Giáo lý HỘi thánh công giáO


Đức Giê-su hấp hối trong vườn Giết-sê-ma-ni



tải về 3.06 Mb.
trang13/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   22
Đức Giê-su hấp hối trong vườn Giết-sê-ma-ni
612 533,2600 1009
Chén Giao Ước mới mà Đức Giê-su đã dâng trước trong bữa Tiệc Ly, giờ đây, Người lãnh nhận từ tay Cha trong cơn hấp hối tại Giết-sê-ma-ni (x.Mt 26,42), khi Người “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8; Dt 5,7-8). Đức Giê-su cầu nguyện : “Lạy Cha, nếu được, xin cho con khỏi uống chén đắng này...” (Mt 26,39). Người diễn tả nỗi khiếp sợ mà nhân tính của Người cảm nghiệm trước cái chết. Thật vậy, nhân tính của Đức Giê-su cũng như của chúng ta được Thiên Chúa dựng nên để sống đời đời, nhưng khác với chúng ta, nhân tính này hoàn toàn không có tội (x.Dt 4,15), mà tội mới gây nên sự chết (x.Rm 5,12); nhất là nhân tính này đã được Ngôi Vị Thiên Chúa của “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), “Đấng hằng sống” (Kh 1,17) (x Ga 1,4;5,26) đảm nhận. Với ý chí nhân loại, Đức Giê-su chấp nhận thánh ý Chúa Cha ( x.Mt 26,42), đón nhận cái chết để cứu độ con người, nhờ đó “tội lỗi chúng ta, chính Người mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1Pr 2,24).
Đức Giê-su chịu chết làm hy lễ duy nhất và chung cuộc

613 1366 2009


Đức Ki-tô chịu chết vừa là hy tế Vượt Qua hoàn tất việc cứu độ chung cuộc loài người (x.1Cr 5,7; Ga 8,34-36)vì “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29) (x.1Pr 1,19), vừa là hy tế của Giao Ước Mới (x.1Cr 11,25) cho con người hiệp thông lại với Thiên Chúa ( x.Xh 24,8), bằng cách giao hòa con người với Thiên Chúa nhờ “máu được đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28) (x.Lv 16,15-16).
614 529,1330 2100
Hy tế của Đức Ki-tô là duy nhất, hoàn tất và vượt trên mọi hy tế (x.Dt 10,10). Trước hết hy tế này là một hồng ân của chính Chúa Cha : Chúa Cha phó nộp Con Mình để giao hòa chúng ta với Người (x.1 Ga 4,10). Kế đến, đây cũng là việc Chúa Con làm người, với ý chí tự do và vì mến yêu (x.Ga 15,13), hiến dâng mạng sống mình (x.Ga 10,17-18) cho Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần (x.Dt 9,14), để đền bù sự bất tuân của chúng ta.
Đức Giê-su thay thế sự bất tuân của chúng ta bằng sự vâng phục của Người
615 1850 433 411

“Cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người bị liệt vào hàng tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ được kể là công chính” (Rm 5,19). Nhờ vâng phục cho đến chết, Đức Giê-su đảm nhận hoàn toàn vai trò Người Tôi Tớ đau khổ, “hiến mạng sống mình làm Của lễ đền tội muôn dân”,"khi làm cho họ nên công chính bằng cách chính Người gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,10-12). Đức Giê-su đã đền bù và đền tạ thỏa đáng cho Chúa Cha vì tội lỗi của chúng ta (Cđ Tren-tô:DS 1529).


Đức Giê-su hoàn thành hy lễ của Người trên thập giá
616 478 468 519
Vì Đức Giê-su đã “yêu thương đến cùng” (Ga 13,1) nên hy tế của Người có giá trị cứu chuộc và đền bù, xá tội và đền tạ. Người biết và thương yêu hết thảy chúng ta trong việc hiến dâng mạng sống của Người (x.Ga 2,20; Ep. 5,2.25). “Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, khi chúng tôi nghĩ rằng : nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết” (2 Cr 5,14). Không ai, dù thánh thiện nhất, có thể gánh hết tội lỗi mọi người và hiến mình làm hy lễ cho mọi người. Vì là Con Thiên Chúa, Đức Ki-tô vừa vượt trổi vừa đồng thời bao gồm mọi người và là đầu toàn thể nhân loại, nên Người mới có thể dâng hy tế cứu chuộc mọi người.

617 1992 1235


Nhấn mạnh đến hy lễ duy nhất của Đức Ki-tô như “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu” (Dt 5,9), Công Đồng Tren-tô dạy (DS 1529) : “Nhờ cuộc khổ nạn trên cây thập giá, Đức Ki-tô công chính hoá chúng ta”. Và khi tôn kính Thánh Giá, Hội Thánh ca ngợi : “Ôi Thánh Giá, nguồn cậy trông duy nhất của chúng con !”
Đức Ki-tô cho chúng ta tham dự vào hy tế của Người

618 1368,1460 307,2100 964


Thánh Giá là hy tế duy nhất của Đức Ki-tô, “Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người” (1Tm 2,5). Nhưng, vì khi nhập thể, Con Thiên Chúa “đã kết hợp với tất cả mọi người” (GS 22,2), nên đã “ban cho mọi người khả năng được thông phần vào mầu nhiệm Vượt Qua cách nào đó chỉ có Chúa biết thôi” (GS 22,5). Người mời gọi môn đệ “vác thập giá mình mà theo Người” (Mt 16,24), vì “Người đã chịu đau khổ vì chúng ta, đã để lại một gương mẫu cho chúng ta dõi bước theo Người” (1 Pr 2,21). Thật vậy, Người muốn cho những kẻ đầu tiên được hưởng nhờ hy tế đó, cùng thông phần vào hy tế cứu độ của Người ( x. Mc 10,39; Ga 21,18-19; Cl 1,24). Điều ấy được thể hiện tột bực nơi Thân Mẫu của Người, Đấng đã thông phần vào mầu nhiệm đau thương cứu độ của Người mật thiết hơn ai khác (x. Lc 2,35):
Ngoài thập giá, không có chiếc thang nào khác để lên trời” (T. Rô-sa thành Li-ma,).
TÓM LƯỢC
619
Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh ” (1Cr 15,3)
620
Vì yêu mến, Thiên Chúa đã đi bước trước để cứu độ chúng ta. “Người đã yêu thương chúng ta, và cử Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người” (2Cr 5,19).
621
Đức Giê-su tự hiến để cứu độ chúng ta. Người cho thấy ý nghĩa và thể hiện trước sự tự hiến này trong bữa Tiệc Thánh : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22,19).
622
Đức Ki-tô cứu chuộc nhân loại bằng cách “hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), nghĩa là “thương yêu những kẻ thuộc về mình đến cùng” (Ga 13,1), để “giải thoát họ khỏi lối sống phù phiếm do cha ông họ truyền lại” (1Pr 1,18).
623
Nhờ yêu thương vâng phục Chúa Cha “đến nỗi chết trên cây thập giá” (Pl 2,8), Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng đền tội của Người Tôi Tớ đau khổ, “làm cho muôn người nên công chính bằng cách gánh lấy tội lỗi của họ” (Is 53,11; x.Rm 5,19).
Tiết 3:

Đức Giê-su Ki-tô được mai táng

624 1005, 362 349
“Đức Giê-su đã phải nếm sự chết, là để cho mọi người được cứu độ, nhờ ơn Thiên Chúa” (Dt 2,9). Trong ý định cứu độ, Thiên Chúa đã an bài cho Chúa Con không những “chết vì tội lỗi chúng ta” (1Cr 15,3), nhưng còn phải “nếm sự chết”, nghĩa là trải qua cái chết, trạng thái hồn và xác tách rời nhau, từ lúc Người tắt thở trên thập giá cho đến khi sống lại. “Đức Ki-tô trải qua cái chết” là mầu nhiệm trong việc Người được mai táng và xuống ngục tổ tông. Đó là mầu nhiệm được tưởng nhớ vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh : Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ (x.Ga 19,42) nói lên sự yên nghỉ ngày sa-bát vĩ đại của Thiên Chúa (x.Dt 4,4-9), sau khi hoàn tất việc cứu độ loài người (x.Ga 19,30) và đem lại bình an cho toàn thể vũ trụ (x.Cl 1,18-20).
Thân xác Đức Ki-tô được mai táng

625
Thời gian Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ thật sự nối kết tình trạng có thể chịu đau khổ trước phục sinh với tình trạng vinh hiển hiện tại của Đấng Phục Sinh. Chính Đấng “hằng sống” có thể nói : “Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18) :


Chúa Con đã để cho cái chết tách rời hồn khỏi xác, theo bản tính tự nhiên, nhưng Người đã kết hợp hồn với xác lại nhờ sự phục sinh, để ba<150)n thân Người trở thành giao điểm của sự chết và sự sống bằng cách ngăn chặn sự tan rã tự nhiên của thân xác do sự chết và trở thành nguyên lý hợp nhất của các phần đã bị tách rời (T. Ghê-rô<131)-ni-ô thành Nít-xê, sách giáo lý 16).
626 470, 650
Vì “Đấng khơi nguồn sự sống” mà người ta đã giết chết (Cv 3,15) cũng là “Đấng hằng sống đã phục sinh” (Lc 24,5-6), nên Ngôi Vị Thần Linh của Con Thiên Chúa vẫn tiếp nhận hồn và xác của Người bị cái chết tách rời:
Khi Đức Ki-tô chết, hồn đã lìa khỏi xác, nhưng ngôi vị duy nhất của Người không bị chia ra, vì ngay từ đầu nơi Ngôi Lời Nhập thể, xác và hồn hiện hữu ngang nhau; dù trong cái chết hồn xác tách rời nhau, nhưng vẫn ở với ngôi vị duy nhất của Ngôi Lời (T. Gio-an Da-mát 3,27).
”Chúa không để Đấng Thánh của Người phải hư nát”
627 1009 1683
Cái chết của Đức Ki-tô là cái chết thật sự, vì đã chấm dứt cuộc đời trần thế của Người. Nhưng bởi ngôi vị Chúa Con vẫn kết hợp với thân xác Người, nên thân xác ấy không trở thành một thi hài như trong những trường hợp khác, “vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi” (Cv 2,24). Do đó, quyền năng Thiên Chúa đã gìn giữ thân xác Người khỏi hư nát” (T. Tô-ma Aquino tổng luận thần học 3,51,3). Về Đức Ki-tô, người ta có thể nói : “Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh” (Is 53,8), và cũng có thể nói : “Cả thân xác con nghỉ ngơi trong niềm hy vọng rằng Chúa chẳng đành bỏ mặc hồn con trong cõi âm ty; cũng không để vị thánh của Ngài phải hư nát” (Cv 2,26-27) (x.Tv 16,9-10). Việc Đức Giê-su sống lại vào “ngày thứ ba” (1 Cr 15,4; Lc 24,46) (x.Mt 12,40; Gn 2,11; Hs 6,2) minh chứng điều ấy, vì theo quan niệm của người xưa, việc hư nát thường xảy ra từ ngày thứ tư (x.Ga 11,39).
“Cùng chịu mai táng với Đức Ki-tô...”

628 537 1215


Thuở ban đầu Hội Thánh ban bí tích Thánh Tẩy bằng cách dìm thụ nhân xuống nước. Hành động này có ý nghĩa là người Ki-tô hữu chết cho tội lỗi phải chịu mai táng cùng với Đức Ki-tô để sống một đời sống mới : “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cùng được mai táng với Đức Ki-tô. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,4) (x.Cl 2,12; Ep.5,26).

TÓM LƯỢC
629


Vì mọi người, Đức Giê-su đã nếm sự chết (x.Dt 2,9). Chính Chúa Con làm người đã chết và đã được mai táng.
630
Trong thời gian Đức Ki-tô nghỉ yên trong mồ, Ngôi Vị Thiên Chúa của Người vẫn tiếp nhận hồn và xác bị cái chết tách rời. Đó là lý do thân xác của Đức Ki-tô đã chết mà “không phải hư nát” (Cv 13,37).

Mục 5


“Đức Giê-su Ki-tô xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại”
631
“Đức Giê-su đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới đất. Đấng đã xuống, cũng chính là Đấng đã lên” (Ep 4,9-10). Kinh Tin Kính các tông đồ tuyên xưng, trong cùng một tín điều, việc Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông và việc ngày thứ ba Người bởi trong kẻ chết mà sống lại. Vì trong cuộc Vượt Qua của Người, chính từ trong lòng cái chết mà Người làm vọt lên sự sống :
Đức Ki-tô, Con yêu quí của Cha, Đấng đã từ cõi chết sống lại, đem ánh sáng thanh bình chiếu soi muôn dân. Người là Đấng hằng sống hiển trị muôn đời . A-men (MR. Sách lễ: bài công bố Tin Mừng Phục Sinh-đêm vọng P.S).
Tiết 1 : Đức Ki-tô xuống ngục tổ tông
632
Nhiều đoạn Tân Ước khẳng định Đức Giê-su “chỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3,15; Rm 8,11; 1Cr 15,20), tức là, trước khi sống lại, Người đã ở nơi kẻ chết (x.Dt 13,20). Khi rao giảng việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông, các tông đồ muốn nói là : Đức Giê-su đã chết như mọi người, và linh hồn Người xuống cõi âm, nhưng xuống với tư cách là Đấng Cứu Độ, để loan báo Tin Mừng cho các vong linh bị giam cầm nơi đó (x.1Pr 3,18-19).

633


1033
Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Shéol) hoặc âm ty (Hadés) (x. Pl 2,l0: Cv 2,24; Kh l,l8; Ep 4,9). Trước khi Đấng cứu chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành haydữ ( x. Tv 89,49;Is 28,19; Ed 32,l7-32), đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 6,6;88,ll-l3) và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giê-su cho thấy qua dụ ngôn La-da-rô nghèo khổ được rước vào “lòng Áp-ra-ham” (x. Lc.l6,22-26). “Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giê-su giải thoát chính những tâm hồn lành thánh “trong lòng Áp-ra-ham” ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát” (x .Giáo lý Rôma l.6,9). Đức Giê-su xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày (x. DS 1011;1077), nhưng để giải thoát những ngườicông chính đã chết trước khi Người đến (x. Cđ Tô-lê-đô IV năm 625: DS 485; Mt 27,52-53).

634


605
“Tin Mừng cũng được loan báo cho cả kẻ chết...” (1Pr 4,6). Việc Đức Giê-su xuống ngục tổ tông hoàn tất cách sung mãn việc rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây là chặng cuối cùng trong sứ mạng Mê-si-a của Đức Giê-su, tuy diễn ra trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao là công cuộc cứu độ được mở rộng cho mọi người thuộc mọi thời và mọi nơi. Như vậy, tất cả những kẻ được cứu độ đều do Đức Ki-tô.

635
Như thế Đức Ki-tô đã xuống âm phủ (x. Mt l2,40; Rm 10,7; Ep 4,9) để “kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì được sống” (Ga 5,25). Đức

Giê-su, “Đấng khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), đã “nhờ cái chết của Người, tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sợ chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ” (Dt 2,14,l5). Từ nay, Đức Ki-tô Phục Sinh “nắm giữ chìa khóa của sự chết và âm phủ” (Kh 1,18) và “khi vừa nghe Danh Thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ” (Pl 2,10):
Hôm nay mặt đất hoàn toàn thinh lặng, hoàn toàn thinh lặng và hoàn toàn cô quạnh. Hoàn toàn thinh lặng vì Đức Vua an giấc. Trái đất run rẩy rồi yên tĩnh lại, vì Thiên Chúa đang ngủ trong xác phàm và Người đi đánh thức những kẻ đang ngủ từ bao đời ... Người đi tìm nguyên tổ A-đam như tìm con chiên lạc. Người muốn thăm viếng tất cả những ai đang ngồi trong tối tăm và trong bóng sự chết. Vừa là Thiên Chúa, vừa là con cháu của nguyên tổ, Người đi giải thoát A-đam và E-và đang đau khổ trong gông cùm xiềng xích ... “Ta là Chúa của ngươi, nhưng vì ngươi, Ta đã trở thành con của ngươi. Hỡi người ngủ mê, hãy chổi dậy ! vì Ta dựng nên ngươi không phải để cho ngươi ở lại đây trong gông cùm âm phủ. Hãy chỗi dậy từ cõi chết, vì Ta là sự sống của những kẻ đã chết (Bài giảng cổ vào thứ bảy tuần thánh).

TÓM LƯỢC
636


Khi nói “Đức Giê-su xuống ngục tổ tông”, kinh Tin Kính tuyên xưng Đức Giê-su đã chết thực sự, và bởi Người đã chết vì chúng ta, Người thắng được sự chết và ma quỷ, “tên lãnh chúa gây ra sự chết” (Dt 2,14).
637
Khi chết, linh hồn Đức Ki-tô vẫn hợp nhất với Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống âm phủ, mở cửa trời cho những kẻ công chính chết trước Người.
Tiết 2:

Ngày thứ ba Người từ trong kẻ chết mà sống lại

638

90

651 991


“Chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng này: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Đức Giê-su sống lại” (Cv l3,32-33). Đức Giê-su Phục Sinh là chân lý tuyệt đỉnh của đức tin Ki-tô giáo, được cộng đoàn tín hữu tiên khởi tin và sống như là chân lý trung tâm, được Truyền Thống lưu truyền như chân lý căn bản, được các văn kiện Tân Ước xác lập, được rao giảng như phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua và Thập Giá:
Đức Ki-tô từ cõi chết sống lại,

Người đã chết để chiến thắng tử thần Và ban sự sống cho kẻ đã chết.


I. BIẾN CỐ LỊCH SỬ VÀ SIÊU VIỆT

639
Đức Ki-tô phục sinh là một biến cố có thật với những chứng từ có giá trị lịch sử, được Tân Ước xác nhận. Khoảng năm 56, thánh Phao-lô đã viết cho tín hữu thành Cô-rin-tô : “Tôi truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh, rồi Người được mai táng, và ngày thứ ba chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi nhóm Mười Hai” (1Cr l5,3-4). Thánh Phao-lô nói đến truyền thống sống động về mầu nhiệm Phục Sinh mà ngài đã học sau khi hoán cải ở cổng thành Đa-mát (x.Cv 9,3-l8).


Mồ trống
640

999
“Sao các bà lại đến giữa kẻ chết mà tìm Đấng hằng sống ? Người không còn đây nữa, nhưng đã sống lại rồi” (Lc 24,5-6). Trong biến cố phục sinh, yếu tố đầu tiên mà ta gặp là ngôi mộ trống, Tự nó, sự kiện này không phải là một bằng chứng trực tiếp. Việc thân xác Đức Ki-tô không còn trong mồ có thể được giải thích cách khác (x.Ga 20,13; Mt 28,11-l5). Dầu vậy, mọi người đều coi ngôi mộ trống là dấu chỉ chủ yếu. Việc phát hiện mồ trống là bước đầu dẫn các môn đệ đến việc nhìn nhận chính sự kiện Chúa sống lại. Đó là trường hợp các phụ nữ đạo đức (x.Lc 24,3,22-23), tiếp đến là Phê-rô (x.Lc 24,l2). Khi vào trong mồ trống và thấy “những băng vải để ở đó” (Ga 20,6)”, người môn đệ Đức Giê-su yêu quý” (Ga 20,2) khẳng định rằng : “Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20,8). Điều này giả thiết rằng : khi thấy mộ trống ( x.Ga 20,5-7), ông nhận ra việc mất xác Chúa không phải là do loài người, và Đức Giê-su đã không đơn gia<150)n trở lại cuộc sống trần thế như trường hợp La-da-rô vậy ( x.Ga 11,44).


Những lần hiện ra
641
553
448
Những người đầu tiên được gặp Đấng Phục Sinh (x.Mc 16,1; Lc 24,1; Mt 28,9-10; Ga 20,11-18) là bà Ma-ri-a Mác-đa-la và các phụ nữ đạo đức đến để hoàn tất việc ướp xác Đức Giê-su (x. Ga 19,31.42) đã được mai táng vội vã vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, vì ngày sa-bát sắp bắt đầu. Như vậy, các phụ nữ là những sứ giả đầu tiên loan báo Đức Ki-to sống lại cho chính các tông đồ (Lc 24,9-10). Về phần các tông đồ, Đức Ki-tô hiện ra trước hết với Phê-rô, sau đó với nhóm Mười Hai (x.1Cr 15,5).Vì được mời gọi củng cố niềm tin của anh em mình (x.Lc 22,31-32), nên Phê-rô được thấy Đấng Phục Sinh trước họ. Chính dựa trên chứng từ của ông, mà cộng đoàn kêu lên : “Chúa đã sống lại thật rồi, và đã hiện ra với ông Xi-mon” (Lc 24, 34.36).

642


659 , 881

860
Tất cả những gì đã xảy ra trong những ngày lễ Vượt Qua đó thôi thúc các tông đồ, đặc biệt là Phê-rô, ra sức xây dựng một kỷ nguyên mới đã bắt đầu từ sáng ngày Phục Sinh. Với tư cách chứng nhân của Đấng Phục Sinh, họ là những viên đá nền móng của Hội Thánh Người. Đức tin của cộng đoàn tín hữu tiên khởi được xây dựng trên lời chứng của những con người cụ thể mà các Ki-tô hữu quen biết và phần đông còn sống giữa họ. Các “chứng nhân về cuộc Phục Sinh của Đức Ki-tô” (x.Cv 1,22) trước tiên là Phê-rô và Nhóm Mười Hai, nhưng không chỉ mình họ : thánh Phao-lô nói rõ ràng Đức Giê-su “đã hiện ra với hơn năm trăm người một lượt; Người cũng hiện ra với ông Gia-cô-bê rồi với tất cả các tông đồ” (1Cr 15,4-8).

643
Với những chứng từ này, chúng ta có thể khẳng định Đức Ki-tô đã phục sinh trên bình diện thể lý và phải nhận đó là một sự kiện lịch sử. Từ các sự kiện, chúng ta rút ra kết luận : đức tin của các môn đệ đã bị thử thách triệt để do việc Đức Giê-su chịu nạn chịu chết trên cây thập giá, sự kiện đã được Người báo trước (x. Lc 22,31-32). Cuộc khổ nạn đã làm cho các môn đệ bị chấn động mạnh đến nỗi họ (ít ra là một số ) không tin ngay việc Chúa sống lại. Các sách Tin Mừng không hề nói đến một cộng đoàn cuồng nhiệt trong hứng khởi thần bí, nhưng cho thấy “các môn đệ ủ rũ” (Lc 24,17) và sợ hãi (x. Ga 20,19). Họ không tin lời các phụ nữ đạo đức viếng mộ trở về, nhưng “cho là chuyện nhảm nhí” (Lc 24,11) (x.Mc 16,11-13). Khi tỏ mình cho Nhóm Mười Một, chiều ngày Phục Sinh, Đức Giê-su “khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người sống lại” (Mc 16,14).
644
Dù đối diện với thực tế là Đức Giê-su phục sinh, các môn đệ vẫn còn nghi ngờ (x. Lc 24,38) vì không tin rằng điều này có thể xảy ra được, nên họ tưởng trông thấy ma (x.Lc 24,39). “Các ông vẫn chưa dám tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng” (Lc 24,41). Ông Tô-ma cũng đã từng nghi ngờ như vậy (x.Ga 20,24-27). Và khi Đức Giê-su hiện ra lần cuối cùng tại Ga-li-lê, theo thánh Mat-thêu tường thuật “có mấy người vẫn còn hoài nghi” (Mt 28,17). Do đó, giả thuyết cho rằng Phục Sinh là “sản phẩm” của đức tin (hoặc do nhẹ dạ) của các tông đồ, không đứng vững. Trái lại, dưới tác động của ơn thánh, các ông tin vào cuộc Phục Sinh vì có kinh nghiệm trực tiếp về việc Đức Giê-su đã thực sự sống lại.
Trạng thái nhân tính của Đức Ki-tô Phục Sinh
645
999
Đức Giê-su phục sinh có những tương quan trực tiếp với các môn đệ của Người, qua tiếp xúc (x.Lc 24,39; Ga 20,27) và việc chia sẻ bữa ăn (x.Lc 24,30.41-43; Ga 21,9.13-15). Nhờ đó, Người muốn cho họ thấy Người không phải là ma (x.Lc 24,39), và thân xác phục sinh của Người chính là thân xác đã bị hành hạ và đóng đinh thập giá, vì còn mang dấu vết cuộc khổ nạn (x.Lc 24,40; Ga 20,20,27). Tuy nhiên thân xác đúng nghĩa và có thật này có các đặc tính mới của một thân xác vinh hiển : Người không còn bị ràng buộc trong không gian và thời gian nữa, nhưng có thể đi đâu và lúc nào tùy ý, vì nhân tính của Người không còn bị giam giữ trên trần thế mà chỉ thuộc về thế giới thần linh của Chúa Cha (x.Ga 20,17). Do đó Đức Giê-su phục sinh hoàn toàn tự do để hiện ra như Người muốn : dưới hình dáng một người làm vườn (x.Ga 20,14-15) hoặc “dưới hình dạng khác” (Mc 16,12) hơn những hình dạng quen thuộc với các môn đệ, nhằm khơi dậy đức tin của họ (x. Ga 20,14.16; 21,4.7).

646


934 549
Đức Ki-tô Phục Sinh không có nghĩa là Ngườ<179)i trở lại với đời sống trần thế, như trường hợp của những kẻ Người đã cho sống lại trước cuộc Vượt Qua : con gái ông Giai-rô, người thanh niên thành Na-im, ông La-da-rô. Các sự kiện này là những biến cố kỳ diệu, tuy nhiên những người được hưởng phép lạ đó, nhờ quyền năng của Đức Giê-su, chỉ trở lại với cuộc sống trần thế “bình thường”; rồi một lúc nào đó, họ vẫn phải chết. Đức Ki-tô Phục Sinh thì hoàn toàn khác hẳn. Trong thân xác sống lại, Người chuyển từ trạng thái chết sang cuộc sống khác, vượt trên thời gian và không gian. Thân xác của Đức Giê-su Phục Sinh tràn đầy quyền năng Chúa Thánh Thần. Thân xác này tham dự vào đời sống thần linh vinh hiển, đến nỗi thánh Phao-lô có thể nói : Đức Ki-tô là “người thượng giới” (1Cr 15,35-50).
Phục Sinh, biến cố siêu việt

647


1000
Trong đêm Phục Sinh, Hội Thánh hát : “Ôi đêm thật diễm phúc, đêm duy nhất biết được thời gian Đức Ki-tô từ cõi chết phục sinh”. Thực vậy, không một ai chứng kiến tận mắt biến cố Phục Sinh và không một thánh sử nào mô tả nó. Không ai có thể nói Phục Sinh đã diễn biến như thế nào về mặt thể lý. Giác quan lại càng khó nhận ra được yếu tính sâu xa nhất của Phục Sinh là sự chuyển qua một cuộc sống khác. Tuy Phục Sinh là biến cố lịch sử, có thể ghi nhận được nhờ dấu chỉ mộ trống và những lần gặp gỡ thực sự giữa các tông đồ với Đức Ki-tô sống lại, nhưng Phục Sinh vẫn là trung tâm mầu nhiệm đức tin, vì nó siêu việt và vượt trên mọi chiều kích lịch sử. Do đó, Đức Ki-tô Phục Sinh không tỏ mình ra cho thế gian (x. Ga 14,22) mà chỉ cho các môn đệ của Người, “cho những kẻ từng theo Người từ Ga- li-lê lên Giê-ru-sa-lem. Giờ đây chính họ làm chứng cho Người trước mặt dân” (Cv 13,31).

II. PHỤC SINH, CÔNG TRÌNH CỦA BA NGÔI THIÊN CHÚA
648 258 989 663 445 272
Phục Sinh của Đức Ki-tô là đối tượng của đức tin, vì đó là sự can thiệp siêu việt của chính Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trong lịch sử. Trong cuộc Phục Sinh này, cả Ba Ngôi Thiên Chúa vừa cùng chung hoạt động, vừa biểu lộ tính cách riêng biệt của mình. Phục Sinh được thực hiện do quyền năng của Chúa Cha, Đấng “đã làm cho Đức Ki-tô Con của Người sống lại"(Cv 2,24); nhờ đó, Chúa Cha đưa trọn nhân tính - cùng với thân xác - của Đức Ki-tô vào mầu nhiệm Ba Ngôi một cách hoàn hảo. Đức Giê-su được măc khai chung cuộc là “Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng theo Thánh Thần do việc Người từ cõi chết sống lại” (Rm 1,3-4). Thánh Phao-lô nhấn mạnh đến việc Thiên Chúa biểu lộ quyền năng (x.Rm 6,4; 2Cr 13,4; Pl 3,10; Ep 1,19-22; Dt 7,16) qua công trình của Thánh Thần làm cho nhân tính đã chết của Đức Giê-su được sống lại và nâng lên tình trạng vinh hiển.
649
Về phần Chúa Con, Người tự sống lại do quyền năng Thiên Chúa của mình. Đức Giê-su loan báo : Con Người sẽ phải đau khổ, chết và sống lại (theo nghĩa chu động của từ) (x.Mc 8,31; 9,9,31; 10,34). Nơi khác, Người khẳng định rõ ràng : “Tôi hy sinh mạng sống để rồi lấy lại ....Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10,17-18) “Chúng ta tin ... rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại” (1Th 4,14).

650 626


1005
Các giáo phụ chiêm ngắm mầu nhiệm Phục Sinh từ ngôi vị Thiên Chúa của Đức Ki-tô. Ngôi vị này vẫn kết hợp với hồn và xác đã bị cái chết tách rời : “Nhờ sự duy nhất của bản tính Thiên Chúa hiện diện ở cả hai phần của con người, nên hai phần này có thể tái hợp với nhau. Như vậy, chết là tách rời hai phần của con người và phục sinh là kết hợp hai phần ấy lại” (T. Ghê-gô-ri-ô thành Nít-sê, bàn về Phục Sinh của Chúa Ki-tô;

DS 325; 359; 369; 539).


III. Ý NGHĨA VÀ ẢNH HƯỞNG CỨU ĐỘ CỦA PHỤC SINH

651


129 274
“Nếu Đức Ki-tô không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14). Trên hết mọi sự, Phục Sinh xác nhận tất cả những gì chính Đức Ki-tô đã làm và đã dạy. Khi phục sinh, Đức Ki-tô chứng tỏ Người có thẩm quyền của một vị Thiên Chúa, nên toàn thể các chân lý kể cả những chân lý mà lý trí loài người khó chấp nhận, đều đáng tin.

652 994 601


Đức Ki-tô Phục Sinh hoàn tất những lời hứa của Cựu Ước (x.Lc 24,26-27,44-48) và của chính Người khi còn sống tại thế (x.Mt 28,6; Mc 16,7; Lc 24,6-7). Thuật ngữ “đúng theo Kinh Thánh” (x.1Cr 15,3-4 và kinh Tin kính Ni-xê Con-tan-ti-nôpô-li) cho thấy việc Đức Ki-tô Phục Sinh hoàn tất các lời tiên báo này.

653 445


461,422
Phục Sinh xác nhận thiên tính thật của Đức Giê-su. Người đã nói : “Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28). Phục Sinh của Đấng bị đóng đinh chứng minh rằng Người thực sự là “Đấng Hằng Hữu”, là Con Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa. Thánh Phao-lô có thể tuyên bố với người Do Thái : “Điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện ... khi làm cho Đức Giê-su sống lại, đúng như lời đã chép trong thánh vịnh 2 : “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha sinh ra Con” (Cv 13,32-33). Mầu nhiệm Phục Sinh liên kết mật thiết với mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể. Phục sinh hoàn tất mầu nhiệm này theo ý định muôn đời của Thiên Chúa.
654 1987 1996
Có hai khía cạnh trong mầu nhiệm Vượt Qua : Đức Ki-tô chết để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, và phục sinh để mở đường vào cuộc sống mới. Cuộc sống mới này bao hàm trước tiên là sự công chính hóa, nghĩa là đặt chúng ta lại trong ân sủng của Thiên Chúa (x. Rm 4,25), để “cũng như Đức Ki-tô đã được sống lại từ cõi chết, chúng ta cũng được sống đời sống mới” (Rm 6,4). Đời sống mới này là chiến thắng sự chết do tội lỗi gây ra và được thông phần lại vào ân sủng (x.Ep 2,4-5; 1Pr 1,3). Kế đến, đời sống mới thực hiện ơn làm nghĩa tử Thiên Chúa vì con người trở thành anh em của Đức Ki-tô, như chính Người gọi các môn đệ sau khi sống lại : “Hãy đi báo tin cho các anh em của Thầy" (Mt 28,10; Ga 20,17). Chúng ta trở thành anh em của Đức Ki-tô không phải do bản tính nhưng do hiệu quả của ân sủng, vì ơn làm nghĩa tử thông hiệp chúng ta thực sự vào đời sống Con Một Thiên Chúa, như mầu nhiệm Phục Sinh đã mặc khải trọn vẹn.
655 989

1002
Cuối cùng, sự phục sinh của Đức Ki-tô, cũng như chính Đức Ki-tô Phục Sinh, là nguyên lý và nguồn mạch sự sống lại của chúng ta mai sau : “Đức Ki-tô đã chỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu ..., như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người, nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống lại” (1 Cr 15,20-22). Trong lúc chờ đợi sự hoàn tất đó, Đức Ki-tô Phục Sinh sống trong lòng mọi tín hữu. Nơi Người, các Ki-tô hữu “được cảm nghiệm những sức mạnh của thế giới tương lai” (Dt 6,5) và cuộc sống của họ được Đức Ki-tô lôi cuốn vào trong cung lòng đời sống của Thiên Chúa (x.Cl 3,1-3), “để những ai đang sống, không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2 Cr 5,15).




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương