Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang11/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   22

Trong các sách Tin Mừng, người ta thường gọi Đức Giê-su là “Chúa”. Danh hiệu này chứng tỏ rằng những kẻ đến gần Người đều tôn trọng và tin tưởng vào Người, mong đợi Người cứu giúp và chữa lành ( x. Mt 8,2; 14,30;15,22). Nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, khi tuyên xưng như vậy, người ta cũng nhìn nhận Đức Giê-su là Thiên Chúa ( x. Lc 1,43; 2,11). Sau khi Đức Giê-su Phục sinh, cách tuyên xưng này diễn tả tâm tình thờ lạy : “Lạy Chúa của con! lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Và còn mang thêm sắc thái yêu thương trìu mến là nét riêng của truyền thống Ki-tô giáo, như khi Gio-an nói nhỏ với Phê-rô: “Chúa đó” (Ga 2l,7).

449 461 653


Khi dành cho Đức Giê-su danh hiệu thần linh là Đức Chúa, những lời tuyên xưng đức tin của Hội Thánh xác nhận ngay từ đầu ( x. Cv 2,34-36) rằng quyền năng, danh dự và vinh quang của Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giê- su ( x .Rm 9,5; Tt 2,13; Kh 5,13), vì Người có “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (Pl 2,6), và Chúa Cha đã bày tỏ quyền tối thượng của Đức Giê-su khi cho Người sống lại từ cõi chết và biểu dương Người trong vinh quang ( x. 1Cr 12,3; Pl 2,9-11; Rm 10,9).

450 668,672 2242


Ngay từ đầu lịch sử Ki-tô giáo, khi xác nhận quyền Chúa tể của Đức Giê-su trên trần thế và trên lịch sử ( x. Kh 11,15), Ki-tô Giáo khẳng định rằng : con người không được dùng tự do cá nhân để tùng phục bất cứ quyền bính trần thế nào cách tuyệt đối, mà chỉ tùng phục Thiên Chúa Cha và Chúa Giê-su Ki-tô : Xê-da-rê không phải là “Đức Chúa” ( x. Mc 12,17; Cv 5,29). “Hội Thánh tin rằng.... chìa khóa trung tâm và cứu cánh của mọi lịch sử con người chỉ tìm thấy trong Chúa và Thầy của mình” ( x. GS 10,2; 45,2).
451 2664- 2665 2817
Kinh nguyện Ki-tô giáo đầy những lời kêu cầu danh hiệu “Chúa”, như khi mời gọi cầu nguyện : “Chúa ở cùng anh chị em”, hay khi kết thúc lời nguyện “nhờ Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng con”, hoặc trong tiếng kêu đầy tín thác và hy vọng “Ma-ran a-tha” ("Chúa đến!") hay"Ma-ra-na tha” ("Lạy Chúa, xin Chúa đến") (l Cr l6,22); “A-men, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến” (Kh 22,20).

TÓM LƯỢC
452


Danh xưng “Giê-su” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Hài nhi sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a được gọi là ” Giê-su”, “vì chính Người sẽ cứu thoát Dân Người khỏi tội lỗi” (Mt 1,21). “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mới được cứu độ” (Cv 4,l2).
453
Danh xưng “Ki-tô” có nghĩa là “được xức dầu”, “Đấng Mê-si-a ”. Đức Giê-su là Đấng Ki-tô vì “đã được Thiên Chúa xức dầu bằng Thánh Thần và quyền năng” (Cv l0,38). Người là “Đấng phải đến” (Lc 7,l9), là đối tượng của “niềm hy vọng của Ít-ra-en”

(Cv 28,2O).


454
Danh xưng “Con Thiên Chúa” nói lên mối tương quan duy nhất và hằng hữu giữa Đức Giê-su Ki-tô và Thiên Chúa Cha của Người: Người là Con Một của Chúa Cha ( x. Ga 1,14.18; 3,16.18) và là chính Thiên Chúa ( x. Ga 1,1).Để trở nên455
Danh xưng “Chúa” nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Đức Giê-su là Chúa có nghĩa là tin vào thiên tính của Người. Nếu không được Thánh Thần giúp sức, không ai có thể nói “Giê-su là Đức Chúa”

(l Cr l2,3).

Mục 3
Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, mà Người xuống thai sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh
Tiết 1: Con Thiên Chúa làm người
I. TẠI SAO NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI ?

456
Cùng với kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô- pô-li, chúng ta tuyên xưng “Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm ngừơi”.

457 607
Ngôi Lời đã làm người để cứu độ chúng ta, bằng cách giao hòa chúng ta với Thiên Chúa: “Chính Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến hy sinh làm của lễ đền tội cho chúng ta” (l Ga 4, l0). “Chúa Cha đã sai Con của Người đến làm Đấng Cứu Độ thế gian” (l Ga 4,l4). “Đức Giê-su đã xuất hiện để xoá bỏ tội lỗi” (l Ga 3,5).
385
Bản tính chúng ta vì bệnh hoạn nên cần được chữa lành, vì sa ngã nên cần được nâng lên, vì đã chết nên cần được phục sinh. Chúng ta đã đánh mất quyền sở hữu điều lành nên cần phải lấy lại, bị vây hãm trong bóng tối, nên cần đến ánh sáng, bị tù đầy nên mong Đấng Cứu Độ, bị giam cầm, nên đợi tiếp cứu; bị nô lệ nên chờ Đấng giải phóng. Những lý do ấy không quan trọng sao ? Nhân loại đang chìm trong khốn cùng và bất hạnh, lẽ nào Thiên Chúa không động lòng mà hạ cố xuống tận bản tính con người để viếng thăm sao? ( T. Ghê-gô-ri-ô thành Nít-xê, hay giáo lý 15)
458 219
Ngôi Lời đã làm người để giúp chúng ta nhận ra tình thương của Thiên Chúa : ” Đây là cách Thiên Chúa biểu lộ tình yêu đối với chúng ta : Người đã sai Con Một giáng trần để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (l Ga 4,9). “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con Một của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”

(Ga 3,l6).


459 520, 823 2012 1717, 1965
Ngôi Lời đã làm người để trở thành mẫu mực thánh thiện cho chúng ta. “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học gương tôi”

(Mt ll,29). “Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga l4,6). Và trên núi Hiển Dung, Chúa Cha đã ra lệnh: “Hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7) ( x. Đnl 6,4-5). Người đúng là khuôn mẫu về các mối chân phúc và là qui tắc của Luật mới : “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga l5,l2). Tình yêu này đòi hỏi chúng ta hy sinh cho anh em theo gương của Chúa ( x. Mc 8,34).

460 1265, 1391 1988
Ngôi Lời đã làm người để chúng ta được “thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr l,4). “Ngôi Lời làm người, Con Thiên Chúa làm con loài người : chính là để cho con người, khi kết hợp với Ngôi Lời và lãnh nhận tử hệ thần linh, được trở nên con cái Thiên Chúa” ( T.I-rê-nê, chống lạc giáo 3,19,1). “Vì Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa” ( T.A-ta-na-si-ô, Nhập Thể 54,3). “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được thông phần thiên tính của Người, nên đã mang lấy bản tính chúng ta, để vì đã làm người, Người biến chúng ta thành thần thánh”

( T.Tô-ma A-qui-nô, Tiểu phẩm 57 về ngày lễ Thánh Thể 1).


II. NHẬP THỂ

461 653, 661 449


Theo cách nói của thánh Gio-an “Ngôi Lời đã trở thành nhục thể” (Ga l,l4), Hội Thánh gọi sự kiện Con Thiên Chúa mang lấy một bản tính nhân loại để thực hiện trong bản tính ấy việc cứu độ chúng ta, là “Nhập Thể”. Trong một thánh thi do thánh Phao-lô ghi lại, Hội Thánh hát mừng mầu nhiệm nhập thể như sau :
“Giữa anh em với nhau, anh em hãy có tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su : Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân. Đã sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây Thập Giá” (Pl 2,5-8).
462 __

462


Thư Do Thái cũng nói về mầu nhiệm ấy như sau :

“Vì vậy, khi vào trần gian Đức Ki-tô nói : Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa : Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt l0, 5-7, trích Tv 40, 7-9, bản LXX).

463 90

Tin vào mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập thể là dấu chỉ đặc thù của đức tin Ki-tô giáo. “Căn cứ vào điều này mà anh em nhận ra Thần Khí của Thiên Chúa: Thần Khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô là Đấng đã xuống thế làm người, thì Thần Khí ấy bởi Thiên Chúa” (l Ga 4,2). Đó cũng là niềm hân hoan xác tín của Hội Thánh ngay từ buổi đầu, khi hát mừng “cao cả thay mầu nhiệm đức tin” : “Đức Ki-tô xuất hiện trong thân phận người phàm” (l Tm 3,l6).


III. THIÊN CHÚA THẬT và NGƯỜI THẬT

464 88
Con Thiên Chúa nhập thể, là biến cố độc nhất vô nhị, sự kiện nầy không có nghĩa là Đức Giê-su Ki-tô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của sự pha trộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người thật sự đã làm người mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa thật và là người thật. Hội Thánh đã phải bảo vệ và minh giải chân lý đức tin nầy suốt những thế kỷ đầu tiên để chống lại các lạc thuyết.


465 242
Các lạc thuyết đầu tiên phủ nhận nhân tính hơn là chối bỏ thiên tính của Đức Ki-tô (Ảo thân thuyết, thuộc nhóm Ngộ đạo). Ngay từ thời các tông đồ, đức tin Ki-tô giáo nhấn mạnh đến việc nhập thể đích thực của Con Thiên Chúa “đến trong xác phàm” (1 Ga 4,2-3; 2 Ga 7). Nhưng từ thế kỷ thứ III, Hội Thánh trong Công Đồng họp tại thành An-ti-ô-ki-a phải khẳng định chống lại Phao-lô thành Xa-mo-xa-tê, rằng : Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa do bản tính chứ không phải do được nhận làm nghĩa tử. Công Đồng chung thứ I, họp tại Ni-xê-a vào năm 325, tuyên xưng trong kinh Tin Kính rằng : Con Thiên Chúa “được sinh ra chớ không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha”; và kết án A-ri-ô là người cho rằng “Con Thiên Chúa đã xuất tự hư không” (x. DS l30> và “có một bản thể khác với Chúa Cha” (DS 126).
466 495
Lạc thuyết Nét-tô-ri-ô cho rằng Đức Ki-tô là một ngôi vị nhân loại liên kết với ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa. Chống lại lạc thuyết này, Thánh Xy-ri-lô thành A-lê-xan-ri-a và Công Đồng chung thứ III họp tại Ê-phê-sô năm 43l đã tuyên xưng : “Ngôi Lời đã làm người khi kết hợp trong ngôi vị mình một thân xác do một linh hồn làm cho sống động” (x. DS 25O). Nhân tính của Đức Ki-tô không có một chủ thể nào khác ngoài ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa, Đấng từ lúc tượng thai đã nhận lấy nhân tính ấy làm của mình. Về vấn đề này, Công Đồng chung Ê-phê-sô năm 43l công bố rằng : Đức Ma-ri-a thực sự trở thành Mẹ Thiên Chúa qua việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ. “Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa, không phải vì Ngôi Lời đã nhận thiên tính của Người từ nơi Mẹ, nhưng vì chính từ Mẹ mà Người đã nhận được một thân xác thánh thiêng có linh hồn; Ngôi Lời đã liên kết với thân xác ấy ngay trong ngôi vị của mình, vì thế chúng ta nói : “Ngôi Lời đã sinh ra làm người ” (DS 25l).

467
Những người chủ trương thuyết Nhất Tính khẳng định : trong Đức Ki-tô, bản tính con người đúng nghĩa không còn tồn tại vì đựơc ngôi vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận. Để chống lại lạc thuyết này, Công Đồng chung thứ IV, họp tại Can-xê-đô-ni-a năm 451, tuyên xưng :


“Cùng với các thánh phụ, chúng tôi đồng thanh dạy và tuyên xưng Một Ngôi Con Duy Nhất, Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, trọn vẹn trong thiên tính và trọn vẹn trong nhân tính, đích thực là Thiên Chúa và đích thực là người, gồm một linh hồn và một thân xác, đồng bản thể với Chúa Cha theo thiên tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi” (Dt 4,l5), được Chúa Cha sinh ra từ trước muôn đời theo thiên tính, và trong thời sau hết này, vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Ma-ri-a Mẹ Thiên Chúa, theo nhân tính.
Trong cùng một Đức Ki-tô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được ba<150>o tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất” (DS 30l-302).
468 254 616
Sau Công Đồng Can-xê-đô-ni-a một số người biến nhân tính của Đức Ki-tô thành một chủ thể hữu ngã. Công Đồng chung thứ V, họp tại Con-tan-ti-no-pô-li năm 553, tuyên xưng chống lại họ : “Chỉ có một ngôi hiệp (hay ngôi vị) duy nhất, là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Một trong Ba Ngôi” (x.DS 424). Như vậy, tất cả những gì thuộc nhân tính của Đức Ki-tô, không chỉ các phép lạ, nhưng cả những đau khổ và cái chết (x.DS 424 > đều thuộc về Ngôi Vị Thiên Chúa của Người như chủ thể riêng của chúng (x.Cđ Ê-phê-sô : DS 255 >: “Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, Đấng bị đóng đinh vào thập giá nơi thân xác, là Thiên Chúa thật, là Đức Chúa vinh quang và là một trong Ba Ngôi chí thánh” (DS 432).

469 212
Như thế, Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa thật và là người thật, không thể tách rời. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, nhưng vẫn luôn là Thiên Chúa, Chúa chúng ta :


Phụng vụ Rô-ma ca mừng : “Trước sau Người vẫn là Thiên Chúa nhưng Người đã nhận lấy thân phận thế nhân” (x.Điệp ca kinh sáng ngày1-1; T. Lê-ô Cả, bài giảng 2l, 2-3). Bản phụng vụ theo thánh Gio-an Kim Khẩu hân hoan công bố : “Ôi lạy Con Một duy nhất và là Ngôi Lời Thiên Chúa, vốn là bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Ngài đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Ma-ri-a, mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh. Ngài vẫn là Thiên Chúa nhưng đã làm người và đã chịu đóng đinh vào thập giá, ôi lạy Đức Ki-tô Thiên Chúa, Ngài đã dùng cái chết của mình mà đập tan sự chết, Ngài là một trong Ba Ngôi chí thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con” ( Đoản khúc “Ôi Lạy Con Một Thiên Chúa “).
IV. “CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI” NHƯ THẾ NÀO ?

470 516 626


Trong sự kết hợp kỳ diệu của mầu nhiệm Nhập Thể, “bản tính nhân loại được đảm nhận, chứ không bị tan biến” (x.GS 22,2), nên trải qua dòng lịch sử, Hội Thánh tuyên xưng Đức Giê-su có một linh hồn thật với mọi hoạt động tri thức và ý chí, và một thân xác thật của con người. Nhưng đồng thời Hội Thánh luôn nhắc rằng bản tính nhân loại của Đức Ki-tô đã được Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa đảm nhận, nên thuộc riêng về Ngôi Vị ấy. Trong Ngôi Vị đó, tất cả những gì là con người và hành động của người đều là của “một trong Ba Ngôi Thiên Chúa”. Như vậy, Con Thiên Chúa thông truyền cho nhân tính Người cách thức hiện hữu riêng của bản vị mình trong Ba Ngôi. Do đó, trong linh hồn cũng như trong thân xác Người, Đức Ki-tô biểu lộ theo cách thế nhân loại cung cách hành xử của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Ga l4,9-l0).

2599
Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay con người, suy nghĩ bằng trí óc con người, hành động theo một ý chí con người, yêu mến bằng quả tim con người. Sinh làm con Đức Trinh nữ Ma-ri-a, Người đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi (GS 22,2).


Linh hồn và tri thức nhân loại của Đức Ki-tô :
471 363
A-pô-li-na-ri-ô thành Lao-đi-xê cho rằng trong Đức Ki-tô, Ngôi Lời đã thay thế cho linh hồn hay tinh thần. Để chống lại lạc thuyết này, Hội Thánh tuyên xưng : Ngôi Con hằng hữu đã đảm nhận một linh hồn con người (DS l49).
472
Linh hồn con người mà Con Thiên Chúa đảm nhận cũng có một tri thức nhân loại thực sự. Với tư cách ấy, tri thức này tự nó là hữu hạn : nó phải chịu chi phối bởi các điều kiện lịch sử của cuộc sống trong không gian và thời gian. Do đó, Con Thiên Chúa khi làm người, đã chấp nhận “ngày càng tăng trươ<150>ng về vóc dáng, về khôn ngoan và về ân su<150>ng” (Lc 2,52), và cả việc học ho<150>i trong thân phậnnhững gì con người phải học hỏi bằng kinh nghiệm (x. Mc 6,38; Mc 8,27; Ga ll,34 vv...). Điều này phù hợp với việc Người thực sự tự ý hạ mình “mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7).

473 240
Nhưng đồng thời, tri thức nhân loại của Con Thiên Chúa cũng biểu lộ đời sống Thiên Chúa của ba<150>n thân Người (T. Ghê-gô-ri-ô Cả thư số l0,39 : DS 475). “Nhân tính của Con Thiên Chúa, không tự sức mình, nhưng nhờ kết hợp với Ngôi Lời, đã từng hiểu biết và biểu hiện nơi mình tất cả những gì phù hợp với Thiên Chúa” (T. Ma-xi-mô tuyên đạo 66). Trước hết là tri thức thâm sâu và trực tiếp của Con-Thiên-Chúa-làm-người về Cha của Người (x.Mc. l4,36; Mt ll,27; Ga l,l8; 8,55 vv...). Trong tri thức nhân loại của mình, Chúa Con cũng cho thấy Người thấu suốt như Thiên Chúa những tâm tư thầm kín của con người ( x. Mc 2,8; Ga 2,25; 6,6l vv...).

474
Do kết hợp với sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa trong ba<150>n thân Ngôi Lời nhập thể, tri thức nhân loại của Đức Ki-tô hoàn toàn thấu triệt những ý định ngàn đời mà Người đến để mặc khải (x.Mc 8,3l; 9,3l;l0,33-34; l4,l8-20.26-30). Trong lĩnh vực này (x.Mc 13,32 ), có điều thì Người bảo là mình không biết nhưng nơi khác Người lại nói Người không có sứ mạng mặc khải (x.Cv. l,7).
Ý chí nhân loại của Đức Ki-tô

475 2008 2824


Cũng một thể đó, Hội Thánh tuyên xưng trong Công Đồng chung thứ VI ( Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li III năm 68l), rằng Đức Ki-tô có hai ý chí và hai khả năng hành động theo hai bản tính Thiên Chúa và nhân loại, không đối kháng nhưng hợp tác với nhau, đến nỗi Ngôi Lời làm người đã muốn vâng phục theo nhân tính tất cả những gì Người đã quyết định với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần theo thiên tính để cứu chuộc chúng ta ( DS 556-559). Ý chí nhân loại của Đức Ki-tô “thuận theo ý chí Thiên Chúa của Người mà không cưỡng lại hay đối nghịch, nhưng tùy<139> thuộc vào ý chí toàn năng ấy” (x. DS. 556).
Thân xác thật của Đức Ki-tô
476 1159- 1162 2129-2132
Vì Ngôi Lời đã làm người bằng cách đảm nhận một nhân tính thực sự, nên thân xác của Đức Ki-tô cũng bị giới hạn (x. Cd. Latran 649. DS. 5O4). Do đó, gương mặt nhân loại của Đức Giê-su có thể được “họa lại” (Gl 3,2). Trong Công Đồng chung thứ VII (x. Cđ Ni-xê-a II 787 : DS. 6OO-6O3), Hội Thánh nhìn nhận việc họa lại hình ảnh của Người là chính đáng.
477
Đồng thời, Hội Thánh luôn luôn nhìn nhận “Thiên Chúa vốn là Đấng vô hình, đã xuất hiện hữu hình giữa nhân loại” trong thân xác Đức Giê-su (x. Lễ Giáng Sinh). Thật vậy, các đặc điểm riêng của thân xác Đức Ki-tô biểu lộ Ngôi Vị thần linh của Con Thiên Chúa. Con Thiên Chúa đã nhận làm của mình những nét nhân dạng của thân thể Người, để khi người tín hữu tôn kính những đặc điểm ấy được họa lại trong tranh ảnh thánh, họ “cung chiêm chính Đấng mà tranh ấy diễn tả” (x. Cđ Ni-xê-a II : DS 60l> .
Trái tim của Ngôi Lời nhập thể
478 487 368 2669 766
Trong suốt cuộc đời, cả khi hấp hối và chịu khổ nạn, Đức Giê-su biết và yêu mến mọi người và từng người chúng ta. Người đã hiến mạng cho mỗi người chúng ta. “Con Thiên Chúa đã yêu mến tôi và thí mạng vì tôi” (Gl 2,20). Người đã yêu chúng ta bằng con tim nhân loại. Do đó Thánh Tâm Chúa Giê-su, bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta và để cứu độ chúng ta (x. Ga l9,34), “được coi là dấu chỉ và biểu tượng tuyệt vời của tình yêu mà Đấng Cứu Thế không ngừng dâng lên Chúa Cha hằng hữu và dành cho mọi người không trừ ai” (. Pi-ô XII, Thông điệp “Haurietis aquas": DS. 3924; x.DS.38l2).
TÓM LƯỢC

479
Vào đúng thời Thiên Chúa đã định, Con Một của Chúa Cha là Ngôi Lời hằng hữu, là Hình Ảnh đồng bản thể với Chúa Cha, đã nhập thể : Người đã đảm nhận bản tính nhân loại mà vẫn không đánh mất bản tính Thiên Chúa.

480
Đức Giê-su Ki-tô là Thiên Chúa thật và là người thật, trong một ngôi vị Thiên Chúa duy nhất. Vì vậy Người là Đấng Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.

48l
Đức Giê-su Ki-tô có hai bản tính, Thiên Chúa và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng hợp nhất trong ngôi vị duy nhất của Con Thiên Chúa.

482
Vì là Thiên Chúa thật và là người thật, Đức Ki-tô có một trí khôn và một ý chí nhân loại, hoàn toàn hòa hợp và qui thuận trí khôn và ý chí thần linh mà Người cùng có chung với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.
483
Nhập thể là mầu nhiệm của sự kết hợp tuyệt vời giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại trong ngôi vị duy nhất của Ngôi Lời.
Tiết 2:
”....Bởi phép Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Ma-ri-a đồng trinh”
I. BỞI PHÉP CHÚA THÁNH THẦN MÀ NGƯỜI XUỐNG THAI...
484 461 721
Biến cố truyền tin cho Đức Ma-ri-a mở đầu “thời viên mãn” (Gl 4,4), nghĩa là thời thực hiện những gì Thiên Chúa đã hứa và chuẩn bị từ trước. Đức Ma-ri-a được mời gọi hoài thai Đấng mang nơi thân xác mình “tất cả sự viên mãn của thiên tính” (Cl 2,9). Câu hỏi của Mẹ “việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng ?” (Lc l, 34) đã được thiên sứ giải thích bằng quyền năng Thánh Thần : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà” (Lc l, 35).
485 689,723
Sứ mạng của Chúa Thánh Thần bao giờ cũng kết hợp nhịp nhàng với sứ mạng của Chúa Con (x.Ga l6,l4-l5). Thánh Thần được cử đến để thánh hoá cung lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và làm cho Mẹ thụ thai cách kỳ diệu. Bởi Người là “Chúa và là Đấng ban sự sống”, Người ban cho Mẹ thụ thai Con hằng hữu của Chúa Cha, trong một nhân tính bắt nguồn từ nhân tính của Mẹ.
486 437
Con Một của Chúa Cha ngay từ khi tượng thai làm người trong cung lòng của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, đã là “Ki-tô” nghĩa là Đấng được Thánh Thần xức dầu (x.Mt l,20; Lc l,35), cho dù Người chỉ tỏ mình từng bước cho các mục đồng (x. Lc 2,8-20), các đạo sĩ (x.Mt 2,l-l2), cho Gio-an Tẩy giả (x.Ga l,3l-34), cho các môn đệ (x.Ga 2,ll). Như vậy, trọn cuộc đời của Đức Ki-tô tỏ cho thấy “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người như thế nào” (Cv l0,38).
II. SINH BỞI BÀ MA-RI-A ĐỒNG TRINH

487 963
Những gì Hội Thánh Công Giáo tin về Đức Ma-ri-a đều đặt nền tảng trên những gì Hội Thánh tin về Đức Ki-tô, nhưng đồng thời giáo huấn về Đức Ma-ri-a lại soi sáng thêm cho lòng tin vào Đức Ki-tô.


Đức Ma-ri-a được tiền định
488
“Thiên Chúa đã cử Con mình đến trong thế gian” (Gl 4,4). Nhưng để “tạo một thân xác” (Dt l0,5) cho Người, Thiên Chúa đã muốn có sự tự do cộng tác của một thụ tạo. Với mục đích ấy, từ trước muôn đời Thiên Chúa đã chọn một thiếu nữ Ít-ra-en, một cô gái Do Thái, quê tại Na-da-rét xứ Ga-li-lê, “một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi Đa-vít, trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a” (Lc 1,26-27) để làm mẹ của Con Mình.
Chúa Cha rất nhân từ đã muốn sự ưng thuận của Đấng đã được tiền định làm Mẹ phải có trước khi Chúa Con nhập thể, để như một người nữ đã hợp tác cho sự chết, thì cũng một ngừơi nữ hợp tác cho sự sống (LG 56. x. 6l).
489 722 410 145 64
Suốt thời Cựu Ước, sứ mạng của Đức Ma-ri-a đã được chuẩn bị trước nơi vai trò của các phụ nữ thánh thiện. Từ lúc khởi đầu, là bà E-và : dù bà bất tuân phục, nhưng bà đã nhận được lời hứa rằng một hậu duệ của bà sẽ chiến thắng ma quỉ (x. St 3,l5) và bà sẽ là mẹ của chúng sinh (x. St 3,20). Vì lời hứa đó, Sa-ra mang thai một người con trai, dù đã cao niên (x. St l8,l0-l4; 2l,l-2). Khác với dự đoán của loài người, Thiên Chúa đã chọn những gì bị coi là bất lực và yếu đuối (x. l Cr l,27) để chứng tỏ Người luôn trung thành với lời đã hứa : Han-na, mẹ của Sa-mu-en (x. l Sm l.), Đê-bô-ra, Rút, Giu-đi-tha và Ét-te và nhiều phụ nữ khác. Đức Ma-ri-a “vượt trên tất cả những người khiêm hạ và khó nghèo của Chúa, là những người tin tưởng, hy vọng và được Chúa cứu độ. Với Đức Ma-ri-a, người thiếu nữ Xi-on tuyệt vời sau thời mong đợi đằng đẵng chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa, thời gian đã nên trọn và nhiệm cục mới được thiết lập” (LG 55).
Vô nhiễm nguyên tội
490 2676, 2833 2001
Để làm Mẹ Đấng Cứu thế, Đức Ma-ri-a “đã được Chúa ban cho nhiều ơn xứng với nhiệm vụ cao cả ấy” (x. LG 56). Lúc truyền tin, thiên sứ Gáp-ri-en đã chào Mẹ “là đấng đầy ơn phúc” (x. Lc l,28). Thật vậy, Mẹ cần được ân sủng Chúa nâng đỡ để có thể hoàn toàn tự do trong đức tin mà đáp lại lời loan báo ơn gọi của Người.
491 411
Suốt dọc chiều dài lịch sử, Hội Thánh đã nhận thức rằng Đức Ma-ri-a, vì được Thiên Chúa ban cho “đầy ơn phúc” (Lc l,28), nên được cứu chuộc ngay từ lúc tượng thai. Đó là nội dung tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội do Đức Pi-ô IX công bố năm l854.
Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Ma-ri-a, đã được gìn giữ khỏi mọi tỳ ố nguyên tội ngay từ lúc tượng thai, do ân sủng và tình thương đặc biệt của Thiên Chúa toàn năng, nhờ công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô Đấng Cứu Độ loài người (DS 2803).

492 2011 1077


Mẹ có được “sự thánh thiện tuyệt vời có một không hai” “ngay từ lúc tượng thai” (x. LG 56> hoàn toàn là do Đức Ki-tô : Mẹ đã “được cứu chuộc cách kỳ diệu nhờ công nghiệp Con Mẹ” (x. LG 53). Hơn bất cứ thụ tạo nào khác, Chúa Cha đã thi ân giáng phúc, cho Mẹ “hưởng muôn vàn ân phúc của Thánh Thần, từ cõi trời, trong Đức Ki-tô” (Ep 1,3). Người “đã chọn Mẹ trong Đức Ki-tô, trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người” (x. Ep l,4).

493
Các Giáo phụ Đông Phương gọi Mẹ Thiên Chúa là Đấng Rất Thánh (Panaghia) và tôn vinh Mẹ là “Đấng không hề vương nhiễm một tội nào, như một thụ tạo mới do Chúa Thánh Thần nắn đúc và tác tạo” (x. LG 56). Nhờ ân sủng Thiên Chúa, Đức Ma-ri-a suốt đời vẫn tinh tuyền không hề phạm tội riêng nào.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   7   8   9   10   11   12   13   14   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương