Giải pháp cho các tiết dạy kỹ năng nghe



tải về 2.09 Mb.
Chuyển đổi dữ liệu29.11.2017
Kích2.09 Mb.
#3292

SKKN: Ứng dụng phương pháp dạy ngữ âm – từ vựng trong việc dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp.



PHẦN MỞ ĐẦU

I. Bối cảnh của đề tài

Mục tiêu hàng đầu của việc học ngoại ngữ, như chúng ta luôn hướng tới, là đưa nó vào sử dụng trong cuộc sống và công việc của mỗi cá nhân. Mục tiêu này được khẳng định về độ quan trọng trong nhiều văn bản, trong các lớp tập huấn cho giáo viên về phương pháp dạy ngoại ngữ nhằm “ rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn” (Trích: Quyết định số 16/2006/QĐ- BGD ĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT về Đổi mới phương pháp dạy học chương trình giáo dục phổ thông). Làm thế nào để đưa ngoại ngữ vào trong giao tiếp hàng ngày biến nó thực sự là ngôn ngữ sống là một câu hỏi được đặt ra đầu tiên dành cho người dạy. Khi nghiên cứu đề tài “Phương pháp dạy ngữ âm – từ vựng” (SKKN loại A - thực hiện năm 2011), tôi đã hình thành trong suy nghĩ một số chuyên đề tiếp theo nhằm ứng dụng và phát triển kết quả đạt được của sáng kiến kinh nghiệm này. Được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp, kết hợp với quá trình tự học, tự bồi dưỡng cùng với những kiến thức mới được tiếp thu trong chương trình tập huấn Phát triển nguồn lực giáo viên Tiếng Anh vùng trung du và miền núi phía Bắc do Trung tâm Phát triển nguồn lực Ngoại ngữ Đại học Thái Nguyên (CFORD) tổ chức, tôi tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu và xin được trình bày thêm một số ‎ ý kiến về việc dạy ngữ âm – từ vựng và ứng dụng nó trong việc dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp.



II. Lý do chọn đề tài

Trong các giai đoạn phát triển của thế giới , ngoại ngữ, đặc biệt là Tiếng Anh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp hình thành và gắn kết mối quan hệ ngoại giao đa quốc gia. Tiếng Anh thực sự đã và đang là một ngôn ngữ không chỉ trong lĩnh vực giao tiếp quốc tế mà còn là ngôn ngữ của nhiều ngành khoa học, công nghệ thông tin, văn hóa xã hội, du lịch , thương mại .... . Xác định được tầm quan trọng của ngoại ngữ này, ngành giáo dục Việt Nam rất chú trọng việc dạy Tiếng Anh ở tất cả các bậc học. Như chúng ta đã biết , học ngoại ngữ bao gồm sự phối hợp của bốn kỹ năng : nghe, nói, đọc, viết, và sản phẩm trực tiếp của quá trình học là kỹ năng sản sinh thông qua nói, viết. Theo quan điểm biên soạn của chương trình, sách Tiếng Anh chú trọng phát triển các kỹ năng ngôn ngữ nhất

là kỹ năng giao tiếp, lấy giao tiếp là sản phẩm đích, tiếng Anh là ngôn ngữ đích (target language) của quá trình giáo dục. Tuy nhiên giữa l‎ý thuyết về dạy kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp và khả năng vận dụng tiếng Anh vào giao tiếp của học sinh Việt Nam nói chung và học sinh tỉnh Lai Châu của chúng ta nói riêng là một đề không nhỏ. Phải thẳng thắn nhìn nhận rằng việc dạy ngữ âm, nhất là trọng âm của từ, ngữ điệu của câu, kết hợp đưa từ vựng - ngữ pháp với ngữ âm - ngữ điệu vào trong giao tiếp không chỉ của học sinh mà cả đội ngũ giáo viên còn rất nhiều hạn chế. Với sự tâm huyết của mình với nghề giáo cùng tình yêu với phân môn Tiếng Anh, tôi muốn dần dần hình thành cho học sinh của mình thói quen và sự tự tin hơn khi sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống sinh hoạt, đặc biệt là khi các em có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài. Điều này lôi cuốn tôi tiếp tục nghiên cứu và phát triển đề tài mình đã thực hiện năm 2011 với tiêu đề Ứng dụng phương pháp dạy ngữ âm – từ vựng trong việc dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp.

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Với đối tượng là học sinh THPT của một huyện miền núi, môi trường sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp gần như không có, cơ hội tiếp xúc và sử dụng Anh ngữ với người bản địa rất ít, bên cạnh đó kiến thức, kỹ năng và quan trọng hơn cả là tâm l‎ý ngại giao tiếp làm cho việc đưa tiếng Anh vào môi trường sinh hoạt còn nhiều hạn chế. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học đồng thời làm cho mục tiêu dạy học ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp khó có thể thực hiện được.Với đề tài này, đối tượng phạm vi tôi tập trung nghiên cứu và áp dụng là học sinh THPT lớp 10 (hệ 7 năm) và lớp 12 ( hệ 7 năm- Chương trình chuẩn) theo phương pháp thực nghiệm đối chứng.

IV. Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp giúp học sinh vận dụng kiến thức ngữ pháp, từ vựng - ngữ âm vào trong giao tiếp thông thường, qua đó tự nâng cao kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp cho bản thân, đồng thời tôi cũng mong muốn được trao đổi, chia xẻ một vài phương pháp về hình thành kỹ năng giao tiếp cho học sinh với các bạn đồng nghiệp.


V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

Đề tài tóm lược lý thuyết về sử dụng ngữ âm – từ vựng trong việc dạy nói, tăng cường các thủ thuật dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp. Đề tài đồng thời cũng khái quát sơ qua về ba mức độ thường gặp trong nghĩa của từ (Positive & Negative meaning, Neutral), cách cơ bản trong việc nhấn trọng âm của câu để giúp học sinh có những nhận biết ban đầu về cách chọn mức độ dùng từ và sử dụng trọng âm, ngữ điệu câu trong giao tiếp một cách có hiệu quả.


PHẦN NỘI DUNG

I. Cơ sở lý luận

Ngôn ngữ, một sản phẩm trí tuệ tuyệt vời của loài người, đã tồn tại dưới hình thức âm thanh ngay từ khi mới xuất hiện và cũng nhờ có ngôn ngữ mà con người giao tiếp được với nhau. Có rất nhiều sinh ngữ (Living languges) tồn tại trên thế giới và tiếng Anh được chọn là một trong những ngôn ngữ giao tiếp quốc tế, do đó nó có phạm vi sử dụng rộng khắp thế giới. Xu hướng dạy tiếng Anh hiện nay là nhằm đạt được mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho người học (communicative competence). Vì thế, nếu học sinh chỉ mới có kiến thức nền về ngữ pháp (grammatical) và từ vựng (lexical) thì cũng chưa chắc đã có kỹ năng tốt về sử dụng kiến thức đó trong giao tiếp vì giao tiếp đòi hỏi con người phải có thêm năng lực về sử dụng ngôn ngữ (linguistic competence).

Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ người với người nhằm hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thực hiện công việc giao tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau : giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với một nhóm người ........ Có thể nói, giao tiếp là cầu nối gắn kết các mối quan hệ.

Kỹ năng giao tiếp là một tập hợp các quy tắc, cách đối đáp, ứng xử trong thực tế sinh hoạt hàng ngày giúp con người đạt được hiệu quả nhất định trong một cuộc nói chuyện, từ đó có thể khẳng định thiếu kỹ năng này, giao tiếp sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn.

Từ l‎ý thuyết trên, ta thấy có mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giao tiếp. Ngôn ngữ giúp cho việc giao tiếp dễ dàng hơn, giao tiếp nhiều giúp cho việc sử dụng ngôn ngữ linh hoạt hơn. Do đó, học ngoại ngữ là học cách nói ngôn ngữ đó, biến nó trở thành ngôn ngữ sống, sử dụng nó một cách tự nhiên (native) và tự động (automatic).

II. Thực trạng của vấn đề

Thông thường khi dạy ngoại ngữ, giáo viên thường chú trọng dạy ngữ pháp, cấu trúc rồi đến từ vựng. Tuy nhiên, ngữ pháp không phải là kết quả cuối cùng của quá trình học ngôn ngữ mà ngữ pháp là công cụ giúp người học giao tiếp hiệu quả hơn. Vì thế, trong cả các tiết dạy kỹ năng nói bao giờ cũng có phần dành cho việc dạy nhanh các cấu trúc ngữ pháp, giới thiệu từ vựng phục vụ cho bài học. Song trong thực tế, giữa tiếng Anh nói (spoken English) và tiếng Anh viết (written English) có khá nhiều khác biệt. Tiếng Anh viết đòi hỏi sự chính xác về mặt câu từ, cấu trúc, trái lại tiếng Anh nói đặc biệt là tiếng Anh trong giao tiếp cần sự linh hoạt, gần gũi trong ngôn từ.

Thực tế, trong quá trình học ngoại ngữ, học sinh chú trọng vào học ngữ pháp vì chủ yếu các bài kiểm tra đòi hỏi việc vận dụng ngữ pháp, các bài thi không có hoặc gần đây có rất ít các bài tập yêu cầu sử dụng ngôn ngữ giao tiếp dẫn tới việc học tiếng Anh và vận dụng nó vào thực tế sử dụng chưa được cả giáo viên và học sinh chú trọng. Lâu dần các em mất đi khả năng giao tiếp. Bên cạnh đó, hạn chế về khả năng giao tiếp tiếng Anh của học sinh có một số nguyên nhân sau:

+ Môi trường sống, môi trường học tập không tạo ra động lực phải giao tiếp bằng Anh ngữ.

+ Cơ hội để tiếp xúc và sử dụng Tiếng Anh với người nước ngoài ít hoặc thậm chí không có dẫn tới sự mai một về kiến thức giao tiếp.

+ Ngữ pháp yếu, không hệ thống, từ vựng không đủ để diễn đạt ý kiến.

+ Thiếu kiến thức về giao tiếp Tiếng Anh thông dụng do nhiều chủ điểm nói trong nhiều đơn vị bài học chưa gần gũi với giao tiếp hàng ngày.

+ Chưa mạnh dạn, còn rụt rè trong sử dụng Tiếng Anh ngay cả khi thực hành trên lớp với cô giáo và các bạn.

Từ những yếu tố trên cho thấy việc rèn kỹ năng nói và kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ cho học sinh là một vấn đề nan giải. Song, trong một số nguyên nhân, giáo viên và học sinh có thể dần dần khắc phục, mà phần quyết định xuất phát từ người dạy. Do đó, trong quá trình dạy học giáo viên phải thực hiện một số việc cần thiết với phân môn này đồng thời tích cực sáng tạo trong phương pháp và linh hoạt trong sử dụng phương pháp.

III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

Như đã trình bày ở trên, thực trạng về việc sử dụng tiếng Anh trong các tiết học kỹ năng nói riêng và trong giao tiếp nói chung còn nhiều tồn tại ở tất cả các bậc học. Để cải thiện tình trạng này, tôi xin trình bày một số việc bản thân đã thực hiện và số thủ thuật kết hợp dạy từ vựng - ngữ âm trong dạy kỹ năng nói theo đường hướng giao tiếp.



1. Tạo môi trường nói tiếng Anh trong lớp học:

Ngay từ buổi học đầu tiên, giáo viên cần tạo cho học sinh có được không khí của tiết học ngoại ngữ nhất là đối với học sinh đầu cấp thông qua cách chào hỏi, tự giới thiệu về bản thân. Thường xuyên sử dụng tiếng Anh trong giờ dạy, đặc biệt là khi đưa yêu cầu, nhận xét bài hoặc khen ngợi học sinh. Tất nhiên việc sử dụng Tiếng Việt để giảng giải là điều không thể loại trừ song cần cố gắng sử dụng Anh ngữ càng nhiều càng tốt nhưng ngôn ngữ sử dụng phải có tác dụng trong việc hiểu bài và ứng dụng thực tiễn của học sinh. Nếu lần đầu nói, học sinh chưa hiểu, giáo viên có thể kết hợp song ngữ Anh- Việt, lặp lại điều này trong lần thứ 2, thứ 3 nhưng phải rèn cho học sinh ‎ý thức nghe và nhớ vì cách học tốt nhất cho bất kỳ một ngoại ngữ nào là thông qua truyền khẩu. Hãy hình thành cho học sinh thói quen sử dụng một số ngôn ngữ trong lớp học (classroom language)



Things you might say to your teacher

Things your teacher might say to you

- May I come in?/ May I go out?

- I’m sorry, I don’t understand.

- Pardon?

- What does ”chair” mean?

- How do you say ”ghế ” in English?

- How do you spell that/ this word?

- How do you pronounce this word?

- It this correct?

- What is the past of ”go”?

- What do we have to do?

- Thank you/Thank so much....


- Come in/ Go out, please.

- Open you book at page 20.

- Listen to me, please.

- Answer my questions.

- Make the questions

- Write the answers.

- Work individually/in pairs/in groups.

- Listen and repeat.

- Copy this into your notebooks.

- The homework is exercise 1, page 8

- Good!/ Very good! Well done! ....

Việc yêu cầu học sinh phải sử dụng các classroom languages sẽ tạo cho các em thói quen và sự mạnh dạn khi nói tiếng Anh với cô giáo, tạo môi trường nói tiếng Anh trong lớp học và là động lực để các em khi đã quen thuộc với những câu này sẽ muốn biết thêm những câu giao tiếp khác để không chỉ thực hiện với giáo viên mà còn với bạn bè.



2. Tạo không khí thân thiện, gần gũi trong lớp học:

Một trong những yếu tố giúp giờ học thành công là bầu không khí của lớp học. Một tiết học không thể hiệu quả khi học sinh và giáo viên làm việc với sự căng thẳng, quá trang nghiêm, nhất là trong các tiết nói. Do đó, giáo viên luôn phải là người khơi được hứng thú muốn học, muốn giao tiếp cho học sinh. Có một số nguyên tắc nên tuân theo trong dạy kỹ năng nói:

- Đừng căng thẳng, gò ép các em phải nói đúng như ‎ý đồ giáo viên thiết kế. Hãy để các em diễn đạt theo ‎ý của mình, sau đó giáo viên nhận xét, góp ‎ý.

- Không ngắt lời khi học sinh đang trình bày một vấn đề, điều này làm cho các em giảm độ hứng thú và tập trung trong quá trình nói.

- Hãy thường xuyên động viên học sinh bằng những từ khen ngợi ngắn gọn (Good! Excellent ! ....).

- Tạo không khí thoải mái, thư giãn, gần gũi trong giờ học bằng các trò chơi nhỏ có liên quan đến nội dung bài. Sau 1 nhiệm vụ (Task) của tiết học giáo viên có thể đưa ra yêu cầu với học sinh ”Now, students. You did task 1 very well and I give you three minutes off. Do you like this?/ Do you want to play a small game?” Điều này không chỉ tạo sự thoải mái cho học sinh mà còn giúp tăng tính giao tiếp giữa giáo viên với học sinh đồng thời luyện kỹ năng nghe và hình thành phản xạ đáp lời sau khi tiếp nhận thông tin được truyền đi từ người nói.



3. Dạy từ vựng kết hợp với dạy cách phát âm chuẩn xác:

- Điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình học ngoại ngữ khi giới thiệu một từ mới ngoài cách giới thiệu nghĩa, nhất thiết phải hướng dẫn học sinh cách đọc, lưu ý ‎với học sinh một số trường hợp phát âm khác từ sẽ có nghĩa khác đi.



(ví dụ: desert /'dezət/ - sa mạc desert /di: zət/- món tráng miệng ....)

4. Dạy từ vựng và giới thiệu các âm mang tính khái quát:

- Nội dung này nên áp dụng khi dạy cách phát âm một số nguyên âm ở các bài Language Focus.



Ví dụ 1: Khi giới thiệu cách phát âm của âm /a/, giáo viên có thể kết hợp với trò chơi Pyramid để huy động vốn từ của học sinh và qua đó giới thiệu cách dạng phát âm với nguyên âm này.Cách thực hiện: giáo viên đưa từ đầu tiên, yêu cầu học sinh đặt từ tiếp theo với chữ cái đầu bắt đầu bằng a và từ ở dưới nhiều hơn từ trên 1 chữ cái. Kim tự tháp (Pyramid) mà học sinh lớp 10A1 đã “xây” được như sau:

a

a n



a n d

a u n t


a c t o r

a p p l e s

a i r p o r t

a n c i e n t

a l p h a b e t

a r c h i t e c t

Qua kim tự tháp này, ngoài bổ sung từ vựng cho học sinh, giáo viên có thể giới thiệu cách cách phát âm của nguyên âm “a” như / α /, / α: /, /ə / , /æ/ ....... Giáo viên tiếp tục thay đổi chữ cái đầu khi giới thiệu các âm khác.

Ví dụ 2: Khi giới thiệu từ vựng kết hợp dạy cách phát âm của một số từ có 2 nguyên âm liền nhau, giáo viên có thể thiết kế trò chơi “A spelling stair”. Trò chơi được thực hiện như sau:

B E A R


E

E

F O O T



O

U

C



H E E L

E

A



R

N E A R


Tôi đã áp dụng bậc thang này khi giới thiệu cách phát âm “ea” và chỉ ra cho học sinh ba cách phát âm thường thấy của âm này là /beə/ trong từ bear; /lə:n/ trong từ learn và /niə/với từ near. Giáo viên có thể thiết kế lại bậc thang cho phù hợp với âm mà mình muốn dạy, hoặc thiết kế không nhằm mục đích dạy ngữ âm mà chỉ tập chung dạy từ vựng.

Ví dụ 3: Cũng với dạng bài giới thiệu từ vựng kết hợp dạy cách phát âm của một số từ có 2 nguyên âm liền nhau, giáo viên còn có thể áp dụng trò chơi “Add consonants”. Trò chơi này thực hiện theo nhóm hoặc cả lớp đều có tác dụng rất tốt trong việc tạo hứng thú, khơi dạy vốn từ và khắc sâu cách phát âm của một số nguyên âm đôi. Giáo viên đưa 2 chữ cái (là nguyên âm) yêu cầu học sinh bổ sung những chữ cái phụ âm cần thiết để tạo nên từ mới. Ai viết được nhiều từ hơn sẽ thắng.

ai oo

tail good

pail goose

pain foot



Ví dụ 4: Một thủ thuật giới thiệu từ vựng- ngữ âm cho tổng hợp nguyên âm đơn và đôi có thể được giáo viên đưa vào sử dụng cả chương trình 10, 11 là trò chơi “Angram”(Phép đảo chữ cái). Trò chơi này sử dụng những từ mà khi thay đổi trật tự chữ cái của chúng sẽ tạo ra từ mới. Trò chơi có thể thực hiện theo đội, trong khoảng thời gian từ 1-2 phút, đội nào tìm được nhiều từ nhất theo quy định nêu trên là đội chiến thắng.

tale- late ten- net team- meat saw-was East- seat tea- eat race- care post- stop



5. Thường xuyên huy động vốn từ của học sinh theo chủ đề để tránh tình trạng từ vựng “chết”:

- Quả thực nếu học sinh không sử dụng chắc chắn nhiều từ nhiều sẽ bị lãng quên và lại trở thành từ mới. Vì thế hãy cố gắng gợi lại kiến thức về từ, cấu trúc từ để hạn chế việc này. Giáo viên có thể sử dụng thủ thuật “Vocabulary tree” cho bài tập dạng huy động vốn từ. (Hình minh họa H.1 phần phụ lục)



6. Để thực hiện việc dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp, cần chú trọng dạy trọng âm từ, trọng âm câu và ngữ điệu của câu:

- Trong giao tiếp, trọng âm, ngữ điệu rất quan trọng trong việc biểu đạt cảm xúc, ý‎ đồ của người nói. Cùng một câu nhưng với ngữ điệu lên, hoặc trọng âm đặt vào từ khác sẽ hàm ý‎ khác với câu có ngữ điệu xuống hoặc tập trung trọng âm vào từ khác. Nếu đối tượng học sinh khá, giáo viên có thể giới thiệu Hình thang nguyên âm (Cardinal vowel) để học sinh nhận biết được khu vực đặt âm, độ cao của âm, từ đó có thể bật âm chính xác trong các từ riêng lẻ.



Cardinal vowel


u:

i:
front neutral back


ʊ u


high


З:

i


ɔ:

ə
mid


Λ

æ


a:

ɒ/ɔ

low

Trong đó: high- mid- low dùng để miêu tả độ cao của lưỡi còn front - mid - back dùng để miêu tả vị trí nào của lưỡi được sử dụng để phát ra âm đó.

Ví dụ, qua hình thang trên, ta có thể miêu tả âm ɒ/ɔ qua 3 tiêu chí:
back

ɒ/ɔ very low

short

- Ngoài hướng dẫn học sinh quy tắc trọng âm của từ (nội dung này đã được tôi trình bày tại mục 4- trang 12 SKKN: Một số phương pháp dạy ngữ âm- từ vựng thực hiện năm 2011 ), cần lưu ‎ý các em các dạng âm mạnh, âm yếu (weak form - strong form) ngữ điệu lên - xuống (rising - falling tune) để khi giao tiếp các em sử dụng ngữ điệu trong giọng nói một cách chính xác và hiệu quả.



+ Thông thường ngữ điệu xuống hay gặp trong các câu trần thuật, câu phủ định, thức mệnh lệnh và các Wh- questions.

+ Ngữ điệu lên thường dùng trong các câu hỏi dạng Yes/ No questions. Kết hợp ngữ điệu lên - xuống (rising - falling tune) luôn thấy trong các câu có sự lựa chọn (OR) và câu liệt kê (AND)



Ví dụ 1:

Would you like some TEA or COFFEE ?



Ví dụ 2:

I’d like some butter, cheese, apples AND milk.

- Bên cạnh đó, vị trí trọng âm trong câu cũng rất quan trọng. Sau đây, tôi xin trình bày một ví dụ về trọng âm trong câu.

∙ ∙ ∙


I could hardly believe my eyes.

Function words Content words (Lexical words)



(Từ có chức năng) (Từ có chứa nội dung)
Từ ví dụ trên có thể phân tích và rút ra:

+ Các từ có chứa nội dung gồm: danh từ (noun), động từ chính (main verb), tính từ (adjective), trạng từ (adverb). Từ để hỏi (question word) và đại từ chỉ định (demonstrative) cũng thuộc nhóm này. Thông thường, các từ có chứa nội dung luôn chứa trọng âm.

+ Các từ có chức năng bao gồm: đại từ (pronoun), trợ động từ (auxiliary). Mạo từ (article), giới từ (article), đại từ quan hệ (relative pronoun)... thường nằm trong nhóm này.

7. Thiết kế nhiều bài tập mang tính giao tiếp:

Để vận dụng tổng hợp các kiến thức về ngữ pháp - từ vựng - ngữ âm vào trong thực hành nói , ứng dụng trong giao tiếp, giáo viên cần tích cực tìm tòi, thiết kế các bài tập mang tính giao tiếp phù hợp cho từng bài học. Dưới đây là một số kiểu bài tôi đã áp dụng:



a. Describe and Arrange

- Hoạt động này được tiến hành theo cặp. Trong một cặp, học sinh A được phát 1 số hình ảnh có đánh số thứ tự cố định, học sinh B được phát các hình ảnh tương tự nhưng chỉ có 1 số hình ảnh được đánh số. Nhiệm vụ của B là phải trao đổi với A để hoàn chỉnh việc đánh số thứ tự các tranh, A thực hiện nhiệm vụ miêu tả, hướng dẫn B đánh số mà không được phép cho bạn xem tranh gốc. (Hình minh họa H.2, H.3b Phần phụ lục)

b. Describe and Draw

- Tùy vào trình độ học sinh và nội dung cần chuyển tải trong bài học mà giáo viên lựa chọn hình ảnh trong tranh cho phù hợp. Trong hoạt động này, học sinh A được phát 1 bức tranh, học sinh này có nhiệm vụ miêu tả cho các học sinh khác để các bạn vẽ lại. Trong quá trình vẽ, các “ họa sỹ ” có thể đặt ra các câu hỏi để lấy thông tin rõ ràng hơn. Ví dụ:

Student A: There are two boys and a woman in the pictures. A boy is sitting on the wheelchair.

Student B : Yes, and where’s other boy?

.......................................................................



(Hình minh họa H.3a Phần phụ lục)

- Hoạt động này có tính giao tiếp khá cao và giúp luyện kỹ năng nghe cho học sinh.

c.Find the differences

- Hoạt động này có thể áp dụng theo cặp hoặc nhóm. Mỗi cặp/ nhóm được phát hai bức tranh có nhiều điểm giống nhau. Trong 2- 3 phút, yêu cầu các cặp/ nhóm chỉ ra sự khác biệt và thông báo trước lớp về kết quả của mình. (Hình minh họa H.4 Phần phụ lục)

d. Find someone who ......”

- Dạng bài tập này áp dụng rất tốt cho những bài dạy kể cả nói và ngữ pháp (Language focus) theo chủ điểm các hoạt động hàng ngày (daily activities). Cách tiến hành: Yêu cầu học sinh liệt kê một số việc mà mọi người thường làm (như go jogging, go shopping, do aerobic.....), sau đó cho học sinh đi quanh lớp để tìm ra người có thói quen làm việc này. Giáo viên có thể đưa yêu cầu : Students, you have 3 minutes to find someone who does/ likes .... those things.

- Qua thực tế sử dụng, tôi thấy bài luyện tập này có thể áp dụng thiết kế cho nhiều trình độ học sinh và có hiệu quả tạo hứng thú cao.



e. “ Survey”

- “Khảo sát” là một biện pháp huy động tính tích cực trong giao tiếp cho học sinh. Nếu học sinh có thể tự lập được câu hỏi thì hoạt động này thực sự rất bổ ích. Khi thực hiện hoạt động này, tôi áp dụng thời hiện tại hoàn thành và từ chủ đề được là ”sleep”. Giáo viên yêu cầu học sinh đưa ra càng nhiều từ vựng về chủ đề này càng tốt. (Ví dụ: dream, nightmare , light/heavy sleeper......). Học sinh sẽ tiến hành khảo sát bạn mình bằng cách đưa ra các câu hỏi sử dụng từ vựng vừa khai thác. Các câu hỏi mà học sinh có thể đưa ra là:

+ How many hours do you normally sleep a day?

+ Are you a light/ heavy sleeper?

+ Have you ever talked in your sleep?

+ Have you ever walked in your sleep?

+ Have you ever had a nightmare?

+ Have you ever fallen out of the bed?

+ If yes, describe the experience(s) ?

- Chủ đề này cũng có thể được thay bằng cách chủ đề khác như đọc sách, xem vô tuyến ......

f.Role- playing”

- Hoạt động đóng vai là một hoạt động mang tính giao tiếp và tính thực tiễn cao. Trong các tiết dạy nói và ngữ pháp, đều có thể áp dụng bài tập này.

- Tình huống giáo viên đưa ra có thể là: “A, imagine that you are My Tam, a famous singer and other students, you are fans of My Tam. You meet her by a chance and have a talk with her.” Với tình huống này, học sinh đặt ra nhiều câu hỏi mang tính giao tiếp khác nhau .



8. Tùy theo trình độ học sinh và nội dung tiết dạy, có thể giới thiệu cho học sinh cách dùng các từ theo từng mức độ ‎ý nghĩa.

Nhiều từ tiếng Anh có nghĩa giống nhau nhưng mức độ ý ‎nghĩa khác nhau. Dưới đây là ba mức độ ‎thường thấy và một số ví dụ minh họa

Positive meaning Negative meaning Neutral

(Nghĩa tích cực) (Nghĩa tiêu cực) (Nghĩa trung lập)

home accommodation house

girl, lady chick, board woman, female

single girl sprinter unmarried woman

wealthy loaded rich

juvenile childish childlike

good morning hey hello

.................... ....................... .......................



IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm:

Sau một năm học áp dụng các phương pháp, thủ thuật dạy từ vựng - ngữ âm và ứng dụng trong dạy kỹ năng giao tiếp, cùng với việc thường xuyên tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, bản thân tôi cũng kiểm chứng sau từng bài đã áp dụng để tìm ra ưu điểm, hạn chế từ đó có thể thực hiện tốt hơn cho những bài sau. Tôi thấy học sinh có sự tiến bộ khả quan trong việc mở rộng vốn từ, cách phát âm và sử dụng từ vựng - ngữ âm song việc áp dụng phương pháp này cần phải duy trì thực hiện thường xuyên và cố gắng nhiều hơn nữa. Tôi tiến hành khảo sát trong một số tiết dạy và thu được kết quả như sau (Tại Lớp 10A1)



Bài

Điểm 9-10

Điểm 7-8

Điểm 5-6

Điểm 3-4

Điểm 0-2

Số 1

0

0

7

13

7

Số 2

0

2

10

13

2

Số 3

0

3

10

14

0

Số 4

2

7

13

5

0

Đồng thời, sau thời gian thực hiện đề tài “Phương pháp dạy ngữ âm – từ vựng” (năm 2011) và ứng dụng nó trong đề tài “Ứng dụng phương pháp dạy ngữ âm – từ vựng trong việc dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp” năm 2013 này, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm về nội dung dạy ngữ âm - từ vựng - giao tiếp. Cụ thể như sau:

1. Luôn xác định dạy học sinh giao tiếp bằng tiếng Anh là đích của dạy ngoại ngữ.

2. Ngoài dạy học sinh ‎nghĩa, cách sử dụng phải hướng dẫn cách phát âm có sử dụng dấu trọng âm từ đó. Lưu ý các em vị trí, độ cao của một số nguyên âm để các em vận dụng khi bật âm trong các từ.

3. Thường xuyên động viên khuyến khích, tạo môi trường và không khí học ngoại ngữ cho học sinh.

4. Tích cực đổi mới phương pháp dạy học, thiết kế nhiều bài tập luyện nói, nhiều thủ thuật huy động vốn từ, thường xuyên kết hợp dạy từ vựng-ngữ âm để học sinh được thực hành nhiều.

5. Mở rộng và nâng cao với học sinh khá - giỏi các kiến thức về trọng âm từ, trọng âm câu, mức độ nghĩa của từ để các em có thể sử dụng chúng chính xác trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau.
PHẦN KẾT LUẬN

I. Những bài học kinh nghiệm:

Trong quá trình thực hiện đề tài và áp dụng trong thực tế giảng dạy, bản thân tôi cũng rút ra cho mình một số bài học kinh nghiệm:

- Việc dạy từ vựng - ngữ âm và sử dụng được từ đó trong kỹ năng nói và cao hơn nữa là sử dụng được trong giao tiếp rất quan trọng vì nó giúp đạt mục tiêu giao tiếp đạt hiệu quả cao.

- Hãy kiên nhẫn với học sinh và thường xuyên động viên, khen ngợi để tạo động lực học tập cho các em.

- Giáo viên phải thường xuyên nâng cao năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ, trau dồi vốn từ, kiến thức ngữ pháp và ngữ âm thông qua các hoạt động cụ thể như trao đổi, thảo luận cùng đồng nghiệp trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, dự giờ để học tập, rút kinh nghiệm.

- Tự nâng cao năng lực giao tiếp và mở rộng vốn từ bằng cách xem phim, xem các clip bằng tiếng Anh hoặc có phụ đề Tiếng Anh. Ngoài ra, việc nghe các chương trình bằng tiếng Anh theo chủ đề bạn thích hoặc nghe các bài học tiếng Anh trên đài hoặc vô tuyến cũng rất hữu ích.

II. Ý nghĩa của Sáng kiến kinh nghiệm:

- Sáng kiến kinh nghiệm đưa ra một số biện phát nhằm cải tiến việc dạy từ vựng kết hợp với ngữ âm và ứng dụng chúng nhằm nâng cao chất lượng giao tiếp, đồng thời tạo môi trường học ngoại ngữ thân thiện, gây hứng thú học tập cho học sinh.

- Sáng kiến đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường việc sử dụng từ vựng - ngữ âm trong giao tiếp trên cơ sở thiết kế những bài tập nhỏ tập cho học sinh thói quen sử dụng tiếng Anh từ đó từng bước góp phần nâng cao chất lượng sử dụng từ của học sinh nói riêng và chất lượng học môn Tiếng Anh nói chung.



III. Khả năng ứng dụng, triển khai:

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm có thể áp dụng trong việc dạy ngoại ngữ (Tiếng Anh) đối với học sinh cả ở cấp THCS và THPT.
IV. Những kiến nghị, đề xuất:

Để giáo viên nâng cao năng lực giao tiếp tiếng Anh, việc tổ chức các lớp tập huấn về nội dung này với các giảng viên trường Đại học chuyên ngữ, giảng viên người nước ngoài rất cần thiết và thiết thực. Thông qua tập huấn, giáo viên có cơ hội để thực hành, tự đánh giá khả năng giao tiếp của bản thân, học hỏi từ giảng viên và các đồng nghiệp nhằm nâng cao trình độ.



Với việc thực hiện dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp, coi trọng không chỉ ngữ pháp mà cả từ vựng – ngữ âm, bản thân tôi thấy mình đã thu được một số kết quả khả quan. Tuy nhiên, do đặc thù của bộ môn là môn học đòi hỏi sự chuyên tâm của người học, có năng khiếu học ngoại ngữ đồng thời cần có môi trường giao tiếp tiếng Anh nên hiệu quả của đề tài chưa đạt như mong muốn. Ngoài ra do thời gian tìm tòi, kiểm chứng còn ít vì thế những giải pháp tôi đưa ra trong đề tài chắc chắn còn nhiều khiếm khuyết và mang tính chủ quan. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng chấm sáng kiến kinh nghiệm và các bạn đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên – Nhà Xuất bản giáo dục (Trang 9)

2. Hỗ trợ ôn thi Tốt nghiệp trung học và Tuyển sinh Đại học – Nguyễn Quốc Hùng, Ma.- Nhà xuất bản trẻ ( Chuyên đề Phonetics)

3. Phonetics and Phonology – Lưu Kim Nhung – Hanoi National University of Education Faculty of English

4. Speaking 1- Nguyen Thuy Nga - Division of English Language Acquisition (Hanoi National University of Education Faculty of English)

5. How to teach English, Jeremy Harmer, Longman.

6. English Language proficiency level benchmarks – Thai Nguyen university

- CFORD.

PHỤ LỤC

Các hình ảnh minh họa sử dụng trong đề tài



H.1 Vocabulary tree



H.2 Describe and Arrange





H.3a Describe and draw



H.3b Describe and draw/ Describe and arrange

H.4a

H.4b

H.4 Find the differences between H.4a and H.4b

MỤC LỤC

Mục

Trang

Phần Mở đầu




I. Bối cảnh của đề tài

1

II. Lý do chọn đề tài

1

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

2

IV. Mục đích nghiên cứu

2

V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

3

Phần nội dung




I. Cơ sở lý luận

4

II. Thực trạng của vấn đề

5

III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

6

IV. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm

14

Phần kết luận




I. Những bài học kinh nghiệm

16

II. Ý nghĩa của Sáng kiến kinh nghiệm

16

III. Khả năng ứng dụng, triển khai

16

IV. Những kiến nghị đề xuất

17

Tài liệu tham khảo

18

Phụ lục (Các hình ảnh minh họa trong đề tài)












- -


tải về 2.09 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương