Giáo lý HỘi thánh công giáO



tải về 3.06 Mb.
trang10/22
Chuyển đổi dữ liệu03.11.2017
Kích3.06 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   22
404 360 50
Bằng cách nào tội A-đam đã trở nên tội của cả nhân loại ? Toàn thể nhân loại đều ở trong A-đam “như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất” ( T.Tô-ma A-qui-nô, mal 4-l). Do “thể thống nhất của nhân loại”, mọi người đều liên lụy với tội A-đam, cũng như đồng hưởng sự công chính của Đức Ki-tô. Tuy nhiên, việc lưu truyền nguyên tội là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu thấu trọn vẹn. Nhưng nhờ mặc khải chúng ta biết rằng A-đam đã được hưởng nhận sự thánh thiện và công chính không phải cho riêng mình, mà cho cả bản tính nhân loại : khi chiều theo cám dỗ, A-đam và E-và phạm tội với tính cách cá nhân nhưng tội đó ảnh hưởng đến cả bản tính con người mà nguyên tổ đã truyền lại trong tình trạng sa đọa ( x. Cđ Tren-tô: DS.l5ll-l5l2). Tội đó đã truyền lại cho hết nhân loại qua sinh sản nghĩa là truyền lại một bản tính loài người đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Do đó, nguyên tội được gọi là “tội” do loại suy : đó là một thứ tội con người bị “nhiễm” chứ không phải đã “phạm”; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.
405 2515 1264
Tội ấy mặc dầu truyền đến mỗi người ( x. Cđ Tren-tô: DS.l5l3), nhưng không hề mang tính cách một tội riêng nơi bất kỳ ai trong con cháu A-đam. Nguyên tội làm mất đi sự thánh thiện và công chính ban đầu, nhưng không làm hư hoại hoàn toàn bản tính loài người : Bản tính loài người chỉ bị thương tổn trong các khả năng tự nhiên, bị lâm cảnh mê muội, đau khổ và phải chết, ( hướng chiều về tội lỗi, hướng chiều này được gọi là “vật dục"). Khi ban cho con người đời sống ân sủng của Đức Ki-tô, bí tích Thánh Tẩy cũng xóa bỏ nguyên tội và quy hướng con người về Thiên Chúa; nhưng hậu quả của nguyên tội trên bản tính bị suy yếu và nghiêng chiều về sự dữ, vẫn tồn tại nơi con người và đòi buộc con người phải chiến đấu luôn mãi.

406


Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền nguyên tội đã được minh định, vào thế kỷ V, đặc biệt là qua tư duy của Thánh Âu-tinh chống lại giáo thuyết Pélagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc cải cách Tin Lành. Theo Pélagiô, với khả năng tự nhiên của ý chí tự do, con người không cần ơn Thiên Chúa trợ giúp cũng có thể sống tốt lành về mặt luân lý. Ông giản lược ảnh hưởng tội A-đam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Ngược lại, những nhà Cải Cách đầu tiên chủ trương nguyên tội đã làm con người hoàn toàn sa đọa và tiêu hủy sự tự do của con người; họ đồng hóa tội truyền đến mỗi người với xu hướng về sự dữ mà họ cho là không thể khắc phục được. Hội Thánh làm nổi bật ý nghĩa công bố đã xác định nội dung mặc khải về nguyên tội đặc biệt tại công đồng Orange II năm 529 ( DS 37l-372) và Công Đồng Tren-tô năm l546 (x.DS l5l0-l5l6).
Một cuộc chiến cam go

407 2015 2852 1888


Giáo lý về nguyên tội gắn liền với giáo lý về ơn cứu chuộc nhờ Đức Ki-tô, giúp ta biết nhận định sáng suốt về hoàn cảnh và hành động của con người nơi trần thế. Vì nguyên tổ phạm tội, ma quỷ đã phần nào thống trị trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Hậu quả của nguyên tội là con người phải làm nô lệ dưới quyền kẻ bá chủ sự chết là ma quỉ ( x. Cđ Tren-tô : x.DS.l5ll - Dt 2,l4). Nếu không biết bản tính con người đã bị thương tổn, nghiêng chiều về sự dữ, người ta có nguy cơ mắc phải những lầm lẫn nghiêm trọng trong lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội ( x. CA 25) và luân lý.
408 1865
Các hậu quả của nguyên tội và của tất cả các tội riêng của con người đưa toàn bộ thế giới vào một tình trạng tội lỗi mà chúng ta có thể dùng cách nói của Thánh Gio-an để diễn tả : “tội trần gian” (Ga l,29). Với thành ngữ này, người ta muốn nhấn mạnh ảnh hưởng tiêu cực trên con người do các hoàn cảnh và cơ cấu xã hội, vốn là hậu quả của những tội lỗi ( x. RP l6).
409 2516
Hoàn cảnh bi đát của trần thế “nằm dưới ách thống trị của ác thần” (lGa 5,l9) ( x. lPr 5,8) làm cho cuộc sống con người trở nên một cuộc chiến đấu.
Một cuộc chiến cam go chống lại quyền lực bóng tối tiếp diễn suốt trong lịch sử nhân loại; khởi đầu từ lúc khai nguyên và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như Lời Chúa phán... Dấn thân vào cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với sự thiện và chỉ đạt được sự thống nhất nội tâm, sau khi hết sức cố gắng với sự trợ giúp của ơn Chúa (x. GS 37,2 ).
IV. “THIÊN CHÚA ĐÃ KHÔNG BỎ MẶC CON NGƯỜI DƯỚI QUYỀN SỰ CHẾT”
410 55, 705 1609, 2568 675
Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Ngược lại, Thiên Chúa kêu mời con người và tiên báo cách huyền nhiệm sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sa ngã sẽ được nâng dậy. Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là “Tiền Tin Mừng” vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Mê-si-a cứu chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và người nữ và về chiến thắng cuối cùng của một hậu duệ người nữ này.

411 359,615 491


Truyền thống Ki-tô giáo nhận ra trong đoạn trên lời tiên báo một “A-đam mới” (x. 1Cr.l5,21-22.45), Đấng “vâng phục cho đến chết trên thập giá” (Pl 2,8), đã sửa lại sự bất tuân của A-đam mà còn mang lại ân sủng tràn đầy. Vả lại, có nhiều giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Ma-ri-a, Mẹ Đức Ki-tô, là người nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng và được xem như “E-và mới”. Mẹ là người đầu tiên đã thừa hưởng một cách độc nhất vô nhị chiến thắng của Đức Ki-tô trên tội lỗi : Mẹ đã không hề nhiễm vết nhơ nguyên tội (x. Pi-ô IX - DS 28O3) và nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Mẹ đã không hề phạm một tội nào trong suốt cuộc đời trần thế (Cđ Tren-tô. DS.l573).

412 310, 395 272 1994


Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội ? Thánh Lê-ô Cả trả lời : “Ân sủng khôn tả của Đức Ki-tô, đem lại cho ta những điều tốt đẹp hơn những gì mà vì ganh ghét ma quỉ đã cướp mất” (Bài giảng 73,4), và thánh Tô-ma A-qui-nô cũng nói : “Sau khi con người đã phạm tội, không có gì ngăn cản bản tính loài người đượchướng về một cứu cánh cao đẹp hơn”. Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để từ sự dữ rút ra sự lành tốt hơn. Do đó, thánh Phao-lô nói : “Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng cũng được thông ban dư dật” (Rm 5,20); và Hội Thánh hoan ca khi chúc lành nến Phục Sinh : “Nguyên tội hỡi, tội hoá thành hồng phúc, nhờ có ngươi, ta mới được Đấng Cứu Tinh cao cả dường này” (T.Tôma S.th III,1,3 ad 3).
TÓM LƯỢC
413
”Thiên Chúa không tạo ra sự chết. Người chẳng vui thích gì khi các sinh linh hư mất ...Cái chết đã xâm nhập vào trần thế do lòng ghen ghét của ma quỷ (Kn l,l3; 2,24)”.
414
Xa-tan hoặc ma quỉ và các ác thần khác là những thiên thần sa đọa vì đã tự ý khước từ phục vụ Thiên Chúa và ý định của Người. Đây là một lựa chọn dứt khoát chống lại Thiên Chuá. Chúng đã có dụng ý lôi kéo con người cùng với chúng nổi loạn chống lại Thiên Chúa.
415
“Được Thiên Chúa đặt trong tình trạng thánh thiện, ngay từ phút đầu của lịch sử, con người nghe theo thần dữ nên đã lạm dụng tự do của mình khi nổi dậy chống lại Thiên Chúa và muốn đạt tới cứu cánh của mình ngoài Thiên Chúa”

(GS l3,1) .


416

A-đam, con người đầu tiên, vì phạm tội đã đánh mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy được Thiên Chúa ban, không những cho mình mà cho cả nhân loại.


417
A-đam và E-và đã truyền lại cho hậu duệ một nhân tính bị tội đầu tiên làm tổn thương, không còn sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Sự mất mát đó được gọi là “nguyên tội”.
418
Hậu quả của nguyên tội là bản tính loài người bị suy yếu trong các khả năng, lâm cảnh mê muội, bị sự chết thống trị, hướng chiều về tội lỗi (hướng chiều này gọi là “vật dục") và như thế, mỗi người đều mắc nguyên tội.

419
“Cùng với Công Đồng Tren-tô chúng tôi xác quyết nguyên tội được lưu truyền lại cùng với bản tính nhân loại “không phải do bắt chước mà do sinh sản” và từ đó, nguyên tội trở nên của mỗi người” (SPF l6).

420
Đức Ki-tô chiến thắng tội lỗi đã mang lại cho chúng ta những ân huệ cao đẹp hơn những gì tội lỗi đã làm mất đi : “Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng được thông ban dư đầy” (Rm 5,2O).

421
“Người Ki-tô hữu tin rằng thế giới này đã được thiết lập và giữ gìn nhờ tình yêu của Đấng Sáng Tạo, tác thành và bảo trì. Thế giới ấy đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi; nhưng Đức Ki-tô đã nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh bẻ gẫy uy quyền của ác thần và giải thoát thế giới” (GS 2,2).


CHƯƠNG HAI
TÔI TIN KÍNH ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ,CON MỘT THIÊN CHÚA
Tin Mừng : Thiên Chúa đã cử Con Một đến
422 398, 2763
”Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con Mình tới, sinh làm con một người nữ và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Ga 4,4-5). Đây là “Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa” (Mc l,l) : Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người ( x. Lc 1,68). Người đã thực hiện lời hứa với Áp-ra-ham và con cháu ông (x.Lc l,55). Người đã thực hiện hơn cả điều chúng ta mong ước : Người đã cử “Con yêu dấu” của Người đến (Mc l,ll).
423
Chúng tôi tin và tuyên xưng rằng : Đức Giê-su Na-da-rét, dưới thời Vua Hê-rô-đê ca<150) và Hoàng đế Xê-da-rê Âu-gut-tô, sinh làm người Do Thái, con một người con gái của Ít-ra-en, tại Bê-lem, làm nghề thợ mộc, chết trên thập giá tại Giê-ru-sa-lem, thời tổng trấn Phông-xi-ô Phi-la-tô, dưới triều Hoàng đế Ti-bê-ri-ô. Người là Con Vĩnh Cửu của Thiên Chúa, “bởi Thiên Chúa mà đến” (Ga l3,3), “Đấng từ Trời xuống” (Ga 3,l3; 6,33), “đến trong xác phàm” (l Ga 4,2); vì “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được nhìn thấy Vinh Quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy tràn ân sủng và chân lý (...). Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga l,l4.l6).
424 638 552
Nhờ Thánh Thần tác động và nhờ Chúa Cha lôi kéo, chúng tôi tin và tuyên xưng về Đức Giê-su như sau : “Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt l6,l6). Chính trên tảng đá đức tin này như thánh Phê-rô tuyên xưng, Đức Ki-tô đã xây dựng Hội Thánh của Người ( x.Mt l6,l8; T. Lê-ô cả, bài giảng 4,3; 5l,l; 62,2; 83,3).
“Loan báo sự phong phú khôn lường của Đức Ki-tô” (Ep 3,8)

425 850, 858


Truyền đạt đức tin Ki-tô giáo, trước tiên là loan báo Đức Giê-su Ki-tô, để dẫn đưa mọi người đến chỗ tin vào Người. Ngay từ đầu, các môn đệ đầu tiên đã khao khát loan báo Đức Ki-tô : “Còn phần chúng tôi, chúng tôi không thể không công bố những gì chúng tôi đã thấy và đã nghe” (Cv 4,20) và đã kêu mời con người trong mọi thời đại vào hưởng niềm vui hiệp thông với Đức Ki-tô :
”Điều chúng tôi đã được nghe, điều chính mắt chúng tôi đã được nhìn thấy và chiêm ngưỡng, điều chính tay chúng tôi đã được sờ đến, về Lời Sự Sống; quả vậy, sự sống đã xuất hiện, chúng tôi đã nhìn thấy và xin làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em Sự Sống đời đời hằng ở bên cạnh Chúa Cha và nay đã xuất hiện cho chúng ta; điều chúng tôi đã được thấy, được nghe, chúng tôi xin loan báo cho anh em, để cả anh em nữa cũng được hiệp thông với chúng tôi mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và Đức Giê-su Ki-tô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra cho anh em để niềm vui của chúng tôi được trọn vẹn”

(lGa l,l-4).


Trọng tâm của huấn giáo : Đức Ki-tô

426 1698 513 260


“Trọng tâm của huấn giáo là một Con Người, con người của Đức Giê-su Na-da-rét, Con Một của Chúa Cha ... đã chịu khổ hình, chịu chết vì chúng ta và nay sống lại, sống mãi mãi với chúng ta .... Dạy giáo lý ... là giúp người ta khám phá nơi con ngươì của Đức Ki-tô tất cả ý định muôn đời của Thiên Chúa. Đó là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của Đức Ki-tô, cùng những dấu chỉ Người thực hiện” ( CT 5). Mục đích của huấn giáo là “đưa con người đến hiệp thông với Đức Giê-su Ki-tô : chỉ một mình Người mới dẫn ta đến tình yêu Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và cho ta thông dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh” (Ibid )
427 2146 876
“Trong huấn giáo, ta giảng dạy về Đức Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể và Con Thiên Chúa; tất cả những điều khác được giảng dạy quy chiếu về Người; chỉ một mình Đức Ki-tô giảng dạy, còn bất cứ ai giảng dạy đều phải giảng dạy như phát ngôn viên của Người, để Đức Ki-tô dạy qua miệng lưỡi họ... mọi giáo lý viên đều phải áp dụng cho mình lời nói nhiệm mầu của Đức Giê-su : “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi” (Ga 7,l6).
428
Người nào được mời gọi “giảng dạy về Đức Ki-tô” trước hết phải tìm “mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki-tô”; phải “mất hết ... để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người”, và để “biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, để nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết ” (Pl 3,8-ll).
429 851
Việc nhận biết Đức Ki-tô và tâm tình yêu mến sẽ khơi dậy nơi chúng ta khát vọng loan báo về Người, phúc âm hóa và giúp mọi người tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Đồng thời, người ta luôn cảm thấy cần phải đào sâu đức tin này hơn. Nhằm mục đích đó, theo thứ tự của kinh Tin Kính, trước hết chúng tôi sẽ trình bày các danh hiệu chính của Đức Giê-su : Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đức Chúa (mục 2). Kế đó là các mầu nhiệm chính yếu của cuộc đời Đức Ki-tô : Nhập Thể mục 3), Vượt Qua (mục 4 và 5) và Tôn Vinh

(mục 6 và 7).

Mục 2

“Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô, là Con Một Đức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi”


I. ĐỨC GIÊ-SU
430 210 402
Trong tiếng Hip-ri, danh thánh “Giê-su” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Khi truyền tin, thiên thần Gáp-ri-en gọi tên Người là Giê-su; danh xưng này vừa diễn tả căn tính, vừa diễn tả sứ mạng của Người (x. Lc 1.31). Bởi vì “chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội”

(Mc 2,7), cho nên chính Thiên Chúa trong Đức Giê-su là Chúa Con Vĩnh Cửu làm người” sẽ cứu dân Mình khỏi tội” (Mt l,2l). Như thế, trong Đức Giê-su, Thiên Chúa qui tụ tất cả lịch sử cứu độ nhân loại.


431 ?850,1441 388
Trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa không chỉ bằng lòng với việc giải thoát Ít-ra-en khỏi “nhà nô lệ” (Đnl 5,6) khi đưa họ ra khỏi Ai-cập, Người còn cứu thoát họ khỏi tội lỗi nữa. Vì tội luôn là một xúc phạm đến Thiên Chúa (x.Tv 51,6), nên chỉ Thiên Chúa mới có thể tha thứ được (x.Tv 51,12). Do đó, dân Ít-ra-en càng nhận thức được tính phổ quát của tội lỗi, càng thấy chỉ có thể tìm được cứu độ trong việc cầu khẩn danh Thiên Chúa cứu chuộc (x. Tv 79,9).
432 589,2666 389 161
Danh xưng Giê-su cho thấy chính danh thánh Thiên Chúa hiện diện trong con người Chúa Con ( x. Ga 3,5; Cv 2,21), Đấng làm người để cứu chuộc mọi người khỏi tội cách dứt khoát. Danh xưng Giê-su là danh xưng thần linh, danh xưng duy nhất mang lại ơn cứu độ. Từ nay mọi người có thể kêu cầu Danh Giê-su, vì nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, danh xưng ấy đã liên kết với tất cả mọi người, đến nỗi “dưới gầm trời này không danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ vào Danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12) ( x. Lv 16, 15-16;GV 50,20; Dt 9,7).
433 615
Xưa kia, mỗi năm một lần, vị Thượng Tế kêu cầu danh Thiên Chúa Cứu Chuộc để xá tội dân Ít-ra-en, khi ông rảy máu hy tế lên bàn xá tội trong nơi cực thánh. Bàn xá tội là nơi Thiên Chúa hiện diện ( x. Xh 25,22; Lv 16,2; Ds 7,89; Dt 9,5). Khi thánh Phao-lô nói rằng “Thiên Chúa đã định cho Đức Giê-su phải đổ máu mình ra làm phương thế xá tội” (Rm 3,25), ngài muốn nói rằng qua bản tính nhân loại của Đức Ki-tô, “chính Thiên Chúa đã hòa giải nhân loại với Người"(2 Cr 5,l9).
434 2812
Sự sống lại của Đức Giê-su tôn vinh danh Thiên Chúa cứu độ ( x. Ga 12,28), vì từ nay chính danh Giê-su bày tỏ trọn vẹn quyền năng tối thượng của “Danh hiệu trổi vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2,9-l0). Các thần dữ khiếp sợ Danh Người ( x. Cv 16,16-18). Nhờ Danh đó các môn đệ của Đức Giê-su thực hiện các phép lạ (x. Mc 16,17), bơ<150)i vì tất cả những gì họ xin Chúa Cha nhân danh Người, Chúa Cha sẽ nhận lời (x. Ga l5,l6).
435 2667- 2668 2676
Danh xưng Giê-su là trọng tâm của kinh nguyện Ki-tô giáo. Tất cả các lời nguyện trong phụng vụ đều kết thúc bằng câu: “Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con”. Kinh “Kính Mừng Ma-ri-a” đạt tới đỉnh cao trong câu “và Giê-su, con lòng Bà đầy ơn phúc”. Lời tâm nguyện Phương Đông thường gọi là “Lời cầu khẩn Đức Giê-su : “Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa , xin thương xót con là kẻ có tội”. Như Thánh Gian-Đắc (Jeanne d'Arc), nhiều Ki-tô hữu chỉ kêu tên “Giê-su” khi hấp hối.
II. ĐỨC KI-TÔ

436 690,695 711-716 783


“Ki-tô” là phiên âm một từ Hy lạp dịch từ tiếng Hy-pri là “Mê-si-a” nghĩa là “được xức dầu”. Danh xưng này trở thành tên riêng của Đức Giê-su vì Người đã chu toàn tuyệt hảo sứ mạng thần linh bao hàm trong danh xưng đó. Quả thế, trong Ít-ra-en, những người được thánh hiến để thi hành một sứ mạng Thiên Chúa giao phó đều được xức dầu nhân danh Thiên Chúa. Đó là trường hợp của các vua ( x. l V 1, 39), các tư tế ( x. Xh 29,7; Lv 8,12) và đôi khi cả các ngôn sứ nữa ( x. 1V 19,16). Vậy càng đúng hơn cho trường hợp của Đấng Mê-si-a do Thiên Chúa cử đến để thiết lập dứt khoát Vương Quốc của Người ( x. Tv 2,2; Cv 4,26-27). Đấng Mê-si-a phải được Thánh Thần Chúa xức dầu ( x Is 11,2), vừa để làm Vua và tư tế ( x. Gcr 4,14; 6,13), vừa để làm ngôn sứ nữa ( x. Is 61,1; Lc 4, 16-21). Đức Giê-su đã thực hiện niềm hy vọng về Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en qua ba sứ vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế .
437 525, 486
Thiên thần đã loan báo cho các mục đồng việc Đức Giê-su ra đời như Đấng Mê-si-a đã được hứa ban cho Ít-ra-en : “Hôm nay, Đấng Cứu Độ anh em đã ra đời trong thành Vua Đa-vit, Người là Đấng Ki-tô, là Đức Chúa” (Lc 2,ll). Ngay từ khởi đầu, Chúa Giê-su là “Đấng Chúa Cha đã hiến thánh và cử xuống thế gian” (Ga l0,36), được cưu mang như “Đấng Thánh” (Lc l,35) trong lòng dạ trinh khiết của Đức Ma-ri-a. Thánh Giu-se được Thiên Chúa kêu gọi “đón vợ ông là bà Ma-ri-a về nhà, vì con Bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt l,20), để Đức Giê-su “mà người ta gọi là Đức Ki-tô”, được bạn trăm năm của thánh Giu-se sinh ra trong dòng dõi Đa-vit, dòng dõi Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Mê-si-a ( Mt l, l6) ( x. Rm l,3; 2Tm.2,8; Kh 22,l6).
438 727 535
Việc Đức Giê-su được hiến thánh làm Đấng Mê-si-a bày tỏ sứ mạng thần linh của Người. “Chính tên của Người chỉ rõ điều đó, vì danh hiệu “Ki-tô” ám chỉ Đấng xức dầu, Đấng được xức dầu, và chính việc xức dầu: Đấng xức dầu là Chúa Cha, Đấng được xức dầu là Chúa Con và Chúa Con được xức dầu trong Chúa Thánh Thần, và Chúa Thánh Thần là sự xức dầu” ( x. T. I-rê-nê, chống lạc giáo 3,l8,3). Việc Đức Giê-su được hiến thánh để làm Đấng Mê-si-a từ muôn đời được mặc khải trong cuộc đời trần thế của Người, khi chịu phép rửa của ông Gio-an, lúc “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng xức dầu tấn phong Người” (Cv l0,38) “để Người xuất hiện trước Ít-ra-en” (Ga l,3l) như Đấng Mê-si-a. Những việc Người làm và những lời Người nói, giúp cho chúng ta nhận biết Người là “Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mt l,24; Ga 6, 69; Cv 3,l4).

439 528-529 547


Nhiều người Do Thái, kể cả một số người ngoại cùng chia sẻ niềm hy vọng của ít-ra-en, đã nhận ra nơi Đức Giê-su những nét cơ bản của “Con vua Đa-vít” là Đấng Mê-si-a mà Thiên Chúa đã hứa ban cho Ít-ra-en ( x. Mt 2,2; 9,27, l2,23; l5,22; 20,30; 2l,9.l5). Đức Giê-su đã chấp nhận danh hiệu Mê-si-a mà Người có quyền lãnh nhận ( x. Ga 4,25-26; ll,27;), nhưng một cách dè dặt vì danh hiệu này bị một số người đương thời hiểu theo một quan niệm trần tục ( x. Mt.22,4l-46) nặng phần chính trị ( x. Ga 6,l5; Lc.24,2l).
440 552 550 443
Khi thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a, Người chấp nhận và liền đó tiên báo cuộc khổ nạn của Con Người. ( x. Mt.l6,l6-23). Người đã mặc khải vương quyền Đấng Mê-si-a của Người, một mặt hệ tại căn tính siêu việt của Con Người ” từ trời xuống” (Ga 3,l3) ( x. Ga 6,62; Đn 7,l3) và mặt khác trong sứ mệnh cứu chuộc như Người Tôi Tớ đau khổ : “Con Người đến, không phải để được kẻ hầu người hạ nhưng là để hầu hạ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 2<179)0,28) ( x. Is 53,l0-l2). Do đó ý nghĩa thật sự về vương quyền của Người chỉ được biểu lộ trên Thập Giá ( x. Ga l9,ll-22; Lc 23,39-43). Chỉ sau khi sống lại, Vương Quyền Mê-si-a này mới được thánh Phê-rô công bố trước mặt dân Thiên Chúa : “Vậy toàn thể nhà Ít-ra-en phải biết chắc điều này : Đức Giê-su mà anh em đã treo trên Thập Giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Ki-tô” (Cv 2,36).
III. CON MỘT ĐỨC CHÚA CHA
441
Trong Cựu Ước “Con Thiên Chúa” là danh hiệu ban cho các thiên thần ( x. Đnl (LXX) 32,8; G l,6), dân được tuyển chọn ( x. Xh 4,22; Hs ll,l; Gr 3,l9; GV 36,ll; Kn l8,l3), con cái Ít-ra-en ( x. Đnl l4,l; Hs 2,l) và các vị vua của họ ( x. 2Sm 7,l4; Tv 82,6). Trong những trường hợp ấy, danh hiệu nầy nói lên quan hệ nghĩa tử. Quan hệ này tạo ra những mối liên hệ thân tình đặc biệt giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Khi được gọi là Con Thiên Chúa ( x. 1Sbn 17,13; Tv 2,7), vị Vua Mê-si-a của lời hứa không nhất thiết pha<150)i trổi vượt hơn phàm nhân, nếu theo sát nghĩa đen của các bản văn. Những người coi Đức Giê-su như Đấng Mê-si-a của Ít-ra-en ( x. Mt 27,54) có lẽ cũng không muốn nói gì hơn (x. Lc.23,47).
442 552 424
Trường hợp thánh Phê-rô thì khác, vì khi ông tuyên xưng Đức Giê-su là “Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 6,l6), Đức Giê-su đã long trọng trả lời : “Phàm nhân không tài nào mặc khải cho anh điều đó được, nhưng chính là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mặc khải cho anh” (Mt l6,l7). Cũng thế, thánh Phao-lô khi đề cập đến việc ngài hoán cải trên đường đi Đa-mát đã nói : “Thiên Chúa đã chọn tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, đã kêu gọi tôi, Người đã thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo về Con của Người cho các dân ngoại...” (Gl l,l5-l6). “Lập tức, ông bắt đầu rao giảng trong các hội đường rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa” (Cv 9,20). Điều này ngay từ đầu đã trở thành trọng tâm của đức tin tông truyền ( x. Ga 20,3l) do chính thánh Phê-rô là người tuyên xưng đầu tiên với tư cách là nền tảng Hội Thánh (x.Mt l6,l8).

443 2786
Nếu thánh Phê-rô có thể nhận ra Đức Giê-su Mê-si-a là Con Thiên Chúa trong tính chất siêu việt thì rõ ràng là nhờ Chúa đã giúp cho ông hiểu như thế. Trước công nghị khi những kẻ buộc tội hỏi : “Vậy Ông là Con Thiên Chúa sao? ” Đức Giê-su trả lời : “Đúng như các ông nói đó, Tôi là Con Thiên Chúa” (Lc 22,70) ( x.Mt 26,64; Mc.l4,6l). Trước đó, Người tự xưng mình là “Con” biết rõ Cha ( x.Mt.ll,27; 2l,37-38); Người phân biệt mình với các “tôi tớ” khác mà trước kia Thiên Chúa đã sai đến với dân; Người ( x.Mt.2l,34-36) vượt trên cả các thiên thần ( x.Mt.24,36). Người cho thấy tư cách là “Con” của Mình khác với các môn đệ vì không bao giờ Người gọi “Cha chúng ta”, trừ lúc ra lệnh : “Anh em phải cầu nguyện như thế này : “Lạy Cha chúng con” ( x.Mt.5,48; 6,8; 7,2l; Lc.ll,l3) (Mt 6,9). Và Người nhấn mạnh sự khác biệt đó : “Cha của Thầy và Cha của anh em” ( Ga 20,17).

444 536, 554
Vào hai thời điểm quan trọng, Phép Rửa và Hiển Dung của Đức Ki-tô, các sách Tin Mừng ghi lại tiếng Chúa Cha gọi Đức Giê-su là “Con yêu dấu” ( x.Mt.3,l7; l7,5) của Người. Chính Đức Giê-su cũng tự xưng là “Con Một của Thiên Chúa” (Ga 3,l6) và qua danh hiệu đó, xác nhận Mình tiền hữu từ muôn thuở ( x.Ga l0,36). Người đòi phải tin vào “danh Con Một Thiên Chúa” (Ga 3,l8). Lời tuyên xưng này của Ki-tô giáo đã xuất hiện ngay từ trong tiếng kêu của viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su trên Thập Giá : “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mc l5,39). Chỉ trong mầu nhiệm Phục Sinh, người tín hữu mới hiểu được đầy đủ danh hiệu “Con Thiên Chúa”.
445 653
Sau Phục sinh, bản tính Con Thiên Chúa của Đức Ki-tô mới tỏ rạng trong quyền năng nhân tính được tôn vinh. “Xét như Đấng đã được Thánh Thần thánh hóa, do việc Người từ cõi chết sống lại, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm l,4) ( x. Cv l3,33). Các tông đồ có thể tuyên xưng : “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người là Con Một đầy tràn ân sủng và chân lý”

(Ga l,l4).


IV. ĐỨC CHÚA
446 209
Trong bản dịch các sách Cựu ước ra tiếng Hy lạp, danh xưng khôn tả (YHWH) mà Thiên Chúa mặc khải cho Mô-sê, được dịch là “Kyrios” (Đức Chúa). Từ đó, “Đức Chúa” trở thành danh xưng thông dụng nhất để chỉ chính thiên tính của Thiên Chúa Ít-ra-en. Tân Ước không những dùng nghĩa mạnh của danh xưng “Đức Chúa” để nói về Chúa Cha, nhưng thêm điều mới là dùng cả cho Đức Giê-su, được nhìn nhận là Đức Chúa như chính Thiên Chúa vậy ( x. 1Cr 2,8).
447 548
Chính Đức Giê-su cũng tự nhận danh hiệu ấy một cách kín đáo khi tranh luận với các người Pha-ri-sêu về ý nghĩa thánh vịnh ll0 ( x. Mt 22,41-46; Cv 2, 34-36; Dt 1,13) và một cách rõ rệt khi nói chuyện với các Tông đồ. Trong suốt thời công khai, Đức Giê-su thực hiện những hành vi đầy quyền năng trên thiên nhiên, bệnh tật, ma quỷ, sự chết và tội lỗi; điều này cho thấy Người có quyền tối thượng của Thiên Chúa.

448 208, 683 641




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương