Danh s¸ch bµi viÕt cho tuyÓn tËp khcn 2004



tải về 203.79 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu14.12.2019
Kích203.79 Kb.

Tóm tắt bài viết cho tuyển tập KHCN 2011


TT

Tên bài viết

Tác giả

Tóm tắt

I

Thủy nông cải tạo đất-môi trường

  1. 1

Tác động của chế độ thủy văn bên ngoài tới khu đô thị mới Thủ Thiêm

ThS. Phạm Thế Vinh

ThS. Đỗ Đắc Hải

ThS. Đặng Minh Chương

KS. Đinh Thị Thùy Trang



Báo cáo này trình bày việc nghiên cứu tác động của việc san lấp mặt bằng, việc xây dựng hệ thống công trình thủy lợi chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh và xét đến biến đổi khí hậu tới chế độ thủy văn thủy lực khu đô thị mới Thủ Thiêm và sơ bộ đề xuất các giải pháp ứng phó.


  1. 3

Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, các tác động của việc vận hành hệ thống công trình thủy lợi đến diễn biến chất lượng nước trong hệ thống thủy lợi Hóc Môn – Bắc Bình Chánh

Ths. Phạm Đức Nghĩa

Ths. Nguyễn Thị Phương Thảo

Ths. Nguyễn Văn Khánh Triết


Hệ thống thủy lợi Hóc Môn - Bắc Bình Chánh (HM – BBC), thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng nhằm phục vụ cho nhu cầu dùng nước trong khu vực. Tuy nhiên, trong các năm gần đây, nguồn nước một số tuyến kênh thủy lợi HM - BBC đã bị ô nhiễm, đặc biệt các khu vực gần các khu, cụm công nghiệp tập trung. Thực tế cho thấy nước thải từ các nguồn thải không được xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn quy định đã góp phần gây ô nhiễm nguồn nước hệ thống thủy lợi này. Mặt khác, hiện nay việc vận hành các công trình tưới tiêu trong hệ thống vẫn dựa trên kinh nghiệm thực tế, chưa được nghiên cứu một cách khoa học vì vậy phần nào hạn chế việc tiêu thoát ô nhiễm.

Bài báo này giới thiệu một số kết quả của nghiên cứu đánh giá hiện trạng, các tác động của việc vận hành hệ thống công trình đến diễn biến chất lượng nước trong hệ thống thủy lợi HM – BBC.



  1. 7

Một số kết quả nghiên cứu ứng dụng mô hình nuôi cá tra xử lí nước thải bằng hồ sinh học tại An Giang.

KS.Mai Văn Cương

ThS. Phạm Ngọc Hải

ThS.Võ Văn Thanh


Vấn đề xử lý chất thải cho nuôi trồng thủy sản nói chung đã được đề cập từ lâu, nhưng những mô hình áp dụng vào thực tế còn rất ít. Trong đợt nghiên cứu này chúng tôi áp dụng vào thực tế một mô hình nuôi cá tra ở tỉnh An Giang, chất thải được xử lý bằng phương pháp sinh học, trong đó nước thải được xử lý bằng hồ sinh học và bùn đáy được xử lý bằng ao lý bùn. Mô hình được bố trí quy mô hộ gia đình (khoảng 3 ha), có cấu tạo đơn giản, dễ thi công, chi phí thấp để dễ phổ biến và nhân rộng.

  1. 8

Đánh giá diễn biến chất lượng nước vùng thuỷ sản nước ngọt ở ĐBSCL đến năm 2020

KS. Mai Văn Cương

ThS. Võ Văn Thanh



Do đặc thù của hệ sinh thái tự nhiên nên nuôi thủy sản nước ngọt đang là thế mạnh của Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có nghề nuôi cá tra và cá ba sa. Chính vì vậy mà trong những năm qua, các địa phương đã đẩy mạnh phát triển diện tích nuôi trên diện rộng. Tuy nhiên cùng với việc thúc đẩy nền kinh tế trong vùng phát triển, tăng tỷ trọng xuất khẩu thủy sản thì vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước đã và đang xảy ra ngày càng trầm trọng do việc nuôi trồng chưa được quy hoạch hợp lý, mật độ nuôi quá cao. Nước thải xả tự do làm lây lan mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác không kiểm soát được, đã từng có những đợt dịch bệnh làm chết cá hàng loạt gây tổn thất lớn cho người nuôi. Bài viết này giới thiệu thực trạng và dự báo diễn biến chất lượng nước đến nằm 2020 trên các sông rạch ở Đồng bằng sông Cửu Long do các hoạt động nuôi cá nước ngọt gây ra.


  1. 1

Tác động của quá trình nuôi tôm đến nhiễm mặn đất huyện Giá Rai – Bạc Liêu

ThS. Nguyễn Đình Vượng

ThS. Trần Minh Tuấn



Quá trình chuyển đổi đất trồng lúa sang nuôi tôm một cách ồ ạt, không theo đúng quy hoạch tại huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu trong thời gian qua đã nổi lên các vấn đề về suy thoái môi trường đất, đặc biệt là quá trình mặn hóa đất. Điều này đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất tôm nuôi cũng như vấn đề an ninh lương thực. Diện tích đất mặn liên tục tăng trên địa bàn huyện từ năm 2000 đến 2010, đặc biệt trong giai đoạn 2000 – 2004 diện tích đất mặn đã tăng gần 20 lần. Bài này đánh giá tác động của quá trình nuôi tôm đến nhiễm mặn đất ở huyện Giá Rai - Bạc Liêu, kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhiễm mặn cao nhất ở mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, thấp nhất ở mô hình canh tác tôm - lúa. Điều kiện thời tiết, hệ thống công trình thủy lợi phục vụ nuôi tôm chưa đáp ứng yêu cầu của vùng nuôi, thiếu chủ động trong việc cấp nước ngọt và kỹ thuật cải tạo ao không đúng quy cách, chỉ tập trung chủ yếu sử dụng các biện pháp cơ học, chưa biết tận dụng tối đa nguồn nước mưa để rửa mặn là các nguyên nhân và tạo thành phức hệ gây suy thoái môi trường đất mà trước hết quá trình mặn hóa tại vùng nuôi tôm trên địa bàn huyện Giá Rai.



Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới các công trình kiểm soát mặn vùng ĐBSCL, đề xuất một số giải pháp cải tạo và nâng cấp

ThS. Nguyễn Phú Quỳnh, ThS Đỗ Đắc Hải, KS. Bùi Thanh Kiệt, KS. Ưng Ngọc Nam

Nước biển dâng tác động vào ĐBSCL thể hiện ở 2 khía cạnh: gia tăng ngập lụt và xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền. Để chủ động ứng phó với BĐKH-NBD, chương trình gia cố tuyến đê biển từ Quảng Ninh đến Hà Tiên đã và đang được triển khai xây dựng, trong đó bao gồm nâng cấp các công trình kiểm soát mặn dọc tuyến đê. Nội dung bài báo trình bày trên cơ sở giải đáp một số câu hỏi đặt ra là BĐKH-NBD xảy ra thì: (1) Các công trình kiểm soát mặn có đảm bảo ổn định không? và (2) Nếu phải nâng cấp thì nâng cấp như thế nào?



Vấn đề quản lý chất lượng nước đối với các lưu vực sông bị tác động mạnh mẽ của nước thải công nghiệp – cụ thể đối với lưu vực sông Thị Vải

TS. Trịnh Thị Long, ThS. Phạm Đức Nghĩa và ThS. Vũ Nguyễn Hoàng Giang

Sau hơn 20 năm mở cửa và đẩy mạnh kinh tế với hàng loạt khu chế xuất, khu công nghiệp và hàng trăm ngàn cơ sở sản xuất và chế biến trên toàn quốc ra đời đã làm cho chất lượng môi trường của các dòng sông xuống cấp. Vấn đề chất thải là một nan giải đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt nước thải đã trở thành thảm họa môi trường hiện nay vì chúng đã được thải thẳng vào các dòng sông mà không qua xử lý hoặc chỉ xử lý sơ bộ chưa đạt tiêu chuẩn. Đây cũng chính là vấn đề bức xúc đối với lưu vực sông Thị Vải. Bài báo nêu lên thực trạng ô nhiễm và các nguồn xả thải trên sông Thị Vải, khẳng định nước thải công nghiệp là thủ phạm giết chết dần sông Thị Vải trong những năm qua, đồng thời nêu lên những tồn tại trong công tác quản lý và đề xuất các giải pháp nhằm quản lý và cải thiện chất lượng nước sông Thị Vải.



Ứng dụng mô hình Mike 11 để tính toán tải lượng BOD tối đa ngày của sông Thị Vải

TS. Trịnh Thị Long

ThS. Phạm Đức Nghĩa

ThS. Vũ Nguyễn Hoàng Giang


Tải lượng ô nhiễm tối đa ngày (Total Maximum Daily Load – TMDL) là lượng chất ô nhiễm tối đa mà dòng sông có thể tiếp nhận mà không gây ô nhiễm cho nguồn nước và vẫn đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng nước đã được đặt ra, có tính tới biên an toàn. Dựa vào TMDL của nguồn tiếp nhận, tải lượng cho phép của mỗi nguồn nước được xây dựng để nồng độ chất ô nhiễm của nguồn tiếp nhận không vượt quá tiêu chuẩn cho phép và để đảm bảo chất lượng nước của nguồn tiếp nhận. Tính toán tải lượng ô nhiễm BOD5 tối đa ngày đổ vào sông Thị Vải nhằm đánh giá ô nhiễm sông Thị Vải từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp để quản lý ô nhiễm.



Giải pháp cải tại, nâng cấp cửa van và thiết bị các công trình kiểm soát mặn vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu

KS. Trần Đình

ThS. Nguyễn Phú Quỳnh

ThS. Đỗ Đắc Hải


Hiện nay ĐBSCL có hàng trăm cống kiểm soát mặn đang vận hành, việc nghiên cứu cải tạo, nâng cấp cửa van và thiết bị nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu – nước biển dâng là hết sức cần thiết. Nội dung bài báo nêu lên các vấn đề cần nâng cấp sửa chữa hoặc thay mới cửa van tự động hiện hữu với các kịch bản nước biển dâng có thể xảy ra.




Kết quả bước đầu khảo sát ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm đến quá trình nhiễm mặn đất ở huyện Cái Nước – Cà Mau


ThS.NCS. Nguyễn Đình Vượng, KS. Nguyễn Lê Huấn

ThS. Đinh Quang Toàn

CN. Nguyễn Văn Tài


Quá trình chuyển dịch cơ cấu đất nông - lâm nghiệp sang nuôi trồng thủy sản một cách ồ ạt, không theo quy hoạch cùng với diễn biến phức tạp của xâm nhập mặn và điều kiện thời tiết trong thời gian qua trên địa bàn huyện Cái Nước kéo theo quá trình mặn hóa môi trường đất vùng chuyển đổi. Bài này trình bày kết quả bước đầu việc khảo sát đánh giá tác động ảnh hưởng của hoạt động nuôi tôm đến quá trình nhiễm mặn đất ở huyện Cái Nước - Cà Mau. Kết quả cho thấy độ mặn cao nhất trong đất ở mô hình nuôi tôm công nghiệp và thấp nhất tại mô hình tôm - lúa ở tầng đất 0 – 20cm, tuy nhiên ở độ sâu 20-40 cm thì độ mặn mô hình tôm-lúa lại cao thể hiện sự tích lũy muối và sẽ chuyển dần theo hướng sodic hóa. Mô hình tôm-lúa nhiễm mặn cao nhưng ở độ sâu (20-40 cm) đất chưa bị sodic hóa, ở tầng 0-20 cm đất bị sodic có thể do sự xâm nhiễm nước mặn từ ngoài vào ruộng nuôi về mùa khô, mô hình tôm nuôi quảng canh, đất ở 2 tầng khác nhau đều bị sodic nhưng ở tầng 20-40cm thì mức độ sodic cao hơn.



Xác định hàm tương quan độ mặn EC và xây dựng thang đánh giá độ mặn đất vùng nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau

ThS.NCS. Nguyễn Đình Vượng

ThS. Đinh Quang Toàn



Quá trình nuôi trồng thủy sản trong nhiều năm đã dẫn tới hệ quả mặn hóa môi trường đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau. Trong nghiên cứu này sử dụng chỉ số EC để đánh giá độ mặn đất, giá trị độ mặn tầng 0 – 20 cm dao động từ 5,3 – 19,19 mmhos/cm; giá trị độ mặn tầng 20 – 40 cm dao động từ 5,07 – 17,81 mmhos/cm. Nghiên cứu cũng đã xây dựng hàm tương quan giữa EC trích bão hòa và EC trích theo tỷ lệ đất nước 1:2,5 thông qua phương trình ECBH = 0,7454EC1:2,5 + 4,9409, từ đó xây dựng thang đánh giá độ mặn đất vùng nuôi trồng thủy sản. Sử dụng chỉ số EC 1:2,5 để dự đoán EC trích bão hòa và phân loại đất mặn là phương pháp có thể chấp nhận được, tiết kiệm thời gian và chi phí phân tích.


Mô phỏng sự lan truyền chất ô nhiễm từ một giếng vào tầng nước ngầm


PGS. TS. Nguyễn Thống


Nội dung bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu bước đầu về mô phỏng sự lan truyền chất ô nhiễm theo thời gian trong tầng nước ngầm từ một giếng có mang chất ô nhiễm xâm nhập dưới dạng thông lượng của tạp chất có nồng độ giả định 100 ppm. Giả thiết tầng nước ngầm có áp ổn định. Phần mềm COMSOL với phương pháp phần tử hữu hạn được sử dụng để nghiên cứu hiện tượng. Mô hình toán mô phỏng chế độ dòng chảy 2D theo phương ngang thỏa mãn định luật Darcy [1], với lời giải trong trạng thái ổn định (steady-state). Phương trình lan truyền chất 2D trong vùng tương ứng được giải trong giai đoạn quá độ (transient) bắt đầu từ trạng thái ở đó miền nghiên cứu hoàn toàn không bị ô nhiễm lúc t = 0.



Nghiên cứu khả năng nối mạng và chuyển nước giữa các lưu vực trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

ThS.NCS. Trần Thái Hùng,

ThS. Nguyễn Văn Lân,

ThS. Nguyễn Đình Vượng


Những năm qua, do nhu cầu về nguồn và lượng nước tăng lên theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, nên đã xuất hiện ý tưởng xây dựng các công trình để chuyển nước từ lưu vực này sang lưu vực khác. Do tính hiệu quả của chúng, dạng công trình này rất được quan tâm nghiên cứu. Bình Thuận có 7 lưu vực sông chính, đặc điểm chung là ngắn, dốc và mật độ mạng lưới thưa, hầu hết đều chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam rồi đổ ra biển. Hàng năm, vấn đề thiếu nước vào mùa khô xảy ra thường xuyên, không đáp ứng được các yêu cầu cấp bách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, khả năng nối mạng và chuyển nước giữa các lưu vực trên địa bàn tỉnh Bình Thuận là rất cần thiết. Qua quá trình tiếp cận và nghiên cứu, nhóm tác giả đã đề xuất các tuyến kênh chuyển nước giữa các lưu vực nhằm phục vụ nhu cầu nước cấp bách của các ngành.




Đặc điểm xâm nhập mặn và phân vùng sinh thái do ảnh hưởng mặn đến 2 tỉnh Bạc Liêu – Cà Mau

ThS. Nguyễn Đình Vượng

KS. Nguyễn Văn Sáng

ThS. Huỳnh Ngọc Tuyên

KS. Nguyễn Xuân Hòa



Cà Mau và Bạc Liêu được xem là vùng đặc thù nhất của Bán đảo Cà Mau, có hệ sinh thái nhạy cảm, là 2 tỉnh ven biển có tiềm năng to lớn để phát triển nông – lâm - thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, sự chuyển đổi nhanh chóng hệ canh tác lúa – tôm đã làm thay đổi cơ bản tập quán canh tác trong vùng. Đây là một vấn đề nhạy cảm có độ rủi ro cao nếu khai thác nguồn tác nguyên nước không hợp lý. Cần phải tiếp cận một cách có hệ thống và tổng hợp cả về mặt địa lý và nguồn nước để thấy được khả năng và giới hạn khai thác. Trên cơ sở khảo sát, điều tra thực tiễn về điều kiện tự nhiên, lấy nhân tố xâm nhập mặn làm chủ đạo, bài này nhóm tác giả nêu đặc điểm xâm nhập mặn và phân 2 tỉnh Bạc Liêu – Cà Mau thành các vùng sinh thái do ảnh hưởng mặn (Tiểu vùng đất mặn quanh năm, không có nguồn nước ngọt; Tiểu vùng đất mặn theo mùa và có nguồn nước ngọt; Tiểu vùng đất mặn ảnh hưởng biên độ triều lớn, biên độ triều nhỏ). Đây sẽ là tài liệu cơ bản quan trọng cho việc nghiên cứu sâu hơn vùng đất nhiễm mặn do ảnh hưởng của nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn 2 tỉnh, từ đó đề xuất các mô hình sản xuất hợp lý, phục vụ công tác qui hoạch phát triển hệ canh tác thích hợp, hiệu quả và bền vững.



Đánh giá tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất đến vấn đề nhiễm mặn đất vùng Bạc Liêu – Cà Mau

ThS. Nguyễn Đình Vượng; ThS. Trần Minh Tuấn;

ThS. Nguyễn Văn Lân



Bạc Liêu - Cà Mau là vùng đất ven biển có hệ sinh thái đặc thù và rất nhạy cảm. Thời gian qua, việc chuyển đổi khá nhanh diện tích đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản vùng ven biển ĐBSCL nói chung, trên địa bàn 2 tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu nói riêng đã ảnh hưởng rất lớn đến mức độ nhiễm mặn của đất sản xuất nông nghiệp. Quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản đã làm cho hệ sinh thái đất trong vùng bị nhiễm mặn trên diện rộng. Diện tích đất mặn ít và mặn trung bình đều giảm, tuy nhiên diện tích đất mặn nặng đã tăng lên đáng kể (tăng 128.220,30 ha). Như vậy quá trình chuyển đổi đã làm cho một phần diện tích không nhỏ đất mặn ít, mặn trung bình bị mặn hóa trở thành mặn nặng. Việc đưa nước mặn vào sâu trong nội đồng cũng đã gây nhiều tác động đến sự thay đổi độ mặn trong đất dẫn đến nhiều loại đất trong vùng đã có sự thay đổi về tính chất hóa học. Trong khuôn khổ bài báo này các tác giả muốn sơ bộ đánh giá tác động của quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản đến vấn đề nhiễm mặn đất trên địa bàn 2 tỉnh Bạc Liêu – Cà Mau.



II

Chỉnh trị sông - bảo vệ bờ sông, bờ biển - Phòng chống thiên tai

  1. 1

Đề xuất giải pháp khắc phục, hạn chế sạt lở bờ sông do khai thác cát từ kết quả nghiên cứu sự thay đổi điều kiện dòng chảy sông Đồng Nai tại khu vực cầu Hóa An, Tp.Biên Hòa

ThS. Nguyễn Đức Vượng

KS. Trần Quốc Thịnh



Cát sông là vật liệu không thể thiếu được trong xây dựng, tuy nhiên nếu khai thác cát vượt quá giới hạn cho phép thì sẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sạt lở bờ sông, gây hậu quả nghiêm trọng.

Bài báo trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp thống kê phân tích số liệu, tài liệu thực đo và phương pháp mô hình toán 1D, 2D để nghiên cứu chế độ thủy lực, đánh giá ảnh hưởng khi khai thác cát trên cơ sở đó đề xuất giải pháp khắc phục, hạn chế sạt lở bờ trên sông Đồng Nai khu vực thành phố Biên Hòa.



  1. 2

Khảo sát và đánh giá chất lượng nước hồ Dầu Tiếng trong năm 2008-2009 nhằm phục vụ cấp nước trong tương lai cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam


PGS.TS.Đinh Công Sản,

TS. Trịnh Thị Long,

ThS. Vũ Nguyễn Hoàng Giang


Nhằm đánh giá chất lượng nước hồ Dầu Tiếng để phục vụ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp và sinh hoạt trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trước và sau khi có bổ sung nước từ hồ Phước Hòa, đề tài KC08.16/06-10 “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm quản lý và phát triển bền vững hệ thống công trình Dầu Tiếng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” đã khảo sát, thí nghiệm phân tích và đánh giá chất lượng nước trong lòng hồ Dầu Tiếng trong mùa khô và mùa mưa của năm 2008-2009. Đề tài đã đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước phục vụ phát triển bền vững.


  1. 3

Đánh giá ảnh hưởng của các hướng sóng gió đến diễn biến của đoạn bờ biển Bình Thuận

ThS. Phạm Trung

TS. Trần Thu Tâm




Quy luật kinh nghiệm về dạng của đường bờ giữa hai điểm cố định, chịu tác động của một hướng sóng chủ đạo, được sử dụng để so sánh với các cung bờ đặc trưng của bờ biển Bình Thuận và đánh giá tác động của các hướng sóng gió khác nhau đến khuynh hướng diễn biến của các cung bờ biển. Kết quả phân tích khuynh hướng diễn biến bờ theo mùa trên cung bờ lớn từ Mũi Né đến mũi Kê Gà phù hợp với xu hướng diễn biến thực tế, kết quả này cho thấy có thể áp dụng phương pháp tương tự cho các cung bờ khác.


  1. 4

Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công trình chỉnh trị sông trên hệ thống sông Cửu Long và sông Sài Gòn – Đồng Nai

PGS. TS. Đinh Công Sản


Trong khuôn khổ của dự án cấp bộ “Điều tra đánh giá các công trình bảo vệ bờ trên hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai” – năm 2008-2009, cùng với kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án có liên quan, trên cơ sở kết quả phân tích đánh giá tóm tắt các loại dạng công trình kè bảo vệ bờ sông (kênh, rạch) và đánh giá nguyên nhân gây hư hỏng các loại công trình đã xây dựng trên hai hệ thống sông, bài báo đã đề xuất các giải pháp khắc phục, kiến nghị các nghiên cứu bổ sung trong quy trình quy phạm để giúp cho công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý công trình chỉnh trị sông hiệu quả hơn.



Đánh giá nguyên nhân hư hỏng các công trình kè bảo vệ bờ trên hệ thống sông ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và sông Sài Gòn – Đồng Nai


PGS. TS. Đinh Công Sản


Trong khuôn khổ của dự án cấp bộ “Điều tra đánh giá các công trình bảo vệ bờ trên hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai” – năm 2008-2009, cùng với kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án có liên quan, bài báo đã phân tích đánh giá tóm tắt các loại dạng công trình kè bảo vệ bờ sông (kênh, rạch) và đánh giá nguyên nhân gây hư hỏng các loại công trình đã xây dựng trên hệ thống sông ở ĐBSCL và sông Sài Gòn – Đồng Nai. Việc đánh giá nguyên nhân sẽ là cơ sở khoa học cho các giải pháp khắc phục đồng thời kiến nghị các nghiên cứu bổ sung quy trình quy phạm phù hợp để giúp cho công tác quy hoạch, khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý công trình ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần bảo đảm ổn định phát triển kinh tế xã hội trong vùng.



y dựng bộ thông số cơ bản về mực nước phục vụ công tác thiết kế xây dựng đê biển Nam bộ

TS. Đinh Văn Mạnh

Ths. Lê Như Ngà

ThS. Lê Thanh Chương


Xây dựng bộ thông số cơ bản về mực nước vùng ven biển và cửa sông có ý nghĩa quan trọng, là căn cứ khoa học phục vụ cho việc thiết kế xây dựng hệ thống đê biển.
Trong bài viết này sẽ trình bày các kết quả đạt được trong việc xây dựng các đường tần suất mực nước cực trị (do thủy triều và nước dâng bão) phục vụ cho công tác thiết kế xây dựng đê biển Nam bộ cho 60 vị trí ven biển, trên cơ sở các kết quả thu nhận được các giá trị hằng số điều hòa của 10 sóng triều chính và giá trị nước dâng bão cực đại của 2.656 cơn bão giả định (tương đương 1.000 năm bão) bằng mô hình số trị thủy động.



Thực trạng xói lở bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ, và xu thế diễn biến đường bờ khu vực ven biển Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang

TS. Nguyễn Duy Khang

PGS. TS. Lê Mạnh Hùng




Bài báo này trình bày bức tranh thực trạng xói lở bồi tụ bờ biển, suy thoái rừng phòng hộ ven biển, cũng như xu thế diễn biến đường bờ khu vực Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang theo không gian và theo thời gian. Những kết quả này thu nhận được thông qua điều tra thực tế, phân tích ảnh vệ tinh và chồng ghép bản đồ. Bên cạnh đó, các nguyên nhân gây xói lở và suy thoái rừng ngập mặn phòng hộ cũng đã được phân tích thảo luận.




Xây dựng biểu đồ trữ và cấp nước hiệu quả cho các hộ dùng nước từ hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa trong những năm đủ nước, thiếu nước và khan hiếm nước

PGS.TS. TS. Đinh Công Sản

ThS.Vũ Minh Thiện




Nhằm mục đích cung cấp nước hợp lý cho các hộ dùng nước trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trước và sau khi có bổ sung nước từ hồ Phước Hòa, đảm bảo hợp lý và kinh tế, đề tài KC08.16/06-10 “Nghiên cứu cơ sở khoa học nhằm quản lý và phát triển bền vững hệ thống công trình Dầu Tiếng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” đã xây dựng được biểu đồ tích nước và cấp nước cho hồ Dầu Tiếng phục vụ vận hành hồ chứa trong những năm đủ nước, thiếu nước và khan hiếm nước theo cả 3 kênh (kênh Đông, kênh Tây và kênh Tân Hưng) theo thứ tự ưu tiên là sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp.



Kiểm nghiệm việc sử dụng mô hình MIKE 21 SW FM mô phỏng chế độ sóng biển Đông

PGS.TS. Lê Mạnh Hùng

PGS.TS. Tăng Đức Thắng

TS. Nguyễn Duy Khang


Bài báo này trình bày kết quả kiểm định mô hình MIKE 21 SW FM (phổ sóng lưới linh động) trong mô phỏng trường sóng khí hậu trên biển Đông. Việc kiểm định được thực hiện bằng việc so sánh kết quả sóng mô phỏng bởi mô hình MIKE 21 SW và số liệu sóng quan trắc tại trạm Bạch Hổ, số liệu sóng quan trắc từ các vệ tinh của tổ chức AVISO, cũng như kết quả của mô hình WAVEWATCH-III của tổ chức NCEP/NOAA. Kết quả cho thấy độ tin cậy cao của mô hình MIKE 21 SW.



Xói lở, bồi tụ bờ biển Nam bộ từ TP. Hồ Chí Minh đến Kiên Giang – Nguyên nhân và các giải pháp bảo vệ

PGS.TS. Lê Mạnh Hùng

TS. Nguyễn Duy Khang

ThS. Lê Thanh Chương


Sử dụng phương pháp chồng ghép bản đồ và phân tích ảnh vệ tinh, toàn cảnh bức tranh xói lở bồi tụ bờ biển khu vực Nam bộ từ Tp. Hồ Chí Minh đến Kiên Giang được mô tả trong bài báo này. Kết quả cho thấy bờ biển trong khu vực nghiên cứu đang trong giai đoạn phát triển rất năng động, với xu thế chung là tiếp tục lấn ra phía biển. Khu vực bờ ven biển Tây khá ổn định, quá trình bồi tụ chiếm ưu thế. Khu vực bờ ven biển Đông quá trình bồi tụ và xói lở xen kẽ nhau, trong đó bồi tụ lấn biển vẫn chiếm ưu thế. Bài báo cũng đi sâu phân tích các yếu tố chính tác động đến quá trình xói lở bồi tụ, bao gồm các yếu tố tự nhiên cũng như các tác động của con người. Từ đó, giải pháp chống xói lở và bảo vệ bờ biển được đề xuất.

III

Xây dựng công trình - Mô hình toán tài nguyên nước

  1. 1

Kiểm nghiệm cách tính đơn giản cho thành phần nguồn nước trong hệ thống sông

ThS.NCS. Huỳnh Chức

Trong một bài báo trước đây, chúng tôi đã đề xuất cách tính đơn giản để xác định thành phần nguồn nước trung bình trong giới hạn của bài toán thủy lực. Mấu chốt quan trọng là tính được tỷ số E của tỷ lệ thành phần nguồn nước của các đoạn sông. Trong bài báo này điều đó được kiểm tra thông qua kết quả tính toán thủy lực (lưu lượng, diện tích mặt cắt ướt) và thật kỳ lạ là tỷ lệ đó không thay đổi trong các tháng mùa khô và có thể là cho các mùa khô khác. Đây là lợi thế để tính toán cho các phương án quản lý nguồn nước.


  1. 2

Một cách đơn giản để xác định thành phần nguồn nước trung bình trong hệ thống sông

ThS.NCS. Huỳnh Chức

PGS.TS. Tăng Đức Thắng

GS.TSKH. Nguyễn Ân Niên


Tính toán thành phần nguồn nước trung bình trên sông vùng ảnh hưởng triều mang lại lợi ích rõ rệt cho việc quản lý và sử dụng nguồn nước. Tuy nhiên, việc tính toán này thông qua bài toán truyền chất rất phức tạp và khối lượng tính toán rất lớn. Trong bài báo này trình bày cách tính đơn giản mà vẫn đạt được mục tiêu đó, hơn nữa còn mở rộng việc ứng dụng bài toán.

  1. 3

Lập các phương trình cơ bản của nước va trong đường ống có áp

GS.TSKH Nguyễn Ân Niên

ThS. Nguyễn Bình Dương



Trong các bài báo trước trên cơ sở lý thuyết dạng bất biến thứ ba của hệ phương trình thủy động lực thông qua phương trình liên tục và chuyển động của bài toán 1 chiều trong đường ống chúng tôi đã lập được các công thức tính tốc độ truyền sóng nước va và áp suất nước va địa phương (tại mặt cắt). Trong bài báo này chúng tôi sẽ lập phương trình cơ bản của nước va cho toàn đường ống và bước đầu lập bài toán tính toán nước va.



Bài toán xuất xứ khối nước ứng dụng trong tính toán lan truyền ô nhiễm vùng nuôi trồng thủy sản và đề xuất quy trình vận hành hợp lý hệ thống công trình thủy lợi nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống

ThS. Phạm Đức Nghĩa

ThS. Nguyễn Văn Lân




Nhiều hệ thống công trình thủy lợi đã được xây dựng chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp là chính. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây nhiều khu vực ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), người dân đã chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản kéo theo việc gia tăng lượng nước sử dụng cũng như gia tăng lượng chất thải từ các ao nuôi trồng thủy sản vào hệ thống kênh/rạch. Mặt khác, nhiều hệ thống công trình thủy lợi (HTCTTL) chưa xây dựng được một quy trình vận hành hợp lý nhằm cung cấp nước cho các vùng trồng lúa và nuôi trồng thủy sản vì vậy chưa phát huy được hết hiệu quả và là một nguyên nhân gây tù đọng, ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống. Bài báo này, giới thiệu kết quả bước đầu của việc ứng dụng lý thuyết “Bài toán xuất xứ khối nước” của hai tác giả Nguyễn Ân Niên và Tăng Đức Thắng kết hợp với mô hình toán MIKE11 để tính toán mức độ lan truyền ô nhiễm do nuôi thủy sản trên các kênh rạch thuộc huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh và trên cơ sở đó đề xuất quy trình vận hành hợp lý HTCTTL nhằm giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước trong hệ thống.



Một số nghiên cứu ứng dụng công nghệ cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực trong xây dựng công trình thủy lợi ở ĐBSCL


TS. Tô Văn Thanh

ThS. Phan Thanh Hùng

ThS. Doãn Văn Huế

ThS. Nguyễn Trọng Tuấn

ThS. Phan Quý Anh Tuấn


Những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu cải tiến kết cấu cống truyền thống đã được triển khai và ứng dụng ở nhiều địa phương các tỉnh ĐBSCL như: kết cấu cống kiểu trụ đỡ, cống đập xà lan, kết cấu cống lắp ghép bằng BTCT và BTCT dự ứng lực,… Ưu điểm nổi bật các công nghệ mới là: Kết cấu bền vững, kết hợp giao thông thủy bộ thuận lợi, thi công nhanh (không đắp đê quây và dẫn dòng thi công), hạn chế giải tỏa mặt bằng xây dựng, chi phí đầu tư thấp,… phù hợp với khả năng kinh phí của địa phương.

Bài viết này giới thiệu một cách tổng quát về kết quả nghiên cứu ứng dụng công nghệ cống lắp ghép phục vụ xây dựng thủy lợi ở ĐBSCL trong gần 10 năm qua nhằm đánh giá những thành tựu đã đạt được cũng như các hạn chế còn tồn tại phục vụ cho việc nghiên cứu hoàn thiện kết cấu công trình để triển khai ứng dụng rộng rãi công nghệ vào thực tiễn.




Yếu tố chính ảnh hưởng cao trình đặt tua bin nhà máy thủy điện tích năng Mộc Châu


PGS. TS. Nguyễn Thống


Theo quy hoạch thủy điện tích năng toàn quốc do Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) lập tháng 06 năm 2004, hệ thống điện quốc gia sẽ có 3 dự án thủy điện tích năng với tổng công suất khoảng 3.000 MW sẽ đưa vào hệ thống từ năm 2021 đến 2025. Tuy nhiên, với số liệu cập nhật vào năm 2010, công suất cần có cho dạng thủy điện này trong hệ thống có thể tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu này, cùng với các nghiên cứu khác, Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Điện 3 đã bước đầu nghiên cứu dự án thủy điện tích năng Mộc Châu. Với đặc thù riêng, các nhà máy thủy điện tích năng thường có công suất tương đối lớn và đường hầm dẫn nước có áp sau nhà máy dài. Nội dung bài báo trình bày kết quả tính toán sự dao động mực nước trong giếng điều áp sau nhà máy của dự án khi xảy ra nước va dương. Đây là cơ sở quan trọng nhất để xác định cao trình đặt tuabin hợp lý nhằm đảm bảo không xảy ra hiện tượng khí thực cho tuabin.

IV.

Địa chất nền móng - Vật liệu xây dựng - Công nghệ mới, vật liệu mới trong xây dựng thủy lợi

  1. 9

Phân tích ứng xử của kết cấu neo giữ tường chắn trong hố đào sâu

TS. Trần Xuân Thọ

ThS. Trần Tấn Hưng



Nội dung của bài báo là phân tích ứng xử của kết cấu neo giữ tường chắn trong hố đào sâu nhà cao tầng, ứng dụng phân tích cho công trình Apartment Building, quận 2, TP. HCM. Phân tích biến dạng và nội lực của hệ tường neo trong đất theo quá trình thi công. Phân tích ảnh hưởng của góc nghiêng của neo đến chuyển vị và nội lực của tường, đến chuyển vị và nội lực của thân neo và bầu neo. Từ đó rút ra được góc nghiêng neo hợp lý hợp lý là 20  350.

  1. 1

Xây dựng tương quan sức chống cắt từ thí nghiệm ba trục CU và CD cho loại đất sét

TS. Trần Xuân Thọ

ThS. Võ Thanh Long



Nội dung của bài báo là xây dựng tương quan sức chống cắt từ thí nghiệm ba trục cố kết – không thoát nước (CU) và cố kết – thoát nước (CD) cho loại đất sét yếu. Từ đó, giúp cho người thiết kế có thể chỉ dựa vào kết quả sức chống cắt c’, ’ từ thí nghiệm CU sẽ ước lượng được giá trị sức chống cắt thoát nước theo thí nghiệm CD.



Nghiên cứu sử dụng cát nhiễm mặn chế tạo bê tông

Th.s Khương Văn Huân

Sử dụng cát nhiễm mặn chế tạo bê tông cốt thép khi tổng lượng ion clo trong 1 m3 bê tông thấp hơn 1,9 kg không ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển cường độ bê tông. Có thể sử dụng cát mặn để chế tạo bê tông cho các hạng mục không cốt thép. Bê tông cốt thép từ cát mặn có thể sử dụng tùy theo vị trí của kết cấu trong các môi trường khác nhau.



Nghiên cứu ảnh hưởng của mô hình nền đến dự báo chuyển vị và biến dạng công trình hố đào sâu ổn định bằng tường chắn

PGS.TS. Võ Phán,

ThS. Ngô Đức Trung




B
ur
ài báo này phân tích ảnh hưởng của mô hình nền đến dự báo chuyển vị của tường và biến dạng của đất nền một công trình hố đào sâu ở Thành phố Hồ Chí Minh thông qua việc so sánh kết quả dự báo từ mô hình Mohr – Coulomb (MC) và mô hình Hardening Soi (HS) với các dữ liệu quan trắc để xác định liệu phân tích phần tữ hữu hạn tuyến tính đơn giản là đủ cho thiết kế an toàn hay phân tích số phi tuyến phức tạp cung cấp một giải pháp mang lại nhiều hiệu quả hơn. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của mô đun dỡ tải và gia tải (Eref) trong mô hình HS đến chuyển vị của tường được thực hiện dựa trên kết quả phân tích tham số và so sánh với số liệu quan trắc.





Phân tích và tính toán sức chịu tải của cọc chịu nhổ

PGS. TS Võ Phán,

KS. Trần Thanh Bình



Khi thiết kế công trình có sử dụng móng cọc thì việc tính toán sức chịu tải của cọc là rất quan trọng, tùy theo ngoại lực tác dụng vào đài cọc hoặc sự lệch tâm giữa cột và đài cọc thì cọc sẽ bị nén hay bị nhổ. Sức chịu nén của cọc bao gồm thành phần ma sát bên và sức kháng mũi. Khác với sức chịu nén, sức chịu nhổ của cọc không có thành phần sức kháng mũi mà bao gồm thành phần ma sát bên và khối đất bao quanh nhóm cọc. Ứng với mỗi lực nhổ khác nhau có một chuyển vị tương ứng của cọc và nhóm cọc. Đối với cọc chịu nhổ việc nhổ lên của cọc dù ít hay nhiều cũng làm chuyển vị, biến dạng của một phần công trình hay toàn bộ công trình. Vì vậy tính toán chính xác sức chịu nhổ của cọc có ảnh hưởng rất lớn đến an toàn, ổn định và kinh tế cho công trình đường dây điện nói riêng và các công trình chịu nhổ nói chung.




Nghiên cứu tính thấm để phân tích sự ổn định của đập hồ chứa nước khi đắp bằng đất ở Phú Yên

PGS.TS. Võ Phán

KS. Võ Thanh Toàn



Để ngăn ngừa những tai nạn có thể xảy ra ở vùng hạ lưu các đập đất hồ chứa nước, đồng thời nghiên cứu những nguyên nhân hư hỏng, sập vỡ đập đất, yêu cầu phải tính toán, phân tích đánh giá nhiều mặt như: Thông số thiết kế kỹ thuật, đất đai, thổ nhưỡng… đặc biệt là nghiên cứu tính toán ổn định thấm qua đập đất, yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến an toàn hồ chứa. Vì vậy, việc nghiên cứu sự ổn định của đập hồ chứa nước khi đắp bằng đất ở Phú Yên là rất phù hợp cho điều kiện địa chất, thổ nhưỡng tỉnh Phú Yên nhằm nâng cao tính ổn định của đập đắp bằng đất tại địa phương, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề an toàn hồ chứa khu vực miền Trung và Tây Nguyên.




Phân tích ảnh hưởng của khoan dẫn lên sức chịu tải của cọc trong thi công ép cọc

PGS. TS. Võ Phán,

KS. Nguyễn Văn Huấn



Nội dung của bài báo là phân tích và xác định hệ số giảm ma sát mf của cọc đối với các loại đất khác nhau khi thi công ép cọc bê tông cốt thép có khoan dẫn trên nền địa chất thuộc khu vực quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp phân tích là sử dụng các công thức tính toán theo TCXD 205-1998 và các số liệu ép cọc hiện trường để xác định sức chịu tải của cọc khi đi qua từng lớp đất. Từ đó thiết lập mối tương quan và xác định được hệ số giảm ma sát thực tế của các loại đất khác nhau khi thi công ép cọc có khoan dẫn.




Tương quan giữa sức chống cắt không thoát nước (SU) của đất sét yếu khu vực đại lộ Đông Tây theo kết quả thí nghiệm trong phòng vầ kết quả thí nghiệm cắt cánh hiện trường

TS. Đỗ Thanh Hải,

PGS.TS. Võ Phán



Bài báo thiết lập sự tương quan giữa giá trị sức chống cắt không thoát nước của đất sét yếu của khu vực dự án đại lộ Đông Tây được thí nghiệm cắt trực tiếp trong phòng (DST), và thí nghiệm nén ba trục không thoát nước-không cố kết (UU) và thí nghiệm cắt cánh hiện trường (VST). Kết quả cho thấy, sức chống cắt Su(UU) có giá trị nhỏ nhất, Su(VST) có giá trị lớn nhất, và giá trị Su(UU)< Su(DST) < Su(VST) đối với đất sét lẫn hữu cơ OH. Từ đó, kiến nghị việc chọn giá trị sức kháng cắt Su(UU) đưa vào thiết kế.



Phân tích ảnh hưởng lún bề mặt đến các công trình lân cận trong quá trình thi công đường hầm Metro

PGS.TS. Võ Phán, Th.S. Nguyễn Quang Khải

Lún sụt và biến dạng bề mặt ảnh hưởng đến công trình lân cận là vấn đề quan tâm hàng đầu trong quá trình thi công đường hầm metro, đặc biệt là trong vùng đất yếu. Bài báo phân tích ảnh hưởng lún bề mặt làm mất ổn định đến công trình lân cận khi thi công đường hầm metro, phân tích các nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng lún bề mặt.




Phân tích mô hình tính toán biến dạng lún bề mặt khi thi công đường hầm Metro bằng máy đào tổ hợp TBM khu vực Tp.HCM

PGS.TS. Võ Phán, Th.S. Nguyễn Quang Khải


Lún sụt và biến dạng bề mặt là vấn đề quan tâm hàng đầu trong quá trình thi công đường hầm metro, đặc biệt là trong vùng đất yếu. Đặc điểm của biến dạng lún bề mặt khi thi công đường hầm metro là phụ thuộc vào phương pháp và công nghệ thi công. Với những công nghệ thi công khác nhau thì giá trị lún bề mặt gây ra cũng khác nhau. Kết quả bài báo phân tích mô hình tính toán biến dạng lún bề mặt khi thi công đường hầm metro bằng máy đào tổ hợp TBM khu vực thành phố Hồ Chí Minh.



Phân tích ứng xử của lớp cát đệm kết hợp vải địa kỹ thuật trên đầu cọc trong nền nhà xưởng chịu tải phân bố đều

PGS. TS. Châu Ngọc Ẩn

PGS. TS. Võ Phán

KS. Nguyễn Tuấn Phương


Nội dung chính của bài báo là phân tích ứng xử của lớp cát đệm kết hợp vải địa kỹ thuật trên đầu cọc theo phương pháp phần tử hữu hạn nhằm giúp cho người thiết kế chú ý đến sự tương quan giữa khoảng cách cọc và chiều cao đắp hợp lý khi thiết kế nền theo phương pháp này.




Nghiên cứu ảnh hưởng của hố móng đào sâu đến ổn định công trình móng nông lân cận

TS. Trần Xuân Thọ

ThS. Nguyễn Công Huân



Nội dung của bài báo là phân tích ảnh hưởng của hố móng đào sâu nhà cao tầng đến ổn định công trình lân cận có kết cấu móng nông. Phương pháp phần tử hữu hạn được sử dụng để phân tích và kết quả được đánh giá với số liệu quan trắc hiện trường. Ổn định bản thân hố đào và công trình lân cận được phân tích đánh giá. Thiết lập các tương quan của chuyển vị ngang và độ lún các móng công trình lân cận theo từng giai đoạn thi công hố đào. Từ đó chọn được các giải pháp hợp lý để giảm sự ảnh hưởng của quá trình thi công hố đào đến công trình lân cận.




Phân tích các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến mô đun đàn hồi của đất

PGS.TS Võ Phán

Th.S Phan Quang Chiêu



Mô đun đàn hồi là một thông số quan trọng của đất được sử dụng để tính toán độ lún của móng công trình, chuyển vị của mái dốc, kết cấu chắn đất. Bài viết này phân tích các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu mô đun đàn hồi của đất và định hướng nghiên cứu tiếp theo.




Nghiên cứu sức chịu tải của cọc khoan nhồi có xét đến ảnh hưởng của quá trình đắp gia tải trong điều kiện đất yếu khu vực thành phố Hồ Chí Minh

PGS. TS. Võ Phán,

KS. Nguyễn Trung Kiên




Sức chịu tải của cọc khoan nhồi có xét đến ảnh hưởng của quá trình đắp gia tải trong điều kiện đất yếu khu vực Thành phố Hồ Chí Minh được phân tích bằng phương pháp phần tử hữu hạn. Đồng thời dùng kết quả thí nghiệm hiện trường để kiểm chứng độ tin cậy của phương pháp phân tích này, từ đó xác định được sự thay đổi của các thành phần sức chịu tải của cọc khoan nhồi khi đắp gia tải.




Chọn lựa hợp lý sức chống cắt không thoát nước của sét mềm để tính toán nền công trình đắp

TS. Bùi Trường Sơn

Th.S Lê Hoàng Việt



Sức chống cắt không thoát nước Su là đặc trưng cơ lý quan trọng phục vụ tính toán thiết kế hay phân tích ổn định công trình trên nền đất yếu, đặc biệt trong giai đoạn công trình vừa thi công xong. Các phương pháp xác định Su thường dùng là cắt trực tiếp (DSS), nén nở hông (UC), nén ba trục không cố kết không thoát nước (UU), cố kết không thoát nước (CU), thí nghiệm cắt cánh hiện trường (VST). Các phương pháp thí nghiệm khác nhau thường cho ra kết quả Su khác nhau. Bài viết thực hiện nhằm mục đích tổng hợp, phân tích các kết quả thí nghiệm và kiến nghị phương pháp thí nghiệm hợp lý xác định Su.



Phương pháp xác định hệ số Poisson của đất sét mềm bão hoà nước

TS. Bùi Trường Sơn


Trong các bài toán Địa kỹ thuật, hệ số Poisson ảnh hưởng đáng kể lên đặc điểm và giá trị độ lún của nền đất. Trên cơ sở lý thuyết và thí nghiệm, đề nghị phương pháp xác định giá trị hệ số Poisson thoát nước và không thoát nước của đất sét mềm bão hòa. Kết quả nghiên cứu cung cấp số liệu phù hợp đối với đất nền phổ biến của khu vực để giúp dự tính độ lún chính xác hơn.



Phân bố ứng suất và biến dạng trong nền đàn hối giới hạn

TS. Bùi Trường Sơn


Trên cơ sở lý thuyết đàn hồi cho bài toán phẳng, giới thiệu lời giải bài toán xác định các thành phần ứng suất trong nền giới hạn. Kết quả phân tích cho phép lựa chọn phạm vi vùng ảnh hưởng hợp lý hơn trong sử dụng các phần mềm chuyên ngành Địa cơ. Ngoài ra, còn giới thiệu lời giải bài toán xác định ứng suất với điều kiện biên có chuyển vị ngang tại biên ngang, tương tự như trường hợp diện gia tải gần kênh rạch. Phương pháp xác định các thành phần ứng suất của tải trọng hình thang cân theo đề nghị của người viết phù hợp khi tính toán các công trình đất đắp.



Nâng cao sức chịu tải của nền đất yếu dưới móng nông bằng giải pháp lưới địa kỹ thuật

TS. Nguyễn Ngọc Phúc

KS. Nguyễn Khánh Hùng



Ngày nay, đất có cốt được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực giao thông, thủy lợi, xây dựng dân dụng và công nghiệp. Đã có rất nhiểu các nghiên cứu về việc lắp đặt cốt địa kỹ thuật của Vidal vào năm 1966, Binquet và Lee vào năm 1975, Shukla vào năm 2002. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những phương pháp tính toán cụ thể khả năng nâng cao sức chịu tải và giảm độ lún của công trình trên đất yếu được gia cố bằng lưới địa kỹ thuật.



Biện pháp tăng sức chịu tải của nền cát rời bằng phương pháp phụt vữa xi măng

GS.TS. Trần Thị Thanh

ThS. Trần Thị Nguyên Hảo



Công trình xây dựng ở khu vực bờ biển thường yêu cầu phương án móng sâu bởi vì chiều dày lớp và tính chất cơ lý của đất nền yếu. Khả năng chịu tải thấp của nền gây phá hoại và vượt lún giới hạn. Bên cạnh đó, trong khu vực này mực nước ngầm cao chính vì vậy làm giảm khả năng chịu tải tính toán của nền. Bài viết này trình bày một số kết quả nghiên cứu gia cố nền của những vùng đất ven biển.



Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương