, hãy theo Thầy” (Ga 21, 22) (x. Mt 4,19.21; Ga 1,43), để đích thân trở thành một chứng nhân cá thể trong sứ mạng chung, đích thân lãnh trách nhiệm trước Đấng đã trao sứ mạng cho mình, hành động “như đích thân Đức Ki-tô” phục vụ những cá nhân cụ thể : “Tôi rửa anh, nhân danh Chúa Cha...”; “Tôi tha tội cho anh...”

879
Như thế, thừa tác vụ bí tích trong Hội Thánh là một việc phục vụ nhân danh Đức Ki-tô, vừa có tính cá nhân vừa mang hình thức tập thể. Điều này thể hiện rõ trong mối tương quan giữa Giám Mục Đoàn và thủ lãnh Giám Mục Đoàn, người kế nhiệm thánh Phê-rô và trong mối tương quan giữa trách nhiệm mục vụ của giám mục đối với giáo phận của mình và sự quan tâm chung của Giám Mục Đoàn đối với Hội Thánh toàn cầu.
Giám Mục Đoàn và người đứng đầu là Đức Giáo Hoàng

880 552, 862


“Khi thành lập nhóm Mười Hai, Đức Ki-tô đã tổ chức các tông đồ này theo cách thức một tập đoàn, nghĩa là một nhóm kiên vững; Người chọn Phê-rô, một người trong số họ, làm đầu tập đoàn ấy” (x. LG 19). “Cũng như thánh Phê-rô và các tông đồ khác tạo thành một tập đoàn tông đồ duy nhất, như Chúa đã thiết lập; thì tương tự như thế, Giám Mục Rô-ma, người kế nhiệm thánh Phê-rô cùng với các giám mục, là những người kế nhiệm các tông đồ, cũng liên kết với nhau và hiệp nhất với nhau” (LG 22; x.CIC, can. 330).
881 553 642
Chúa đã chọn một mình Xi-mong mà Người đặt tên là Phê-rô làm đá nền cho Hội Thánh. Người đã trao cho ông các chìa khóa của Hội Thánh (x. Mt 16,18-19), và đặt ông làm mục tử chăn dắt cả đoàn chiên (x. Ga 21,15-17). “Nhưng quyền tháo gỡ cầm buộc đã ban cho Phê-rô, chắc chắn Người cũng ban cho cả đoàn tông đồ hiệp nhất với thủ lãnh” (x. LG 22). Nhiệm vụ mục tử này của Phê-rô và các tông đồ khác là một trong những yếu tố căn bản của Hội Thánh. Các giám mục tiếp tục thi hành nhiệm vụ này dưới quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng.
882
Đức Giáo Hoàng, vừa là Giám Mục Rô-ma vừa là vị kế nhiệm thánh Phê-rô, “là nguyên lý và nền tảng hữu hình, vĩnh cửu của sự hiệp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu” (x. LG 23). “Thật vậy, do nhiệm vụ là đại điện Chúa Ki-tô và mục tử của toàn thể Hội Thánh, Giám Mục Rô-ma có quyền bính trọn vẹn. tối cao, phổ quát trên Hội Thánh và bao giờ Ngài cũng được tự do thi hành quyền ấy” (x. LG 22; CD 2,9).
883
“Giám Mục Đoàn chỉ có quyền hành khi hiệp nhất với Giám Mục Rô-ma là thủ lãnh của họ”. Như thế, “Giám Mục Đoàn cũng có quyền bính trọn vẹn và tối cao trên toàn thể Hội Thánh, nhưng chỉ có thể thi hành quyền này khi có sự ưng thuận của Giám Mục Rô-ma” (x. LG 22; CIC can 336).

__

884


“Quyền bính tối cao của Giám Mục Đoàn trên toàn thể Hội Thánh được thi hành cách trọng thể trong Công Đồng Chung” (x. CIC,can.337,1). “Nhưng không bao giờ có Công Đồng Chung, nếu không được vị kế nhiệm Phê-rô phê chuẩn hay ít ra chấp nhận” (LG 22).

885
“Gồm nhiều thành phần khác nhau, Giám Mục Đoàn diễn tả đặc tính đa dạng và phổ quát của Dân Thiên Chúa; đồng thời, tập họp dưới quyền một thủ lãnh duy nhất, Giám Mục Đoàn diễn tả sự hiệp nhất của đoàn chiên Chúa Ki-tô” (LG 22).

886 1560, 833 2448
“Mỗi giám mục là nguyên lý và nền tảng hữu hình của sự hiệp nhất trong Hội Thánh địa phương” (x. LG 23). Như thế, “mỗi giám mục thi hành quyền mục vụ trên phần Dân Thiên Chúa được ủy thác cho mình” (x. LG 23), với sự trợ giúp của các linh mục và phó tế. Nhưng với tư cách là thành viên Giám Mục Đoàn, mỗi giám mục có bổn phận quan tâm đến toàn thể Hội Thánh (x. CD 3). Các ngài thể hiện mối quan tâm đó trước hết bằng việc “điều hành tốt Hội Thánh địa phương như một phần của Hội Thánh toàn cầu”, như vậy đã là góp phần hữu hiệu vào “công ích của toàn Nhiệm Thể cũng là thân thể của các Hội Thánh” (x. LG 23). Các ngài phải đặc biệt quan tâm đến những người nghèo (x. Gl 2,10), những người bị bách hại vì đức tin, cũng như đến các thừa sai đang hoạt động trên toàn thế giới.

887
Các Hội Thánh địa phương lân cận và có chung nền văn hóa tạo thành những giáo tỉnh, hay những tập thể lớn hơn gọi là giáo miền hay vùng dưới quyền thượng phụ (x. Canon des apôtres 34). Các giám mục thuộc những tập thể này có thể họp hội nghị hay công đồng địa phương. “Cũng thế, ngày nay các Hội Đồng Giám Mục có thể góp phần cách phong phú và đa dạng để cụ thể hóa tinh thần tập đoàn” (LG 23).


85-87 2032-2040
Nhiệm vụ giáo huấn
888 2068
Các giám mục, với những cộng sự viên là các linh mục, “trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng Thiên Chúa cho mọi người” (x. PO 4), theo lệnh của Chúa Ki-tô (x.Mc 16,15). Các ngài “là sứ giả đức tin đem nhiều môn đệ mới về với Chúa Ki-tô, là thầy dạy đích thực” của đức tin tông truyền, “có uy quyền của Chúa Ki-tô” (LG 25).

889 92
Để gìn giữ đức tin tinh tuyền do các tông đồ truyền lại, Chúa Ki-tô muốn cho Hội Thánh Người tham dự vào sự bất khả ngộ của chính Người, vì Người là Chân lý. Nhờ “cảm thức siêu nhiên về đức tin”, Dân Thiên Chúa “gắn bó không sờn với đức tin” dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền sống động của Hội Thánh (LG 12; DV 10).


890 851 1785
Sứ mạng của Huấn Quyền gắn liền với đặc tính chung cuộc của Giao Ước do Thiên Chúa lập trong Đức Ki-tô với Dân Người. Huấn Quyền bảo vệ Dân Chúa khỏi những sai lạc và khiếm khuyết, đồng thời bảo đảm cho Dân khả năng khách quan để tuyên xưng không sai lầm đức tin chân chính. Như thế, trách nhiệm mục vụ của Huấn Quyền là giữ gìn Dân Chúa luôn trung thành với chân lý giải phóng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, Chúa Ki-tô đã ban cho các mục tử đặc sủng không sai lầm về đức tin và phong hóa. Đặc sủng này có thể được hành xử dưới nhiều dạng khác nhau :

891
“Giám Mục Rô-ma, vị thủ lãnh của Giám Mục Đoàn, hưởng ơn bất khả ngộ đó do nhiệm vụ của ngài; khi với tư cách là mục tử và thầy dạy tối cao của mọi Ki-tô hữu, để củng cố anh em mình vững mạnh trong đức tin, ngài công bố một điểm giáo thuyết về đức tin và phong hóa bằng một phán quyết chung thẩm. Ơn bất khả ngộ được hứa ban cho Hội Thánh cũng có nơi Giám Mục Đoàn, khi các ngài thi hành huấn quyền tối thượng kết hiệp cùng với vị kế nhiệm thánh Phê-rô”, nhất là trong một Công Đồng Chung (x. LG 25; x.Vatican I: DS 3074). Khi Hội Thánh dùng Huấn Quyền tối thượng để đề ra một điều gì “phải tin bởi do Thiên Chúa mặc khải” (x. DV 10) và là giáo huấn của Chúa Ki-tô, chúng ta “phải lấy đức tin mà vâng phục các định tín ấy” (x. LG 25). Giới hạn của ơn bất khả ngộ này nằm trong giới hạn của kho tàng mặc khải” (x.LG 25).

892
Ơn trợ giúp này của Thiên Chúa cũng được ban cho những người kế nhiệm các thánh tông đồ, khi các ngài dùng huấn quyền thông thường đề ra một giáo huấn giúp hiểu rõ mặc khải hơn về đức tin và phong hóa. Tuy không định tín hay công bố một “cách chung thẩm”, các giám mục được ơn Chúa trợ giúp để giảng dạy trong sự hiệp thông với vị kế nhiệm thánh Phê-rô, đặc biệt ơn trợ giúp này được ban cho Giám Mục Rô-ma, vị mục tử của toàn thể Hội Thánh. Dù biết rằng đây là giáo huấn thông thường nên không phải vâng phục như các tín điều, nhưng các tín hữu vẫn phải “vâng theo với lòng kính cẩn” (LG 25).

Nhiệm vụ thánh hóa

893 1561
Vị giám mục vì là thượng tế có “trách nhiệm ban phát ân sủng của Đức Ki-tô, vị tư tế tối cao” (x. LG 26), đặc biệt trong thánh lễ do chính ngài dâng hoặc lo liệu cho có các cộng sự viên là các linh mục dâng. Vì thánh lễ là tâm điểm của đời sống Hội Thánh địa phương. giám mục và các linh mục thánh hoá Hội Thánh địa phương bằng kinh nguyện và công việc của các ngài, bằng thừa tác vụ Lời Chúa và các bí tích, bằng gương mẫu, “đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (x. 1Pr 5,3). Nhờ đó, “cùng với đoàn chiên Chúa giao phó, các ngài đạt tới đời sống vĩnh cửu” (LG 26).
Nhiệm vụ cai quản
894 801
“Là đại diện và sứ giả Chúa Ki-tô, các giám mục điều khiển Giáo Hội địa phương bằng lời khuyên bảo, khích lệ, gương sáng của mình và cũng bằng uy quyền và quyền Thánh Chức nữa” (x. LG 27). Các ngài phải thi hành quyền này để xây dựng cộng đoàn trong tinh thần phục vụ của Thầy mình (x. Lc 22,26-27).
895 1558
“Quyền bính mà các ngài đích thân thi hành nhân danh Đức Ki-tô, là một quyền bính riêng biệt, thông thường và trực tiếp; nhưng việc thi hành quyền này còn tùy thuộc vào thẩm quyền tối cao của Hội Thánh” (x. LG 27 ). Chúng ta không được coi các giám mục như những đại diện của Đức Giáo Hoàng; quyền thường xuyên và trực tiếp của Đức Giáo Hoàng trên toàn Hội Thánh không hủy bỏ mà còn xác nhận và bảo vệ quyền của các ngài. Các ngài phải thi hành quyền này trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng.

896 1550
Vị mục tử nhân lành phải là khuôn mẫu cho các giám mục trong nhiệm vụ mục vụ. Ý thức những yếu đuối của mình, “giám mục có thể cảm thông với những ai dốt nát và lầm lạc. Ngài nên lắng nghe những kẻ thuộc quyền, và ân cần săn sóc họ như những người con đích thực. Còn các tín hữu, họ phải liên kết với giám mục của mình như Hội Thánh gắn bó với Chúa Giê-su Ki-tô và như Chúa Giê-su Ki-tô với Chúa Cha” (LG 27).


Tất cả anh em hãy theo giám mục, như Chúa Ki-tô theo Chúa Cha; hãy theo linh mục đoàn như theo các tông đồ; hãy kính trọng các phó tế như kính trọng luật Chúa. Đừng ai làm việc gì có liên quan đến Hội Thánh ngoài ý giám mục. (T.Inhaxiô Antiôkia, thư gởi giáo đoàn Smyrn 8,1).
II. GIÁO DÂN

897 873
“Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Ki-tô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được Hội Thánh công nhận, nghĩa là những tín hữu đã được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Ki-tô theo cách thức của họ. Họ là những người đang thi hành sứ mạng của toàn dân Ki-tô giáo trong Hội Thánh và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình” (LG 31).


Ơn gọi giáo dân
898 2105
“Ơn gọi riêng của giáo dân là tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ có nhiệm vụ đặc biệt là soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng được thực hiện và phát triển theo thánh ý Chúa Ki-tô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc” (LG 31).
899 2442
Sáng kiến của giáo dân đặc biệt cần thiết khi phải khám phá, và tạo ra những phương thế để đem các đòi hỏi của đạo lý và đời sống Ki-tô giáo thấm nhập vào các thực tại xã hội, chính trị và kinh tế. Công việc này là chuyện bình thường trong đời sống Hội Thánh.
Giáo dân đứng ở tuyến đầu của Hội Thánh. Nhờ họ Hội Thánh trở thành nguyên lý mang lại sự sống cho xã hội. Chính vì thế họ luôn luôn phải ý thức rất rõ rằng không những họ thuộc về Hội Thánh, mà họ còn là Hội Thánh nữa, nghĩa là cộng đoàn tín hữu đang sống trên trần thế này, dưới sự hướng dẫn của vị thủ lãnh chung là Đức Giáo Hoàng và các giám mục hiệp thông với ngài. Họ là Hội Thánh ( Đức Pi-ô XII, diễn từ 20 tháng 2 1946; được Đức Gio-an Phao-lô II, trích dẫn trong CL 9).
900 863
Cũng như mọi tín hữu được Thiên Chúa trao nhiệm vụ tông đồ qua bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức, người giáo dân có bổn phận và có quyền, một mình hay họp thành nhóm, hoạt động để mọi người khắp mọi nơi biết đến và đón nhận sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa. Bổn phận này càng thúc bách hơn nữa, khi chỉ nhờ họ những người khác mới có thể nghe được Tin Mừng và nhận biết Đức Ki-tô. Trong các cộng đoàn Hội Thánh, hoạt động của họ cần thiết đến nỗi không có họ, việc tông đồ của các mục tử phần lớn không thể phát huy hiệu quả tối đa (x. LG 33).
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ tư tế của Chúa Ki-tô
901 784, 1268
“Vì giáo dân đã được thánh hiến cho Chúa Ki-tô và được Thánh Thần xức dầu, nên họ được mời gọi và được ban ơn cách lạ lùng để Thánh Thần sinh hoa kết quả nơi họ ngày càng phong phú hơn. Thực vậy, mọi hoạt động, kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần và cả đến những thử thách của cuộc sống, nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên “hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê-su Ki-tô” (1 Pr 2,5), vì những hiến lễ ấy được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa khi cử hành lễ tạ ơn. Như thế, giáo dân thánh hiến thế giới này cho Thiên Chúa nhờ biết phụng thờ Người bằng đời sống thánh thiện khắp nơi” (LG 34).

902 1143


Đặc biệt, các cha mẹ công giáo tham dự vào nhiệm vụ thánh hóa “khi sống đời vợ chồng và giáo dục con cái theo tinh thần Ki-tô giáo” (CIC, can.835,4).

903 1143


Nếu hội đủ điều kiện, giáo dân có thể lãnh nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ (x.CIC,can 230,1). “Nơi nào nhu cầu Hội Thánh đòi hỏi vì thiếu thừa tác viên, giáo dân dù không có nhận thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc như thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các quy tắc luật định” (CIC, can 230,3).
Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ ngôn sứ của Chúa Ki-tô

904 785 92


“Đức Ki-tô chu toàn chức vụ ngôn sứ không những nhờ hàng giáo phẩm ... nhưng cũng nhờ các giáo dân. Người đã đặt họ làm chứng nhân, bằng cách ban cho họ cảm thức đức tin và ơn dùng ngôn từ ” (LG 35).
Dạy dỗ người khác để đưa họ đến đức tin là nhiệm vụ của mỗi vị giảng thuyết và ca<150) của mỗi tín hữu (T. Tô-ma A-qui-nô, tổng luận thần học 371,4,3).

905 2044
Giáo dân cũng chu toàn sứ mạng ngôn sứ của họ bằng việc phúc âm hóa, “nghĩa là loan báo Đức Ki-tô bằng đời sống chứng tá và lời nói”. Nơi giáo dân, “hoạt động phúc âm hóa này ... mang sắc thái và có một hiệu năng đặc biệt vì được thể hiện trong những hoàn cảnh thông thường ở trần gian” (LG 35).


2472
“Hoạt động tông đồ này không chỉ là làm chứng bằng đời sống. Người tông đồ đích thực còn phải tìm dịp loan truyền Đức Ki-tô bằng lời nói, cho người chưa tin ... hoặc cho tín hữu” (AA 6; x.AG 15).
906 2495

Những giáo dân có khả năng và đã được huấn luyện, cũng có thể cộng tác trong việc hướng dẫn giáo lý (x. CIC can 774;776;780) , giảng dạy các khoa học thánh (x. CIC can 229), việc truyền thông xã hội (x. CIC can 823,1).


907

“Tùy theo nhiệm vụ kiến thức chuyên môn và uy tín của mình, họ có quyền và đôi khi có bổn phận, bày tỏ cho các vị mục tử có chức thánh biết ý kiến của mình liên quan tới lợi ích của Hội Thánh. Họ cũng có quyền phát biểu ý kiến của mình cho các tín hữu khác, miễn là bảo vệ sự vẹn toàn của đức tin và phong hóa, cũng như sự tôn kính đối với các mục tử, và quan tâm đến công ích và phẩm giá của tha nhân” (CIC can 212,3).


Giáo dân tham gia vào nhiệm vụ vương giả của Chúa Ki-tô
908 786
Nhờ vâng phục cho đến chết (x. Pl 2,8-9), Đức Ki-tô thông ban cho các môn đệ hồng ân tự do vương giả"để chiến thắng ách thống trị của tội lỗi nơi bản thân họ, bằng một đời sống từ bỏ và thánh thiện” (LG 36).
“Ai chế ngự thân xác và điều khiển hồn mình, không để dục vọng khuất phục là làm chủ bản thân. Người ấy có thể được gọi là vua, vì có khả năng cai trị chính bản thân; người ấy tự do, độc lập và không làm nô lệ cho tội lỗi” (x. T.Am-rô-xiô, chú giải Thánh vịnh 118,14,30: PL 15,1403A).

909 1887
“Ngoài ra, khi các cơ chế và hoàn cảnh sống trong thế gian gây nên dịp tội, giáo dân phải hiệp sức làm cho các cơ chế và hoàn cảnh sống đó trở nên lành mạnh, phù hợp với các tiêu chuẩn của đức công bình, và giúp phát huy hơn là ngăn trở việc thực hành các nhân đức. Hành động như thế, giáo dân sẽ làm cho những giá trị luân lý thấm nhập vào văn hóa và các công trình của loài người” (LG 36).

910 799
“Các giáo dân cũng có thể cảm thấy được gọi hay thực sự được gọi để cộng tác với các mục tử phục vụ cho sự sống và tăng trưởng của cộng đoàn Hội Thánh, bằng cách thực hành các thừa tác vụ rất khác nhau, tùy theo ân sủng và các đặc sủng Chúa đã ban cho họ” (EN 73).

911 2245


“Theo luật Hội Thánh, giáo dân có thể cộng tác vào việc hành sử quyền cai trị” (x. CIC can 129,2) : Họ tham gia các hội đồng tư vấn (x. Can 443,4), các hội nghị giáo phận (x. CIC Can 463,1.2), các hội đồng mục vụ (x. Can 511;536), thi hành trách nhiệm mục vụ trong giáo xứ (x. Can 517,2), hợp tác vào những hội đồng kinh tế (x. Can 492,1), tham gia vào các tòa án đạo (Can 1421,2), v.v...

912 2245
Các tín hữu phải “lưu tâm phân biệt đâu là quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tư cách một phần tử của Hội Thánh, đâu là quyền lợi và nghĩa vụ với tư cách một phần tử trong xã hội loài người. Họ phải cố gắng hòa hợp cả hai loại nghĩa vụ và quyền lợi đó với nhau và hãy nhớ rằng trong mọi lãnh vực trần thế, lương tâm Ki-tô giáo phải luôn hướng dẫn họ, vì không một hoạt động nào của con người, dù thuộc phạm vi trần thế, có thể vượt khỏi quyền thống trị của Thiên Chúa” (LG 36).


913
“Vì những ân huệ đã lãnh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân, vừa là khí cụ sống động cho chính sứ mạng Hội Thánh, “tùy theo mức độ ân sủng Chúa Ki-tô ban cho (Eph 4,7)” (LG 33)”.
III. ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN
914 2103
“Bậc sống được thành lập do việc khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm, tuy không liên quan đến cơ cấu phẩm trật, nhưng vẫn thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Hội Thánh” (LG 44).
Các lời khuyên Phúc Âm và đời sống thánh hiến
915 1973-1974
Mọi môn đệ Chúa Ki-tô đều được mời gọi sống các lời khuyên Phúc Âm, vốn có rất nhiều. Mọi tín hữu đều được gọi sống đức ái hoàn hảo, nhưng những ai tự nguyện sống đời tận hiến, thì buộc tuân giữ đức vâng phục, đức nghèo khó, và đức khiết tịnh trong đời sống độc thân vì Nước Trời. Chính việc tuyên khấn giữ các lời khuyên Phúc Âm, trong một bậc sống ổn định được Hội Thánh công nhận, diễn tả nét đặc thù của “đời sống thánh hiến” cho Thiên Chúa (x.LG 42-43; PC 1).
916 2687 933
Bậc sống thánh hiến là một trong những cách thức để được thánh hiến “sâu xa hơn”, bắt nguồn từ bí tích Thánh Tẩy và việc tận hiến cho Thiên Chúa (x.PC 5). Trong đời sống thánh hiến, các Ki-tô hữu dưới tác động của Thánh Thần, sẵn sàng theo sát Đức Ki-tô hơn, tự hiến cho Thiên Chúa là Đấng được yêu mến trên hết mọi sự và theo đuổi đức ái hoàn hảo để phục vụ Nước Trời, bày tỏ và loan báo trong Hội Thánh sự vinh quang của thế giới tương lai (x.CIC can 573).



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương