Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang14/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   22

TÓM LƯỢC
656
Phục Sinh vừa là một biến cố lịch sử đươc các môn đệ chứng thực vì họ đã thực sự gặp Đấng Phục Sinh, vừa là biến cố siêu việt vì nhân tính của Đức Ki-tô đi vào trong vinh quang Thiên Chúa.
657
Ngôi mộ trống và những băng vải xếp ở đó nói lên rằng : nhờ quyền năng của Thiên Chúa, thân xác của Đức Ki-tô thoát khỏi xiềng xích sự chết và sự hư nát. Những chứng cứ trên chuẩn bị các môn đệ gặp gỡ Đấng Phục Sinh.
658
Đức Ki-tô, “trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại” (Cl 1,18), là nguyên lý sự sống lại của chúng ta: ngay trong hiện tại, Người công chính hóa linh hồn chúng ta (x.Rm 6,4), và sau này cho thân xác chúng ta được sống lại (x.Rm 8,11).


Mục 6
Đức Giê-su lên trời
ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng
659 645

66

697


642
“Nói xong, Chúa Giê-su được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa” (Mc 16,19). Thân xác Đức Ki-tô đã được vinh hiển ngay khi Người sống lại; điều này được chứng thực qua các đặc tính mới và siêu nhiên mà từ nay thân xác của Người được hưởng vĩnh viễn (x.Lc 24,31; Ga 20,19.26). Nhưng trong bốn mươi ngày, vinh quang của Người vẫn còn che giấu dưới dạng một con người bình thường ( x.Mc 16,12; Lc 24,15; Ga 20,14-15; 21,4). Người ăn uống thân mật với các môn đệ của Người (x.Cv 10,41) và dạy dỗ họ về Nước Trời (x.Cv 1,3). Lần hiện ra cuối cùng được kết thúc bằng việc nhân tính của Người đi vào vinh quang Thiên Chúa một cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây (x.Cv 1,9; Lc 9,34-35; Xh 13,22) và cõi trời (x. Lc 24,51) nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa (x.Mc 16,19; Cv 2,33; 7,36; Tv 110,1). Hoàn toàn ngoại lệ và độc nhất, chỉ một lần, Người tỏ mình ra cho thánh Phao-lô “chẳng khác nào cho một đứa trẻ sinh non” (1Cr15,8) trong lần cuối cùng này, Người đặt ông làm tông đồ (x.1Cr 9,1; Ga 1,16).
660
Vinh quang còn che giấu của Đấng Phục Sinh trong thời gian này được giải thích qua lời Người nói với bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na: “Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ : “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17). Điều này cho thấy sự khác biệt trong cách thể hiện, giữa vinh quang của Đức Ki-tô Phục Sinh và vinh quang của Đức Ki-tô được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Biến cố Thăng Thiên, vừa lịch sử vừa siêu việt, đánh dấu sự chuyển tiếp từ vinh quang này đến vinh quang kia.
661

792
Giai đoạn cuối cùng này vẫn liên kết mật thiết với giai đoạn đầu, nghĩa là khi Ngôi Hai từ trời xuống nhập thể. Chỉ Đấng “từ Chúa Cha mà đến” mới có thể “trở về cùng Chúa Cha": đó là Đức Ki-tô (Ga 16, 28). “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13) (x. Ep 4, 8-10). Với sức tự nhiên, nhân loại không thể vào được “Nhà Cha” (Ga 14,2), vào sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa. Chỉ Đức Ki-tô mới có thể mở lối cho con người : “Người lên trời không phải để lìa xa chúng ta là những kẻ yếu đuối, nhưng vì là Đầu và là thủ lãnh của chúng ta, nên Người đã lên trước, để chúng ta là những chi thể của Người vững niềm tin tưởng cũng sẽ được lên theo” (MR. Tiền tụng lễ Thăng thiên).


662

1545


1137
“Phần tôi, một khi được đưa lên khỏi đất, tôi sẽ kéo mọi người đế<131)n với tôi” (Ga 12,32). Việc đưa lên thập giá mang ý nghĩa biểu hiện và báo trước việc “đưa lên” trong mầu nhiệm Thăng Thiên. Thập Giá là bước đầu của Thăng Thiên. Đức Giê-su Ki-tô, vị Thượng Tế duy nhất của Giao Ước mới và vĩnh cửu, đã chẳng “vào một cung thánh do tay người phàm làm ra, ... nhưng Người đã vào chính cõi trời, để giờ đây ra đứng trước mặt Thiên Chúa, mà chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 9, 24). Trên trời, Đức Ki-tô liên tục thực thi chức tư tế của Người, “Người hằng sống để chuyển cầu cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa” (Dt 7, 25). Với tư cách “Thượng Tế đem lại phúc lộc của thế giới tương lai” (Dt 9,11), Người là trung tâm và là chủ tế của Phụng Vụ tôn vinh Chúa Cha trên trời (x. Kh 4,6-11).
663
648
Từ nay, Đức Ki-tô, ngự bên hữu Chúa Cha : “Ngự bên hữu Chúa Cha nghĩa là hưỡng vinh quang và danh dự của Thiên Chúa; Con Thiên Chúa đã hiện hữu từ muôn thuở như Thiên Chúa và đồng bản thể với Chúa Cha, nay đang ngự trong vinh quang và danh dự này cùng với thân xác được tôn vinh (T. Gioan Đa-mát 0.4.2)”.
664 541
Việc Đức Ki-tô ngự bên hữu Chúa Cha khai mạc triều đại Đấng Mê-si-a, thực hiện thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en về Con Người : “Người được trao cho quyền thống trị, vinh quang và vương quốc; mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phụng sự Người. Vương Triều của Người vĩnh cửu, không bao giờ mai một; Vương Quốc của Người sẽ vô cùng vô tận” (Đn 7,14). Kể từ lúc ấy, các tông đồ trở thành chứng nhân cho “Triều Đại không bao giờ chấm dứt” (Kinh Tin Kính Ni-xê Con-tan-ti-nô-pô-li).

TÓM LƯỢC


665
Đức Ki-tô lên trời nghĩa là nhân tính của Người vĩnh viễn đi vào thượng giới của Thiên Chúa. Từ nơi đó, Người sẽ trở lại (x.Cv 1,11). Giữa Thăng Thiên và Tái Lâm, loài người không trông thấy Người được (x.Cl 3,3).

666
Đức Giê-su Ki-tô, Đầu của Hội Thánh, đi trước chúng ta vào Vương Quốc vinh hiển của Chúa Cha, để chúng ta là chi thể của Thân Thể Người, sống trong niềm hy vọng một ngày kia được ở vĩnh viễn với Người.


667
Đức Giê-su Ki-tô đã vĩnh viển đi vào cung thánh trên trời. Người không ngừng chuyển cầu cho chúng ta như là Đấng trung gian bảo đảm sẽ luôn ban tràn đầy Thánh Thần cho chúng ta.
Mục 7
“Ngày sau bởi trời, (Người) lại xuống phán xét
kẻ sống và kẻ chết”
I. NGƯỜI SẼ TRỞ LẠI TRONG VINH QUANG
Đức Ki-tô đã hiển trị qua Hội Thánh...
668

450


518
“Đức Ki-tô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,9). Đức Ki-tô lên trời cùng với cả nhân tính, thông phần vào quyền năng và uy quyền của chính Thiên Chúa. Đức Giê-su Ki-tô là Chúa : Người nắm mọi quyền bính trên trời dưới đất. Người “vượt trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được” vì Chúa Cha “đã đặt tất cả dưới chân Người” (Ep 1,20-22). Đức Ki-tô là Chúa vũ trụ (.x.Ep 4,10; Cr 15,24.27-28) và lịch sử. Nơi Người, lịch sử loài người cũng như toàn thể công trình sáng tạo “được thu tóm” (Ep 1,10) và hoàn tất một cách siêu việt.
669 792,1088

541
Đức Ki-tô là Chúa và cũng là Đầu Hội Thánh, Thân Thể của Người (x.Ep 1,22). Sau khi chu toàn sứ mạng, Đức Ki-tô được đưa lên trời và được tôn vinh, nhưng vẫn lưu lại trần thế trong Hội Thánh. Công trình cứu chuộc là nguồn mạch quyền bính mà Đức Ki-tô thực thi trên Hội Thánh bằng sức mạnh Thánh Thần (x.Ep 4,11-13). “Triều Đại của Đức Ki-tô hiện diện một cách bí nhiệm trong Hội Thánh”, “mầm mống và khởi điểm Nước Trời tại thế “(LG 3,5).


670

1042 825


547
Từ khi Đức Ki-tô lên trời, ý định của Thiên Chúa bước vào giai đoạn hoàn thành. Chúng ta đang sống trong “giờ cuối cùng” (1 Ga 2,18; 1 Pr 4,7). “Như thế thời đại cuối cùng đã đến với chúng ta. Việc canh tân thế giới được thiết lập một cách bất khả thu hồi và thực sự đã bắt đầu được thực hiện ngay từ bây giờ : Hội Thánh lữ hành đã được trang điểm bằng sự thánh thiện đích thực, tuy chưa hoàn toàn” (LG 48). Các dấu lạ điềm thiêng (x. Mc 16,17-18) xác nhận lời rao giảng của Hội Thánh, minh chứng triều đại Đức Ki-tô đã hiện diện (x. Mc 16,20).
...trong khi chờ đợi muôn loài qui phục Người
671

1043 769, 773


1043, 2046

2817
Tuy đã hiện diện trong Hội Thánh, nhưng triều đại của Đức Ki-tô chưa được hoàn tất “một cách đầy quyền năng và vinh hiển” (Lc 21,27) ( x.Mt 25,31), vì Người chưa ngự giá mây trời mà đến. Triều đại này còn bị các thế lực sự dữ tấn công (x. 2 Th 2,7), cho dù cơ bản chúng đã bị chính Đức Ki-tô đánh bại. Cho đến khi muôn loài qui phục Người (x.1Cr 15,28), “cho tới khi có trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị, Hội Thánh lữ hành mang khuôn mặt chóng qua của đời này, qua các bí tích và định chế là những điều thuộc thời đại này. Và Hội Thánh vẫn sống giữa các thụ tạo tới nay còn rên siết và quằn quại trong cơn đau đớn lúc sinh nở, và mong đợi con cái Thiên Chúa xuất hiện” (LG 48).Vì vậy, các tín hữu cầu xin Đức Ki-tô mau trở lại (2Pr,11-12)nhất là trong cử hành Thánh Thể (1Cr 11,26) : “Lạy Chúa, xin ngựđến ! ” (1 Cr 16, 22; Kh 22,17.20).


672 732 2612
Trước khi lên trời, Đức Ki-tô khẳng định rằng chưa đến giờ Người thiết lập Triều Đại Mê-si-a vinh hiển mà Ít-ra-en mong đợi (x. Cv 1,6-7). Theo lời các ngôn sứ (x. Is 11,1-9), triều đại này sẽ mang lại cho mọi người đầy tràn tình thương, công lý và bình an. Theo Đức Ki-tô, thời hiện tại là thời của Thánh Thần và của chứng nhân (x. Cv 1,8), cũng là thời Hội Thánh gặp nhiều “thống khổ” (1Cr 7,26), thử thách (x.1 Pr 4,17) và chiến đấu (x.Ep 5,16)trong những ngày cuối cùng ( x.1Ga 2,18; 4,3; 1Tm 4,1). Đây là thời gian chờ đợi và canh thức (x. Mt 25,1-13; Mc 13,33-37).
Đức Ki-tô quang lâm vinh hiển, niềm hy vọng của Ít-ra-en
673 1040 1048
Từ khi Đức Ki-tô lên trời, ngày quang lâm vinh hiển của Người luôn gần kề (x.Kh 22,20), mặc dù chúng ta “không biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt” (Cv 1,7) (x. Mc 13,32). Cho dù ngày quang lâm và “những thử thách cuối cùng phải xảy ra trước đó” (2 Th 2,3-12) (x. Mt 24,44; 1Th 5,2) còn được Thiên Chúa “cầm giữ ” lại, ngày quang lâm vẫn có thể xảy ra bất cứ lúc nào .
674 840 58
Đấng Mê-si-a quang lâm vinh hiển ( x. Rm 11,31) đến lúc nào là tùy thuộc vào việc “toàn thể Ít-ra-en” (Rm 11,26; Mt 23,39) nhận biết Người. Nhưng hiện nay “một phần dân Ít-ra-en còn cứng lòng” (Rm 11,25)"họ không tin"(Rm 11,20) Đức Giê-su. Thánh Phê-rô nói với người Do Thái ở Giê-ru-sa-lem sau lễ Hiện Xuống : “Anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xóa bỏ tội lỗi cho anh em. Như vậy, thời kỳ thảnh thơi mà Chúa ban cho anh em sẽ đến, khi Người sai Đấng Ki-tô Người đã dành cho anh em, là Đức Giê-su đến. Đức Giê-su còn phải được giữ lại trên trời cho đến thời phục hồi vạn vật, thời mà Thiên Chúa đã dùng miệng các vị thánh ngôn sứ của Người mà loan báo tự ngàn xưa” (Cv 3,19-21). Thánh Phao-lô cũng phụ họa : “Nếu vì họ bị gạt ra một bên mà thế giới được hòa giải với Thiên Chúa, thì việc họ được thâu nhận lại sẽ là gì, nếu không phải là từ cõi chết bước vào cõi sống?” (Rm 11,15). Việc “người Do Thái trở về đông đủ” (Rm 11,12) trong ơn cứu độ của Đấng Mê-si-a, sau khi các dân ngoại gia nhập đông đủ (x. Rm 11,25; Lc 21,24 ), sẽ làm cho dân Chúa “đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô ” (Ep 4,13) trong đó “Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài “(1 Cr 15,28).
Thử thách tối hậu của Hội Thánh
675 769
Trước khi Đức Ki-tô quang lâm, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng khiến nhiều tín hữu bị lung lạc đức tin ( x. Lc 18,8; Mt 14,12). Những cuộc bách hại mà Hội Thánh phải chịu trong suốt cuộc lữ hành trên trần thế (x. Lc 21,12; Ga 15,19-20) sẽ vạch trần “mầu nhiệm sự dữ” dưới hình thức bịp bợm tôn giáo; hình thức này chỉ đem lại cho con người một giải đáp giả tạo cho các vấn đề của họ để rồi họ phải xa rời chân lý. Sự bịp bợm tôn giáo nham hiểm nhất là sự bịp bợm của tên Phản Ki-tô, nghĩa là của một thuyết Mê-si-a giả hiệu : trong đó, con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Đấng Mê-si-a của Người đã đến trong xác phàm ( x. 2Th 2, 4-12; 1Th 5,2-3; 2Ga 7; 1Ga 2,18.22).
676 2425
Sự bịp bợm phản Ki-tô đó hiện hình trong thế giới, mỗi khi người ta tự hào sẽ thực hiện được, trong lịch sử, niềm hy vọng thời Mê-si-a vốn chỉ có thể hoàn tất bên kia lịch sử qua cuộc phán xét cánh chung. Hội Thánh cũng không chấp nhận thứ Nước Trời giả mạo dù dưới hình thức hiền hòa Thuyết Ngàn Năm (DS 3839) hoặc dưới dạng chính trị của một thuyết Mê-si-a trần tục, “tai ác tự bản chất ” (Pi-ô XI, Thông điệp “Thiên Chúa Đấng cứu chuộc ” ; GS 20-21.).
677 1310 2853
Hội Thánh chỉ bước vào vinh quang Nước Trời sau cuộc Vượt Qua cuối cùng, theo gót Chúa mình trong cái chết và Phục Sinh (x. Kh 19,1-9). Nước Trời sẽ không được thực hiện bằng việc Hội Thánh tiến tới và khải hoàn trong lịch sử (x. Kh 13,8), nhưng do Thiên Chúa chiến thắng cơn hoành hành cuối cùng của sự dữ (x. Kh 20, 7-10), làm cho Giê-ru-sa-lem mới từ trời xuất hiện (x. Kh 21, 2-4). Sau cơn rung chuyển cuối cùng trong toàn vũ trụ của thế giới đang qua đi này, (x. 2 Pr 3,11-12), Thiên Chúa sẽ toàn thắng cuộc nổi loạn của sự dữ dưới hình thức cuộc Phán Xét cuối cùng (x. Kh 20,12).
1038-1041
II. ĐỨC KI-TÔ PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT
678 1470
Tiếp nối các ngôn sứ (x. Đn 7,10; Ge 3,4; Ml 3,19) và Gio-an Tẩy giả ( x. Mt 3,7-12), Đức Giê-su cũng loan báo về cuộc phán xét trong Ngày cuối cùng. Lúc bấy giờ cách ăn nết ở (x. Mc 12,38-40) và bí ẩn trong tâm hồn mỗi người (x. Lc 12,1-3; Ga 3,20-21; Rm 2,16; 1Cr 4,5) sẽ được tỏ lộ. Tội cứng lòng tin, coi thường ân sủng của Thiên Chúa sẽ bị kết án (x. Mt 11,20-24; 12,41-42). Thái độ đối với đồng loại sẽ cho thấy người ta đón nhận hay từ chối ân sủng và tình yêu Thiên Chúa (x. Mt 5,22; 7,1-5). Đức Giê-su sẽ phán: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
679 1021
Đức Ki-tô là Chúa của sự sống vĩnh cửu. Với tư cách là Đấng Cứu Thế, Người có toàn quyền xét xử chung cuộc công việc và lòng dạ con người. Người “có được” quyền này nhờ Thập Giá. Cho nên Chúa Cha “đã ban cho Con mọi quyền xét xử” (Ga 5,22) (x. Ga 5,27; Mt 25,31; Cv 10,42; 17,31; 1Tm 4,1). Nhưng Chúa Con không đến để xét xử, mà để cứu độ (x. Ga 3,17) và thông ban sự sống của Người(x. Ga 5,26). Ai chối từ ân sủng ngay ở đời này, thì đã tự xử lấy chính mình (x. Ga 3,18;12,48), tự nhận lấy hậu quả công việc của mình (x. 1Cr 3,12-15), và có thể tự chuốc lấy án phạt đời đời, vì từ chối Thánh Thần tình yêu. (x. Mt 12,32; Dt 6,4-6; 10,26-31.)
TÓM LƯỢC
680
Chúa Ki-tô đã bắt đầu hiển trị qua Hội Thánh, nhưng muôn loài chưa qui phục Người. Cuộc toàn thắng của Vương Quốc Đức Ki-tô sẽ chỉ đến sau cuộc tấn công cuối cùng của các thế lực sự dữ.
681
Trong ngày phán xét cuối cùng, Đức Ki-tô sẽ đến trong vinh quang để hoàn tất cuộc chiến thắng tối hậu của sự lành trên sự dữ, mặc dù trong suốt lịch sử, chúng cùng phát triển như lúa tốt và cỏ lùng.
682
Khi đến phán xét kẻ sống và kẻ chết trong ngày tận thế, Đức Ki-tô vinh hiển sẽ phơi bày mọi tâm tư thầm kín và thưởng phạt mỗi người theo việc họ làm, tùy họ đón nhận hay từ chối ân sủng. __

CHƯƠNG BA


TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN
683 424,2670, 152
“Nếu không được Thánh Thần giúp sức cho, không ai có thể nói rằng : Giê-su là Đức Chúa !” (1Cr 12,3). “Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên : “Ab-ba, Cha ơi!” (Ga 4,6). Nhận thức đức tin này chỉ có thể có được trong Thánh Thần. Muốn tiếp xúc với Đức Ki-tô, trước hết phải được Thánh Thần cảm hóa. Chính Chúa Thánh Thần đến gặp gỡ và khơi động đức tin nơi chúng ta. Nhờ phép Thánh Tẩy là bí tích đức tin đầu tiên, Sự Sống, bắt nguồn nơi Chúa Cha, được Chúa Con đem đến, và được Thánh Thần thông truyền cho chúng ta một cách thâm sâu và cá vị trong Hội Thánh :
249
Bí tích Thánh Tẩy ban cho chúng ta ơn tái sinh trong Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Vì những ai mang trong lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, họ được dẫn đến với Ngôi Lời, nghĩa là Ngôi Con; Chúa Con dâng họ cho Chúa Cha và Chúa Cha ban cho họ sự sống bất diệt. Vậy không có Thánh Thần thì không thể thấy Con Thiên Chúa; không có Chúa Con, không ai có thể đến gần Chúa Cha, vì chỉ có Chúa Con nhận biết Chúa Cha, và nhận biết Chúa Con là nhờ Chúa Thánh Thần (T. I-rê-nê, trình bày đức tin tông truyền 7).
684 236
Bằng ân sủng, Chúa Thánh Thần đến trước nhất để khơi dậy đức tin của chúng ta và khơi nguồn sự sống mới là “Nhận biết Chúa Cha và Đấng Cha đã cử đến là Đức Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3). Tuy nhiên trong Ba Ngôi Chí Thánh, Người lại được mặc khải sau cùng. Thánh Ghê-gô-ri-ô Na-di-en, được người đương thời gọi là “nhà thần học”, giải thích tiến trình mặc khải này bằng đường lối sư phạm “hạ cố “của Thiên Chúa :
Cựu Ước công bố tỏ tường về Chúa Cha, chưa rõ nét về Chúa Con. Tân Ước trình bày về Chúa Con, và cho thoáng thấy thiên tính của Chúa Thánh Thần. Bây giờ, Chúa Thánh Thần đang ở giữa chúng ta và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Người. Có thể nói : thật là thiếu khôn ngoan khi chưa tuyên xưng Chúa Cha là Thiên Chúa, lại công bố rõ ràng về Chúa Con; khi chưa chấp nhận Chúa Con là Thiên Chúa lại nói thêm về Chúa Thánh Thần. Ánh sáng của mầu nhiệm Ba Ngôi ngày càng thêm rạng rỡ nhờ những mặc khải tiệm tiến “từ vinh quang này đến vinh quang khác” (T.Ghê-gô-ri-ô Na-di-en l.5,26).
685 236
Như thế tin kính Chúa Thánh Thần là tuyên xưng : Chúa Thánh Thần là một trong Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, “cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con” (Kinh tin kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li). Bởi đã bàn về Mầu nhiệm Chúa Thánh Thần trong thần học về Ba Ngôi, ở đây chỉ bàn về Thánh Thần trong “nhiệm cục cứu độ” thôi.
686 258
Chúa Thánh Thần cùng hoạt động với Chúa Cha và Chúa Con từ khởi đầu cho đến lúc hoàn tất ý định cứu độ chúng ta. Nhưng chính trong “thời sau hết”, được khai mạc với cuộc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, Chúa Thánh Thần mới được mặc khải và thông ban, được nhìn nhận và đón tiếp như một ngôi vị. Được hoàn tất trong Đức Ki-tô, “Trưởng Tử” và Đầu của công trình sáng tạo mới, ý định cứu độ của Thiên Chúa được thành hình cụ thể trong nhân loại nhờ việc thông ban Chúa Thánh Thần : Hội Thánh, sự hiệp thông trong dân thánh, ơn tha tội, xác phàm sẽ sống lại, sự sống đời đời.
Mục 8
“Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần”
687 243
“Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa” (1Cr 2,11). Thánh Thần mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa, biết Đức Ki-tô là Ngôi Lời hằng sống, nhưng Thánh Thần lại không nói về mình. Thánh Thần đã “dùng các ngôn sứ mà phán dạy”, để giúp chúng ta nghe được lời của Chúa Cha. Nhưng còn chính Người, chúng ta lại không nghe tiếng Người, chúng ta chỉ nhận biết Người qua việc Người mặc khải và chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận Ngôi Lời bằng đức tin. Thánh Thần Chân Lý “vén màn cho ta thấy” Đức Ki-tô, nhưng “không nói điều gì về mình” (Ga 16,13). Một kiểu xóa mình như vậy, đúng là phong cách của Thiên Chúa, giải thích tại sao, “thế gian không thể đón nhận Người, vì thế gian không thấy và không biết Người”, còn những ai tin vào Đức Ki-tô thì biết Người vì Người ở lại với họ (Ga 14,17).
688
Vì là sự hiệp thông sống động trong đức tin các tông đồ do Hội Thánh lưu truyền, nên Hội Thánh là nơi chúng ta nhận biết Thánh Thần :
-trong Thánh Kinh được Người linh hứng;
-trong Thánh Truyền, mà các giáo phụ là những chứng nhân cho mọi thời đại.
-trong Huấn Quyền được Người trợ lực
-trong Phụng Vụ Bí Tích mà qua các lời nói và biểu tượng, Thánh Thần giúp chúng ta hiệp thông với Đức Ki-tô.
-trong kinh nguyện, lúc Người chuyển cầu cho chúng ta.
-trong các đặc sủng và thừa tác vụ xây dựng Hội Thánh.
-trong các dấu chỉ của đời sống tông đồ và thừa sai.
-trong chứng từ của các thánh nơi Người biểu lộ sự thánh thiện của Người và tiếp tục công trình cứu độ.
I. SỨ MẠNG PHỐI HỢP CỦA CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN
689 245 254 485
Chúa Cha đã ban Thánh Thần của Con Một Người đến trong lòng chúng ta. Thánh Thần (x. Gl 4.6) thực sự là Thiên Chúa. Đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Con, Người không tách rời khỏi Chúa Cha và Chúa Con, trong đời sống thâm sâu của Ba Ngôi cũng như trong hồng ân yêu thương của Ba Ngôi dành cho thế giới. Nhưng khi tôn thờ Ba Ngôi Thiên Chúa ban sự sống, đồng bản thể và không thể phân ly, Hội Thánh cũng tuyên xưng Ba Ngôi phân biệt nhau. Khi Chúa Cha cử Lời của Người đến với chúng ta, Người luôn luôn gởi đến “Hơi Thở” của Người nữa : một sứ mạng phối hợp trong đó Chúa Con và Chúa Thánh Thần phân biệt, nhưng không tách rời nhau. Chúa Ki-tô xuất hiện, Người là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình, nhưng chính Thánh Thần mặc khải Chúa Ki-tô cho chúng ta.
690 436 788
Đức Giê-su là Ki-tô, nghĩa là Đấng được “xức dầu”. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần mà xức dầu cho Người nên mọi sự xảy đến kể từ Nhập Thể đều xuất phát từ nguồn mạch sung mãn này (x. Ga 3,34). Khi cuối cùng được tôn vinh (x. Ga 7,39), Đức Ki-tô đến lượt mình, có thể cử Thánh Thần từ nơi Chúa Cha đến với những ai tin Người. Người thông ban cho họ Vinh Quang của mình (x. Ga 17,22) tức là Thánh Thần, Đấng tôn vinh Người (x. Ga 16,14). Từ lúc đó, sứ mạng phối hợp này sẽ được triển khai nơi những người được Chúa Cha đón nhận làm con trong thân thể Con của Người : Sứ mạng của Thánh Thần, Đấng làm cho con người thành nghĩa tử, là kết hiệp họ với Đức Ki-tô và làm cho họ sống trong Người.

488
Khái niệm về xức dầu gợi lên không có khoảng cách nào giữa Ngôi Con và Thánh Thần. Cũng như lý trí và giác quan không nhận thấy khoảng cách nào giữa da thịt và việc xức dầu, thì việc tiếp xúc giữa Chúa Con và Chúa Thánh Thần cũng trực tiếp như vậy, đến nổi những kẻ tiếp xúc với Chúa Con bằng đức tin, cần phải tiếp xúc với Thánh Thần trước đã. Toàn thân Đức Ki-tô được xức bằng dầu là Thánh Thần. Do đó, ai tuyên xưng Ngôi Con là Chúa, thì tuyên xưng trong Thánh Thần, vì Thánh Thần luôn đi trước những người muốn tiến đến gần Đức Ki-tô bằng đức tin (T.Ghê-gô-ri-ô thành Nít-xê 3,1)<131).


II. DANH XƯNG, CÁC CÁCH GỌI VÀ CÁC BIỂU TƯỢNG CỦA CHÚA THÁNH THẦN
Danh xưng Chúa Thánh Thần
691
“Thánh Thần” là danh xưng của Đấng chúng ta phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Hội Thánh đã nhận danh xưng này từ Chúa Giê-su và tuyên xưng danh này trong bí tích rửa tội (x. Mt.28,19).
Thuật ngữ “Thần” dịch từ Ru-ah của tiếng Hip-ri, là hơi thở, không khí, gió. Đức Giê-su dùng hình ảnh khả giác “gió” để gợi ý cho Ni-cô-đê-mô sự mới mẻ siêu việt của Đấng là Hơi Thở của Thiên Chúa, là Chúa Thánh Thần (Ga 3,5-8). Đàng khác, “Thần” và “Thánh” là những thuộc tính thần thiêng chung cho Ba Ngôi Thiên Chúa. Nhưng khi nối kết hai từ này với nhau, Thánh Kinh, Phụng Vụ và ngôn ngữ thần học muốn chỉ ngôi vị khôn tả của Chúa Thánh Thần, mà không lẫn lộn với các cách sử dụng khác về các từ “thần” và “thánh”.
Những cách gọi Chúa Thánh Thần
692 1433
Khi Đức Giê-su loan báo và hứa Chúa Thánh Thần sẽ đến, Người gọi Thánh Thần là Đấng “Bảo Trợ”, theo nguyên ngữ là: “Đấng được gọi đến kề bên” (Ga 14,16.26; 15,26; 16,7). “Đấng Bào Chữa” thường được dịch là “Đấng An Ủi”, vì Đức Giê-su là Đấng An ủi trước nhất (x.1Ga 2,1). Chính Chúa Giê-su còn gọi Thánh Thần là “Thần Chân Lý” (Ga 16,13).
693
Ngoài danh xưng “Chúa Thánh Thần”, được dùng nhiều nhất trong sách Công Vụ Tông Đồ và các Thánh Thư, ta còn thấy những cách gọi khác nơi thánh Phao-lô: Thần Khí của Lời hứa (x. Gl 3,14; Ep 1.13), Thần Khí làm cho ta nên nghĩa tử (x. Rm 8,15; Gl.4,6), Thần Khí của Đức Ki-tô (x. Rm 8,11), Thần Khí của Đức Chúa (x. 2 Cr 3,17), Thần Khí của Thiên Chúa (x. Rm 8,9.14; 15,19; 1 Cr 6,11; 7,40); và nơi thánh Phê-rô: “Thần Khí vinh hiển” (1 Pr 4,14).
Những biểu tượng về Chúa Thánh Thần
694 1218 2652
Nước : trong bí tích Thánh Tẩy, nước là một biểu tượng đầy ý nghĩa về tác động của Thánh Thần, vì sau khi kêu cầu Thánh Thần, nước trở thành dấu bí tích hữu hiệu của việc tái sinh : như trong lòng mẹ, chúng ta được cưu mang trong nước; nước rửa tội thực sự nói lên rằng cuộc tái sinh vào đời sống Thiên Chúa được ban trong Thánh Thần. Vì “đã chịu phép rửa trong cùng một Thánh Thần”, nên chúng ta “đầy tràn một Thánh Thần duy nhất” (1Cr 12,13). Chính Thánh Thần là Nước trường sinh chảy ra từ cạnh sườn Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá (x. Ga 19,34; 1Ga.5,8), và chảy thành sự sống đời đời trong lòng chúng ta (x. Ga 4,10.14; 7,38; Xh 17,1-6; Is.55,1; Dcr 14,8; 1Cr 10,4; Kh 21,6; 22,17).
695 1293 436 1504 794

Xức dầu : Biểu tượng xức dầu cũng chỉ về Thánh Thần, đến nỗi trở thành đồng nghĩa với Thánh Thần (x. 1Ga 2,20,27; 2 Cr,1,21). Trong nghi thức khai tâm Ki-tô giáo, xức dầu là dấu bí tích của phép Thêm Sức; các Giáo Hội Đông Phương gọi là “Xức dầu thánh hiến”. Nhưng muốn hiểu rõ, chúng ta phải trở về với việc xức dầu của Đức Giê-su, việc xức dầu đầu tiên do Chúa Thánh Thần thực hiện. “Ki-tô” (tiếng Hip-ri là “Mê-si-a") nghĩa là “được Thánh Thần Thiên Chúa xức dầu”. Cựu Ước (x. Xh 30,22-32) nói đến những người được Thiên Chúa xức dầu, nổi bật nhất là Vua Đavit (x. 1Sm 16,13). Nhưng Đức Giê-su là Đấng được Thiên Chúa xức dầu cách độc nhất vô nhị : nhân tính do Ngôi Con đảm nhận “được Thánh Thần xức dầu” trọn vẹn. Đức Giê-su được Thánh Thần (x. Lc.4,18-19; Is.61,1) đặt làm “Ki-tô”. Đức Trinh Nữ Ma-ri-a thụ thai Đức Ki-tô nhờ tác động Thánh Thần; khi Ngôi Lời giáng sinh (x. Lc 2,11), Thánh Thần dùng các thiên thần loan báo Người là Đức Ki-tô và thúc đẩy ông Xi-mê-on đến đền thờ gặp Đấng Ki-tô Thiên Chúa đã hứa ( x. Lc.2,26-27). Đức Ki-tô (x. Lc.4,1) đầy Thánh Thần,và nhờ quyền năng Thánh Thần, Người chữa lành và cứu độ (x. Lc 6,19;8,46). Cuối cùng chính Thánh Thần làm cho Đức Giê-su từ cõi chết sống lại (x. Rm.1,4; 8,11). Khi Đức Giê-su trở thành “Ki-tô” trọn vẹn trong nhân tính đã toàn thắng sự chết (x. Cv.2,36), Người ban đầy tràn Thánh Thần cho các thánh “để nhờ kết hợp với nhân tính của Người, họ trở thành “Con người hoàn ha<150)o..., đạt tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep.4,13), thành “Đức Ki-tô toàn diện” theo cách nói của Thánh Âu-tinh.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương