Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang18/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   22

“Chúa Ki-tô “thánh thiện, vô tội, tinh tuyền” ( x. Dt 7,26) không hề phạm tội ( x. 2Cr 5,21 ), chỉ đến để đền tội cho dân ( x. Dt 2,17); còn Hội Thánh, vì ôm ấp trong lòng những kẻ tội lỗi, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh luyện mình. Do đó, Hội Thánh luôn nỗ lực sám hối và canh tân” ( x. LG 8;UR 3;6). Tất cả các chi thể của Hội Thánh, kể cả các thừa tác viên, phải tự nhận là người tội lỗi ( x. 1Ga l,8-l0). Trong tất cả mọi người, cỏ lùng tội lỗi còn lẫn lộn với lúa tốt của Tin Mừng cho đến tận thế ( x Mt l3,24-30). Do đó, Hội Thánh quy tụ những người tội lỗi đã được lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Ki-tô, nhưng còn đang trên đường thánh hóa :
“Dù còn mang trong mình những người tội lỗi, Hội Thánh vẫn thánh thiện, vì Hội Thánh không có sự sống nào khác ngoài sự sống ân sủng : chính khi sống đời sống của Hội Thánh, các thành viên của Hội Thánh được thánh hóa; tách khỏi sự sống này, họ rơi vào tội lỗi và hỗn loạn, ngăn cản Hội Thánh chiếu tỏa sự thánh thiện cho thế giới. Dù có quyền giải thoát con cái mình khỏi tội nhờ Máu Đức Ki-tô và hồng ân của Thánh Thần, Hội Thánh vẫn phải chịu đau khổ và đền bù những lỗi phạm ấy (x. SPF l9).
828 ll73 2O45
Khi phong thánh cho một số tín hữu, nghĩa là khi long trọng tuyên bố họ đã thực hành một cách anh dũng các nhân đức và đã sống trung thành với ân sủng Chúa, Hội Thánh nhìn nhận quyền năng của Thần Linh thánh thiện ngự trị trong Hội Thánh và nâng đỡ niềm hy vọng của các tín hữu, bằng cách giới thiệu cho họ những gương mẫu và người chuyển cầu (x. LG 4O;48-5l). “Các thánh nam nữ luôn là nguồn mạch và là khởi điểm của sự canh tân trong những thời điểm khó khăn nhất của lịch sư Hội Thánh” (x. CL l6,3). Quả thế, “sự thánh thiện là nguồn mạch bí ẩn và là khuôn vàng thước ngọc cho hoạt động tông đồ và sự nhiệt tình truyền giáo của Hội Thánh” (CL l7,3).
829 ll72 972
“Nơi Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Hội Thánh đã đạt tới sự toàn thiện, trở nên không vết nhăn, không tì ố, nhưng các Ki-tô hữu còn phải cố gắng chiến thắng tội lỗi, để tiến trên con đường thánh thiện; vì thế, họ ngước nhìn lên Đức Ma-ri-a” (x. LG 65): nơi Đức Mẹ, Hội Thánh thực sự thánh thiện rồi.
III. HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
Công Giáo là gì?
830
“Công Giáo” là “phổ quát” theo nghĩa “toàn diện” hay “toàn vẹn”. Hội Thánh là Công Giáo theo hai nghĩa:

795 8l5- 8l6


Hội Thánh là công giáo vì Đức Ki-tô hiện diện trong Hội Thánh “Ở đâu có Đức Ki-tô, ở đó có Hội Thánh Công Giáo” ( x. T I-nha-xi-ô An-ti-ô-ki-a 8,2). Nơi Hội Thánh hiện hữu Thân Thể Đức Ki-tô trọn vẹn, kết hợp với Đầu ( x. Ep l,22-23) , vì tiếp nhận từ Người “trọn vẹn các phương tiện cứu độ” ( x. AG.6) theo ý Người muốn : tuyên xưng đức tin chân thật và đầy đủ, đời sống bí tích toàn vẹn và thừa tác viên được thụ phong để liên tục kế nhiệm các tông đồ. Theo ý nghĩa căn bản này, Hội Thánh là công giáo trong ngày lễ Ngũ Tuần và mãi mãi là công giáo cho đến ngày Chúa quang lâm.

831 849
Hội Thánh là công giáo vì được Đức Ki-tô sai đến với toàn thể nhân loại ( x. Mt 28,l9):

360 5l8
“Mọi người được mời gọi gia nhập Dân của Thiên Chúa. Vì thế, Dân mới này, một Dân hiệp nhất và duy nhất, có bổn phận phải lan rộng khắp thế giới trải qua mọi thế hệ, hầu hoàn tất kế hoạch của thánh ý Thiên Chúa, Đấng từ nguyên thủy đã tạo dựng một bản tính nhân loại duy nhất, và quyết định sau này tập họp về một mối tất cả con cái tản mác của Người... Đặc tính “phổ quát” này, rực sáng trên Dân Thiên Chúa, là một ân huệ do chính Thiên Chúa ban, nhờ đó Hội Thánh Công Giáo luôn nỗ lực cách hữu hiệu qui tụ toàn thể nhân loại cùng những gì tốt lành nơi họ dưới quyền một thủ lãnh là Chúa Ki-tô, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần (LG l3).
Mỗi Giáo Hội địa phương cũng là “Công Giáo”
832 8l4 8ll
“Hội Thánh Chúa Ki-tô thực sự hiện diện trong mọi tập thể tín hữu địa phương hợp pháp. Những tập thể này, vì hiệp nhất với các mục tử nên trong Tân Ước cũng được gọi là Hội Thánh. Nơi các tập thể đó, tín hữu được tụ họp lại nhờ sự rao giảng Tin Mừng Chúa Ki-tô và mầu nhiệm Tiệc Thánh Chúa được cử hành. Chúa Ki-tô vẫn hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mác khắp nơi. Và nhờ thần lực Người, Hội Thánh được duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (LG 26).
833 886
Giáo hội địa phương - trước hết là giáo phận hay giáo khu - là một cộng đoàn Ki-tô hữu hiệp thông trong đức tin và các bí tích với Giám Mục của họ đã được thụ phong do những vị kế nhiệm các tông đồ (x. CD.ll; CIC, can 368-369). Các Giáo Hội địa phương “được thành lập theo hình ảnh Hội Thánh phổ quát; chính nhờ và trong các Giáo Hội ấy, mà có Hội Thánh công giáo duy nhất ” (LG 23).
834 882, l369
Các Giáo Hội địa phương là công giáo trọn vẹn khi hiệp thông với Hội Thánh Rô-ma “giữ vai trò chủ tọa trong đức ái” (x.T. I-nha-xi-ô An-ti-ô-ki-a thơ Rm l,l). “Vì nguồn gốc rất cao quý của Giáo Hội ấy, mọi Giáo Hội, nghĩa là mọi tín hữu ở khắp mọi nơi (x.T.I-rê-nê, chống lạc giáo 3,3,2; cđ Vatican I:DS 3Ọ57) đều phải hòa hợp với Giáo Hội ấy”. “Quả thế, ngay từ khi Ngôi Lời nhập thể xuống với chúng ta, tất cả các Giáo Hội Ki-tô giáo ở khắp mọi nơi luôn coi Giáo Hội vĩ đại ở Rô-ma như nền tảng và cơ sở duy nhất, vì theo chính lời hứa của Đấng Cứu Độ, cửa địa ngục không bao giờ thắng được Giáo Hội ấy” (x.T.Mác-xi-mô, tiểu phẩm thần học và luận chứng).

835 l202
“Hội Thánh phổ quát không được xem đơn giản là một tổng hợp hay một liên minh các Hội Thánh địa phương. Nhưng Hội Thánh phổ quát do ơn gọi và sứ mạng, vì đâm rễ trong những mảnh đất văn hóa, xã hội, dân tộc khác nhau, trong mỗi miền của trái đất, nên có những bộ mặt và những cách diễn tả khác nhau” (x. EN 62). Sự đa dạng rất phong phú về kỷ luật nghi thức phụng vụ, di sản thần học và thiêng liêng riêng của các Giáo Hội địa phương, “khi hướng về sự hiệp nhất, càng minh chứng đặc tính công giáo của một Hội Thánh không thể phân chia” (LG 23).


Ai thuộc về Hội Thánh Công Giáo

836 83l
“Mọi người đều được mời gọi vào sự hiệp nhất công giáo của Dân Thiên Chúa... Họ thuộc về hoặc hướng về sự hiệp nhất đó, dưới nhiều thể cách khác nhau : hoặc là các tín hữu công giáo hoặc là những người tin vào Đức Ki-tô, cuối cùng là tất cả mọi người không trừ một ai được Thiên Chúa kêu mời lãnh nhận ơn cứu độ ” (LG l3).

837 77l 8l5 882
“Được kể là gia nhập hoàn toàn vào cộng đoàn Hội Thánh những ai nhận lãnh Thánh Thần Chúa Ki-tô, chấp nhận trọn vẹn tổ chức và các phương tiện cứu rỗi được thiết lập trong Hội Thánh; nhờ các mối liên lạc do việc tuyên xưng đức tin, các bí tích, việc cai trị Hội Thánh và sự hiệp thông, họ liên kết với Chúa Ki-tô trong tổ chức hữu hình mà Người điều khiển nhờ Đức Giáo Hoàng và các giám mục. Dù được tháp nhập vào Hội Thánh, nhưng nếu không kiên trì sống trong đức ái, thì vẫn không được cứu độ, vì tuy “thể xác” họ thuộc về Hội Thánh, nhưng “tâm hồn” họ không ở trong Hội Thánh” (LG l4).
838 8l8 l27l l399
“Với những kẻ đã lãnh nhận Phép Rửa, mang danh hiệu Ki-tô hữu, nhưng không tuyên xưng đức tin trọn vẹn hoặc không hiệp thông với Đấng kế nhiệm thánh Phê-rô, Hội Thánh vẫn biết mình kết hiệp với họ vì nhiều lý do” (x. LG l5). “Những ai tin Chúa Ki-tô và đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy thành sự thì cũng hiệp thông cách nào đó với Hội Thánh công giáo, tuy không hoàn toàn” (x. UR.3). Với các Hội Thánh chính thống, sự hiệp thông này sâu đậm đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút nữa thôi, thì hai bên có quyền cử hành chung Thánh Lễ” (x. Paul VI, bài giảng l4-12 l975; x.UR l3-l8).
Hội Thánh và những người ngoài Ki-tô giáo
839 856
“Còn những ai chưa lãnh nhận Tin Mừng, cũng được an bài bằng nhiều cách để thuộc về Dân Thiên Chúa"(LG l6) :
63 l47
Tương quan giữa Hội Thánh và Dân Do Thái. Khi tìm hiểu kỹ càng mầu nhiệm của chính mình, Hội Thánh, Dân Thiên Chúa trong Giao Ước mới, khám phá ra mối liên hệ giữa mình với dân Do thái (x. NA 4) là dân đầu tiên được Thiên Chúa ngỏ lời (x. Sách lễ Rô-ma, thứ sáu tuần Thánh, lời nguyện chung số 6). Không như các tôn giáo khác ngoài Ki-tô giáo, đức tin Do Thái đã là lời đáp ứng mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước. “Chính dân Do Thái được Thiên Chúa nhận làm con, cho thấy vinh quang, ban tặng giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa. Họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ” (x. Rm 9,4-5), vì “khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý ” (Rm ll,29).

840 674 597


Mặt khác, khi nhìn về tương lai, Dân Thiên Chúa của Cựu Ước và Dân Mới của Thiên Chúa đều mong chờ Đấng Mê-si-a (đến hoặc trở lại). Nhưng Hội Thánh mong chờ sự trở lại của Đấng Mê-si-a đã chết và phục sinh, được nhìn nhận là Đức Chúa và là Con Thiên Chúa; còn dân Do Thái mong chờ một Đấng Mê-si-a không rõ nét, sẽ đến vào ngày tận thế, một sự mong chờ đầy bi thảm vì không biết và không nhận Đức Giê-su là Đấng Ki-tô.

841


Tương quan giữa Hội Thánh và người Hồi Giáo. “Ý định cứu độ cũng còn bao gồm những ai nhận biết Đấng Sáng Tạo : trước tiên phải kể người Hồi Giáo, những người tự nhận là giữ đức tin của Áp-ra-ham; cùng với chúng ta, họ thờ phượng Thiên Chúa duy nhất, nhân từ, Đấng sẽ phán xét loài người trong ngày sau hết” (LG l6; NA.3).

842 36O
Liên hệ giữa Hội Thánh và các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo trước hết căn cứ trên liên hệ giữa loài người với nhau, có cùng một nguồn gốc và một cứu cánh :


“Thật vậy, mọi dân tộc đều họp thành một cộng đoàn duy nhất, cùng chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên khắp mặt địa cầu. Họ lại có cùng một mục đích tối hậu là Thiên Chúa, Đấng vẫn hằng trải rộng sự quan phòng, chứng tích lòng nhân hậu và ý định cứu độ cho hết mọi người, cho đến khi những người được chọn hiệp nhất với nhau trong Thành Thánh” (NA 1)

843 28 856


Hội Thánh nhìn nhận các tôn giáo khác cũng đang tìm kiếm, “trong bóng tối và qua các hình tượng”, Thiên Chúa mà họ không biết nhưng gần gũi, vì chính Người ban cho họ sự sống, hơi thở và tất cả mọi sự và vì Người muốn mọi người đều được cứu độ. Thành thử, Hội Thánh xem tất cả những gì tốt và thật trong các tôn giáo “như để chuẩn bị họ lãnh nhận Tin Mừng và như một hồng ân mà Đấng soi sáng mọi người ban cho, để cuối cùng họ được sống” (LG l6; x.NA 2; EN 53).
844 29
Nhưng trong nếp sống tôn giáo, con người có những giới hạn và những sai lầm làm méo mó hình ảnh Thiên Chúa :
“Bị ma quỷ gạt gẫm con người thường phán đoán sai lạc, đánh đổi chân lý của Thiên Chúa lấy giả dối khi phụng sự loài thụ tạo hơn là Đấng Sáng Tạo hoặc liều mình rơi vào sự thất vọng tột độ, khi sống chết như không có Thiên Chúa trên đời này” (LG l6).
845 3O 953 1219
Để qui tụ lại tất cả con cái đã bị tội lỗi làm tản mác và lạc lối, Chúa Cha muốn tập họp toàn thể loài người trong Hội Thánh của Chúa Con. Hội Thánh là nơi loài người tìm lại sự hiệp nhất và ơn cứu độ. Hội Thánh là “thế giới đã được hòa giải” (x.T. Âu-tinh, bài giảng 96,7,9). Hội Thánh là “con tàu vượt biển trần gian, theo chiều gió của Chúa Thánh Thần, dưới cánh buồm lộng gió là Thánh Giá của Đức Chúa” (x.T.Am-bô-rô-si-ô, bàn về đức trinh khiết l8,ll8). Theo một hình ảnh khác quen thuộc với các giáo phụ, Hội Thánh còn được tượng trưng bằng con tàu của Nô-e, con tàu duy nhất cứu loài người thoát nạn Hồng Thủy (x.1Pr 3,20-2l).
“Ngoài Hội Thánh không có ơn cứu độ”
846
Lời khẳng định này đã được các giáo phụ nhắc đi nhắc lại, chúng ta phải hiểu thế nào? Lời khẳng định có nghĩa tích cực là mọi ơn cứu độ đều phát xuất từ Đức Ki-tô là Đầu, chảy tràn qua Hội Thánh là Thân Thể của Người :

l6l l257
“Dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, Công Đồng dạy rằng : Hội Thánh lữ hành này cần thiết cho ơn cứu độ. Quả thế, chỉ một mình Đức Ki-tô là trung gian và là đường cứu độ; và Người hiện diện giữa chúng ta trong Thân Thể Người là Hội Thánh; chính Người đã minh nhiên công bố sự cần thiết của đức tin và phép rửa nên đồng thời Người đã xác nhận sự cần thiết của Hội Thánh mà mọi người phải bước vào qua cửa phép rửa. Vì thế, những ai biết rằng Hội Thánh Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Đức Giê-su Ki-tô, như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội Thánh này thì không thể được cứu độ” (LG l4).

847
Lời khẳng định này không nhắm tới những người, không vì lỗi mình mà không biết Đức Ki-tô và Hội Thánh của Người.
“Thực thế, những kẻ vô tình không nhận biết Tin Mừng của Chúa Ki-tô và Hội Thánh Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa, và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh Ý Thiên Chúa trong công việc mình theo sự hướng dẫn của lương tâm thì họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời (LG l6; x.DS 3866-3872).
848 l26O
Dù Thiên Chúa có thể dùng những đường lối chỉ mình Người biết, để đưa những kẻ không vì lỗi mình mà chưa biết Tin Mừng đến với đức tin, “vì không có đức tin thì không thể làm vui lòng Người” (x. Dt 11,6), nhưng Hội Thánh có bổn phận và đồng thời có quyền thiêng thánh rao giảng Tin Mừng”

(x. AG 7) cho tất cả mọi người.


Truyền giáo - Một đòi hỏi của tính công giáo
849 738, 767
Lệnh truyền giáo. “Được Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên “bí tích cứu độ phổ quát”, Hội Thánh, do những đòi hỏi căn bản của tính công giáo, và vì mệnh lệnh của Đấng Sáng Lập, nhất quyết loan báo Tin Mừng cho hết mọi người” (x. AG 7). “Vậy anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em để muôn dân trở nên môn đệ của Thầy. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,l9-20).
850 257 730
Nguồn gốc và mục đích của truyền giáo. Lệnh truyền giáo của Chúa bắt nguồn từ tình yêu vĩnh cửu của Ba Ngôi Chí Thánh : “Tự bản chất, Hội Thánh lữ hành phải truyền giáo, vì chính Hội Thánh bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, theo ý định của Chúa Cha” (x. AG.2). Mục đích tối hậu của việc truyền giáo là làm cho loài người hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Con trong Thánh Thần tình yêu (x. Gio-an Phao-lô II, RM.23) .
851 22l,429 74,2l7 890
Lý do của truyền giáo. Hội Thánh luôn nhận lấy bổn phận và nhiệt tình truyền giáo từ chính tình yêu Thiên Chúa đối với tất cả mọi người : “Vì tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi” (2 Cr 5,l4) (x. AA 6; RM 11). Quả thế, “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và đạt tới sự nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ nhờ nhận biết chân lý. Trong chân lý có ơn cứu độ. Những ai để cho Thần Chân Lý thúc đẩy thì đã ở trên đường cứu độ. Vì đã được ủy thác chân lý, Hội Thánh phải nắm bắt khát vọng của con người để mang chân lý đến cho họ. Vì tin vào ý định cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, nên Hội Thánh phải truyền giáo.
852 2040 2473
Những con đường truyền giáo. “Chúa Thánh Thần là người chủ xướng mọi công cuộc truyền giáo của Hội Thánh” (x. RM.2l), chính Người dìu dắt Hội Thánh trên các ne<150)o đường truyền giáo. “Hội Thánh tiếp tục và triển khai qua dòng lịch sử sứ mạng của chính Chúa Ki-tô, Đấng được cử đến rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Được Thánh Thần Chúa Ki-tô thúc đẩy, Hội Thánh cũng phải tiến bước trên chính con đường Chúa Ki-tô đã đi là nghèo khó, vâng lời, phục vụ và tự hiến cho đến chết, để rồi toàn thắng nhờ sự sống lại của Người” (x. AG 5). Chính như thế mà “máu các thánh tử đạo là hạt giống trổ sinh Ki-tô hữu” (Te-tu-li-a-nô, Hộ Giáo 50).

853 l428 2443


Nhưng trên đường lữ hành, Hội Thánh cũng kinh nghiệm rằng “có một khoảng cách giữa sứ điệp Hội Thánh phải rao giảng và sự yếu hèn của những con người được ủy thác Tin Mừng” (x. GS.43,6). Chỉ trên con đường “sám hối và canh tân” (x. LG.8; x.l5) và “qua cửa hẹp Thập Giá” (x. AG.l), Dân Thiên Chúa mới có thể mở rộng Nước Chúa Ki-tô (x. RM.l2-20). “Cũng như Chúa Ki-tô chỉ thực hiện công trình cứu chuộc trong nghèo khó và bị bách hại, Hội Thánh cũng được mời gọi dấn bước trên con đường ấy, để thông ban cho loài người những thành quả của ơn cứu độ” (LG 8).

854 2105 204


Do chính sứ mạng, “Hội Thánh đồng hành với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ số phận với thế giới. Hội Thánh như men và hồn của xã hội loài người. Xã hội này được mời gọi đổi mới trong Đức Ki-tô và trở thành gia đình của Thiên Chúa” (x. GS.40,2). Nỗ lực truyền giáo đòi hỏi sự kiên nhẫn. Nỗ lực đó bắt đầu bằng việc rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc và các nhóm người chưa tin vào Chúa Ki-tô (x. RM.42-47); tiếp đến là thiết lập những cộng đoàn Ki-tô hữu thật sự “là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa trên trần gian” (x. AG.l5) ; và thành lập những Giáo Hội địa phương (x. RM.48-49). Nỗ lực ấy phải dẫn đến một tiến trình hội nhập văn hóa, nhằm mục đích làm cho Tin Mừng nhập thể trong nền văn hóa các dân tộc (x. RM.52-54); công cuộc này cũng thường gặp thất bại. “Đối với con người các đoàn thể hay dân tộc, Hội Thánh chỉ tiếp xúc và thâm nhập dần dần và như thế đa<150)m nhận họ vào hưởng sự sung mãn công giáo” (AG 6).
855 82l
Sứ mạng của Hội Thánh mời gọi các Ki-tô hữu cố gắng tiến đến sự hiệp nhất (x. RM.50). “Sự chia rẽ giữa các Ki-tô hữu ngăn trở Hội Thánh thực hiện đầy đủ tính công giáo đặc thù của mình nơi những con cái đã chịu phép Thánh Tẩy, nhưng còn xa cách, chưa hoàn toàn thông hiệp với Hội Thánh. Hơn nữa, chính Hội Thánh cũng khó diễn tả đầy đủ tính công giáo của mình trong đời sống thực tế” (UR 4).
856 839 843
Nhiệm vụ truyền giáo bao hàm một sự đối thoại trân trọng với những ai chưa chấp nhận Tin Mừng (x. RM.55). Các tín hữu có thể tiếp nhận nhiều điều bổ ích cho mình từ cuộc đối thoại này nhờ học biết thêm “tất cả những gì là chân lý và ân sủng đã có nơi các dân tộc như một sự hiện diện thầm kín của Thiên Chúa” (x. AG.9). Các tín hữu rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết, là để củng cố, bổ túc, nâng cao sự thật và sự thiện mà Thiên Chúa đã loan truyền giữa loài người, giữa các dân tộc, cũng là để thanh luyện họ khỏi sự lầm lạc và sự dữ “để Thiên Chúa được vinh danh, quỷ dữ phải hổ thẹn,và loài người được hạnh phúc” (AG 9).
IV. HỘI THÁNH TÔNG TRUYỀN

857 75


Hội Thánh tông truyền vì được xây trên nền tảng các tông đồ, theo 3 nghĩa:
-Hội Thánh đã và đang được xây dựng trên “nền móng các tông đồ” (x. Ep.2,20; Kh.2l,l4), là những chứng nhân đã được chính Đức Ki-tô tuyển chọn và sai đi (x. Mt 28,l6-20; Cv l,8; ICr 9,l; l5,7-8; Gl l,l etc...);

l7l
-Hội Thánh với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần ở trong Hội Thánh, gìn giữ và lưu truyền giáo huấn (x. Cv 2,42), kho tàng quí báu, những lời lành mạnh do các tông đồ giảng dạy (x.2 Tim l, l3-l4);

88O, l575
-Hội Thánh tiếp tục được các tông đồ giảng dạy, thánh hóa và hướng dẫn cho đến khi Đức Ki-tô trở lại - nhờ những vị kế nhiệm các ngài trong nhiệm vụ mục tử : giám mục đoàn , “với sự trợ giúp của các linh mục, hiệp nhất với Đấng kế nhiệm thánh Phê-rô là mục tử tối cao của Hội Thánh” (AG.5).
“Lạy Cha hằng hữu, Cha không bỏ rơi đoàn chiên của Cha, nhưng nhờ các tông đồ, Cha vẫn luôn giữ gìn che chở. Cha còn hướng dẫn đoàn chiên đó nhờ các ngài là những vị lãnh đạo Cha đã đặt làm mục tử thay thế Con Cha” (x. MR lời tiền tụng các tông đồ I).
Sứ mạng của các tông đồ

858 55l 425 lO86


Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha cử đến với nhân loại. Ngay từ đầu sứ vụ, Người “kêu gọi những kẻ Người muốn chọn, và thành lập nhóm Mười Hai để các ngài ở với Người và để Người sai đi rao giảng” (x. Mc 3,l3-l4). Từ đó, các ngài là “những người được sai đi” (đó là ý nghĩa của từ Hy Lạp Apostoloi). Qua các ngài, Đức Ki-tô tiếp tục sứ mạng của Người : “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,2l) (x. l3,20; l7-l8). Như vậy, thừa tác vụ của các ngài “nối tiếp sứ mạng của Đức Ki-tô”. Chúa phán với nhóm Mười Hai : “Ai đón tiếp anh em, là đón tiếp Thầy” (Mt l0,40) (x. Lc l0,l6).
859 876
Đức Giê-su liên kết các tông đồ với sứ mạng Người nhận từ Chúa Cha : cũng như “Chúa Con không thể tự mình làm gì” ( x. Ga 5,l9.30), nhưng đón nhận tất cả từ Chúa Cha, Đấng đã cử Người đến, thì những người Đức Giê-su sai đi cũng không thể làm gì được nếu không có Người ( x. Ga l5,5), Đấng đã truyền lệnh và ban cho họ quyền năng để thực hiện sứ mạng. Vì thế, các tông đồ của Đức Ki-tô biết rằng họ đã được Thiên Chúa “ban cho làm thừa tác viên Giao Ước mới” ( x. 2Cr 3,6), “thừa tác viên của Thiên Chúa” ( x. 2Cr 6,4), “là sứ giả thay mặt Đức Ki-tô” ( x. 2Cr 5,20) ” là tôi tớ của Đức Ki-tô, là người ban phát các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1Cr 4,l).
860 642 765 l536
Trong nhiệm vụ các tông đồ, có một điều không thể truyền lại được : các ngài là chứng nhân được tuyển chọn cho cuộc Phục Sinh của Đức Giê-su và là nền móng của Hội Thánh. Nhưng cũng có một điều trường tồn: Đức Ki-tô đã hứa ở với các ngài cho đến tận thế ( x. Mt 28,20). “Sứ mạng của Thiên Chúa được Đức Ki-tô trao phó cho các tông đồ sẽ tồn tại cho đến tận thế, bởi vì Tin Mừng các ngài có nhiệm vụ rao truyền phải là lẽ sống của Hội Thánh cho đến trọn đời, cho đến tận cùng thời gian. Vì thế các tông đồ đã lo lắng đặt những người kế nhiệm mình” (LG 20).
Các giám mục kế nhiệm các tông đồ

861 77 lO87


“Để sứ mạng đã được ủy thác cho các ngài vẫn được tiếp tục sau khi các ngài qua đời, các tông đồ ủy thác, như một di chúc, cho các cộng sự viên trực tiếp của mình, phải hoàn tất nhiệm vụ và củng cố công trình các ngài đã khởi sự, khi khuyên nhủ họ coi sóc đoàn chiên, trong đó Chúa Thánh Thần đã đặt họ chăn dắt Hội Thánh Thiên Chúa. Bởi vậy, các ngài đặt những người như thế rồi ban quyền cho họ, hầu khi họ qua đời, đã có những người xứng đáng tiếp nhận thừa tác vụ của họ” (LG 20; x. T. Cơ-lê-men-tê I, Giáo hoàng, chú giải thư Cô-rin-tô 42;44).

862 88O l556


“Cũng như nhiệm vụ mà Chúa đã đích thân trao phó cho Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ và tiên liệu để truyền lại cho các vị kế nhiệm ông, nhiệm vụ đó phải thường tồn; thì cũng thế, nhiệm vụ trao cho các tông đồ chăn dắt Hội Thánh cũng phải thường tồn và được thi hành liên tục do thánh chức giám mục”. Vì thế, Hội Thánh dạy rằng : “Chính Chúa đã lập các Giám mục kế nhiệm các tông đồ làm mục tử Hội Thánh. Bởi vậy ai nghe các ngài là nghe Chúa Ki-tô, còn ai khinh dễ các ngài là khinh dễ Chúa Ki-tô và Đấng đã cử Chúa Ki-tô đến” (LG 20).
Việc tông đồ

863 900 2472


Toàn thể Hội Thánh có tính tông truyền vì hiệp thông trong đức tin và sự sống với nguồn cội của mình nhờ các vị kế nhiệm thánh Phê-rô và các tông đồ. Hội Thánh còn mang tính tông truyền vì “được sai đi” khắp thế gian; tất cả các phần tử của Hội Thánh mỗi người một cách đều được sai đi. “Ơn gọi Ki-tô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ”. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể nhằm “làm cho Nước Đức Ki-tô rộng mở trên khắp hoàn cầu” được gọi là “việc tông đồ” (AA 2).
864 828 824 l324

“Vì Chúa Ki-tô, Đấng được Chúa Cha cử đến, là nguồn mạch và là nguyên ủy của mọi việc tông đồ trong Hội Thánh”, nên kết quả phong phú của việc tông đồ, do các thừa tác viên có chức thánh cũng như của giáo dân, tùy thuộc vào sự kết hợp sống động của chính họ với Chúa Ki-tô ( x. Ga l5,5; AA.4). Việc tông đồ thật đa dạng tuỳ theo các ơn gọi, các nhu cầu thời đại, các ân huệ khác nhau của Chúa Thánh Thần. Nhưng đức ái được nuôi dưỡng đặt biệt nhờ bí tích Thánh Thể, luôn được xem là “linh hồn của mọi việc tông đồ” ( x. AA 3).


865 8ll, 54l

Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền trong căn tính sâu xa và tối hậu của mình, vì nơi Hội Thánh, Nước Trời đã hiện hữu và sẽ hoàn tất trong ngày tận thế. “Nước Trời” chính là “Triều Đại của Thiên Chúa” ( x. Kh l9,6), đã xuất hiện trong bản thân của Đức Ki-tô và đang lớn lên cách mầu nhiệm trong lòng của những ai được tháp nhập vào Người, cho đến khi Người được hiển linh trọn vẹn trong ngày sau hết. Lúc đó, tất cả mọi người đã được Người cứu chuộc, đã được “thánh hóa và trở nên tinh tuyền trước tôn nhan Thiên Chúa trong tình yêu” ( x. Ep l,4), sẽ được quy tụ thành Dân duy nhất của Thiên Chúa, “Hiền Thê của Con Chiên” ( x. Kh 2l,9), “Thành Thánh tự trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa” ( x. Kh 2l,l0-ll); và “tường thành xây trên mười hai nền móng, trên đó có tên mười hai tông đồ của Con Chiên” (Kh 21, 14).

TÓM LƯỢC

866
Hội Thánh duy nhất : Hội Thánh chỉ có một Chúa, tuyên xưng một đức tin, sinh bởi một Phép Rửa, họp thành một Thân Thể được Thánh Thần duy nhất làm sinh động, nhắm đến một niềm hy vọng duy nhất (x.Ep 4,3-5) sẽ kết thúc trong sự chấm dứt mọi chia rẽ.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương