Công tác chuẨn bỊ và MỘt sỐ nguyên tẮc cơ bẢn xây dỰng tỔng sơ đỒ mẶt bẰng thi công các giẾng đỨng



tải về 0.7 Mb.
Chuyển đổi dữ liệu10.06.2020
Kích0.7 Mb.
#114472

công tác chuẨn bỊ và MỘt sỐ nguyên tẮc cơ bẢn

xây dỰng tỔng sơ đỒ mẶt bẰng thi công các giẾng đỨng


The preparatory works for constructing the temporary and supplemental buildings in the construction operations of the vertical shafts is an important link. The proper arrangement and construction of these buildings will provide favorable conditions to the workers and as a result, the construction implementation of the vertical shaft and the whole mine will be in time, meeting the required demands.

ThS. ĐẶNG HỒNG THẮNG

ThS. ĐỖ VĂN HOÀNG

KS. TRẦN VĂN YẾT

VÀ NNK

Viện Khoa học Công nghệ Mỏ-Vinacomin


Theo Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020, có xét triển vọng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 60/QĐ-TTg ngày 09 tháng 1 năm 2012, đến năm 2015 sẽ đầu tư xây dựng mới 25 mỏ có công suất đến 2,0 triệu tấn/năm. Trong đó, nhiều mỏ sẽ được tổ chức xây dựng khai thông, mở vỉa bằng các lò giếng đứng như khu vực khai thác hầm lò dưới mức -50 mỏ Hà Lầm, công suất 2,4 triệu tấn/năm; mỏ hầm lò Núi Béo công suất 2,0 triệu tấn/năm; mỏ hầm lò Khe Chàm II-IV, công suất 3,5 triệu tấn/năm; khu vực khai thác hầm lò xuống sâu dưới mức -150 mỏ Mạo Khê, công suất 2,0 triệu tấn/năm… Để đáp ứng các yêu cầu về tiến độ xây dựng mỏ theo kế hoạch đặt ra cần thiết phải có công tác chuẩn bị tốt, kèm theo là các giải pháp thi công cũng như kế hoạch xây dựng mỏ hợp lý.

Để thi công xây dựng các giếng đứng, trong thời kỳ chuẩn bị phải thực hiện các công việc liên quan đến công tác chuẩn bị công nghệ phục vụ cho công tác đào các lò giếng và các công trình, các tòa nhà trên bề mặt của mỏ.

Tỷ lệ các công việc của giai đoạn chuẩn bị chiếm từ 30% ÷ 45% giá thành của các hạng mục công trình trên bề mặt của mỏ. Khoảng thời gian để thực hiện các công việc trong thời kỳ chuẩn bị chiếm đến 25% trong tổng thời gian xây dựng mỏ.

Việc xây dựng tổng sơ đồ mặt bằng thi công giếng đứng bao gồm xây dựng các hạng mục công trình nằm ngoài khu vực sân công nghiệp; xây dựng các tòa nhà nằm trong khu vực sân công nghiệp; các công trình, lắp đặt thiết bị phục vụ cho công tác đào các lò giếng và xây dựng các công trình tạm thời và các công trình cố định, được sử dụng trong thời gian đào các lò giếng. Toàn bộ các hạng mục công trình trên mặt mỏ, trong thời kỳ chuẩn bị được chia làm hai nhóm.



* Nhóm thứ nhất bao gồm:

- Các đường ôtô và các mặt bằng (các đường ôtô dẫn đến mặt bằng sân công nghiệp, đến các công trình khai thác và đến bãi thải đất đá; các đường ôtô trong mặt bằng sân công nghiệp; các mặt bằng để bố trí thiết bị xung quanh lò giếng; các công trình dỡ tải và các vật liệu); các công trình phụ và các công trình kho bãi (các kho có mái che, các kho bãi lộ thiên, các xưởng cơ khí sửa chữa trong thời kỳ xây dựng mỏ); các công trình hành chính sự nghiệp (các tòa nhà sinh hoạt, vệ sinh tạm thời phục vụ cho các công nhân xây dựng; tổ hợp hành chính sự nghiệp, sinh hoạt phục vụ cho các công nhân hầm lò thực thi các công tác đào các đường lò và phục vụ cho các công nhân xây dựng các hạng mục công trình trên bề mặt và lắp đặt thiết bị trong thời kỳ xây dựng chính của mỏ);

- Cung cấp nhiệt phục vụ sinh hoạt.

- Cung cấp nước, hệ thống mương thoát nước mỏ (đường ống dẫn nước đến mặt bằng, mạng lưới cấp nước bên trong sân công nghiệp. Các bể chứa nước, các trạm bơm, các hố thu gom nước mạng lưới kênh mương bên ngoài sân công nghiệp, mạng lưới kênh mương bên trong sân công nghiệp và thoát nước mỏ).

- Cung cấp điện, điện chiếu sáng và thông tin liên lạc (các đường dẫn điện, các đường dây liên lạc đến các mặt bằng, các trạm điện biến hạ áp và các tuyến đường điện tạm thời trên mặt bằng, chiếu sáng mặt bằng sân công nghiệp).

* Nhóm thứ hai bao gồm:

- Tổ hợp cạnh lò giếng phục vụ công tác trang bị cho việc đào lò giếng (tháp giếng đào lò hoặc tháp giếng cố định, các tòa nhà đặt các máy trục tải; các thiết bị tời đào lò cơ động; trạm quạt cùng các đường ống dẫn; trạm cung cấp nhiệt “Năng lượng”; nhà bảo dưỡng máy khoan cùng cầu cạn bố trí palăng điện).

- Các hạng mục công trình để phục vụ công tác làm cứng đất đá khi đào các lò giếng (cụm thiết bị làm cứng cùng các kết nối công trình, kho chứa các vật liệu trơ).

- Các hạng mục công trình cung cấp khí nén (trạm khí nén cùng các kết nối công trình; công trình làm nguội đối với trạm khí nén; mạng lưới khí nén).

Phụ thuộc vào các điều kiện địa chất mỏ và sơ đồ công nghệ đào các lò giếng, năng suất và vị trí phân bố của mỏ thì thành phần của các hạng mục công trình và các công trình có thể được thay đổi. Tổng hợp các công trình phụ trợ và nhà tạm thi công giếng đứng gồm:

- Tháp giếng thi công.

- Móng của các máy trục tải.

- Nhà tời.

- Nhà bảo dưỡng thiết bị khoan và trạm phân phối.

- Nhà bố trí palăng điện.

- Các nhà kho và bãi chứa vật liệu.

- Nhà sửa chữa cơ khí và cơ điện.

- Nhà hành chính sự nghiệp (giao ca, ăn uống, tắm giặt sấy, vệ sinh, y tế, nhà nồi hơi nấu nước nóng).

- Nhà chuẩn bị mìn mồi.

- Nhà trạm nén khí.

- Nhà trạm quạt.

- Nhà trạm máy phát điện.

- Các trạm biến áp và trạm phân phối điện 6 kV.

- Sàn bê tông nằm dưới thiết bị dỡ tải để gom nước thải.

- Trạm bơm + bể chứa nước thải.

- Trạm bơm cấp nước phục vụ sản xuất và cứu hỏa.

- Téc chứa nước dự trữ cho sản xuất và cứu hỏa.

- Trạm trộn bê tông (trong trường hợp mua bê tông tươi từ nhà máy khó khăn).

Nguyên tắc cơ bản xây dựng tổng sơ đồ mặt bằng thi công các giếng đứng

Bố trí các công trình phụ trợ và công trình tạm căn cứ theo yêu cầu công nghệ thi công và mặt bằng san gạt. Nguyên tắc bố trí các công trình tạm thời không được xây dựng trên vị trí bố trí các công trình cố định. Mặt bằng được kết nối với đường ôtô hiện có trong khu vực, liên kết giữa các công trình tạm trong mặt bằng bằng đường ôtô tạm thời đảm bảo lối thoát dễ dàng khi có hỏa hoạn xảy ra. Mặt bằng bố trí các công trình phụ trợ và công trình tạm các giếng đứng chính, phụ mỏ Khe Chàm II-IV được mô tả trên hình 1.



a. Lựa chọn kiểu đường, các đường nhánh và các mặt bằng.

- Để vận chuyển, vận tải các kết cấu, vật liệu và các thiết bị khi xây dựng các lò giếng thì cần phải tính đến việc sử dụng các đường cố định đang được sử dụng và các đường tạm thời, các đường nhánh dẫn vào các mặt bằng. Việc xây dựng các con đường, các mặt bằng và các đường nhánh sử dụng các kết cấu mặt đường phụ thuộc vào các điều kiện mặt bằng cụ thể và các điều kiện kỹ thuật phù hợp để xây dựng có tính đến các điều kiện thiên nhiên, chế độ địa chất thủy văn và chế độ chất tải đối với các công tác tạo mặt đường và việc sử dụng các vật liệu tại địa phương.

- Tổng chiều dài các đường phục vụ cho các công tác vận tải giao thông đến mặt bằng và các đường nhánh trong nội bộ mặt bằng được xác định bằng thiết kế xây dựng mỏ và thiết kế tổ chức thi công.

b. Lựa chọn kiểu và khối lượng các công trình kho bãi.

Khối lượng cần thiết và kiểu loại các tòa nhà được sử dụng làm kho, bãi và xưởng sửa chữa có diện tích được xác định trên cơ sở các dữ liệu sau:

- Sự phân bố giá thành công tác xây dựng, lắp đặt theo năm xây dựng khi xây dựng các hạng mục công trình trên bề mặt của mỏ và các công trình các lò giếng, các đường lò mỏ.

- Các định mức đối với tiết diện các nhà kho cho công tác xây dựng, lắp đặt theo các dạng sản phẩm và các kiểu nhà kho chứa.

Để đảm bảo cho quá trình thực hiện không bị quá tải đối với các công tác xây dựng, lắp đặt thì các kết cấu và các linh kiện nhất thiết phải được cung cấp cho công tác xây dựng đúng thời hạn và kịp thời, ngoài ra, phải xây dựng trên mặt bằng sân công nghiệp một lượng dự trữ vật liệu xác định. Các xưởng sửa chữa cơ điện tại thời kỳ xây dựng, thì theo như nguyên tắc sẽ nằm trong tòa nhà của khối lò giếng phụ.

c. Lựa chọn khối lượng các gian nhà hành chính sự nghiệp, sinh hoạt phục vụ công nhân.

Điều kiện cần thiết nhất để xây dựng các lò giếng một cách hiệu quả là phải tạo điều kiện sinh hoạt bình thường cho các công nhân xây dựng.

Để tiến hành đúng thời hạn công tác xây dựng các hạng mục công trình, cần thiết phải xây dựng được đường xá và các đường dẫn đường nhánh vào công trình xây dựng, các đường dẫn điện và mạng lưới cấp nước, hệ thống mương máng và thông tin liên lạc, các công trình nhà cửa phục vụ công tác nghiệp vụ và sinh hoạt cho công nhân.

Trong thời kỳ đầu của quá trình xây dựng, số lượng công nhân được xác định: N = O/V, trong đó: O - Khối lượng các công việc cần phải được thực hiện trong thời kỳ đầu xây dựng; V - Năng suất trung bình của một công nhân.

Căn cứ vào số lượng công nhân tính toán trong thời kỳ đầu xây dựng cho đến thời điểm đưa tổ hợp tòa nhà hành chính sự nghiệp vào hoạt động, nhất thiết phải xây dựng khu vực sinh hoạt cho công nhân xây dựng. Khu vực cho công nhân sinh hoạt gồm các tòa nhà cơ động và các công trình, trong các tòa nhà đó bố trí các gian dành cho sinh hoạt, ăn ở, trạm y tế, nhà ăn, câu lạc bộ.

Tổ hợp hành chính sự nghiệp tạm thời được bố trí trên khu vực trống cạnh các tòa nhà, công trình cố định, vị trí gần các lò giếng và được nối với lò giếng bằng một hành lang. Danh mục các gian nhà, số lượng và chức năng liên kết chúng với nhau được xác định bằng thành phần công nhân lao động và chế độ làm việc của tổ hợp. Việc lắp đặt tòa nhà tại mặt bằng xây dựng được tiến hành từ việc lập kế hoạch bình đồ, xây dựng các nền móng, lắp đặt các kết nối.



d. Lựa chọn kiểu và khối lượng các hạng mục công trình cấp nước và cấp khí nén.

Trong thời kỳ chuẩn bị, nước sạch được tiêu thụ cho mục đích sinh hoạt, sản xuất và chống cháy. Nhu cầu chung về nước cho mặt bằng xây dựng được xác định xuất phát từ các định mức về nhu cầu dùng nước đối với từng hạng mục công trình phụ thuộc vào khối lượng xây dựng, vào các phương pháp được áp dụng để tiến hành các công việc, vào các máy móc và cơ cấu được sử dụng để thực thi các quá trình xây dựng.

Lượng nước tiêu thụ cho một ngày đêm đối với mặt bằng xây dựng:

Qngày đêm = Q1 + Q2 + Qch, lít.

Ở đây: Q1, Q2, Qch – Lượng nước tiêu thụ phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất và chữa cháy.

Các mạng lưới dẫn nước và mạng lưới bên trong sân công nghiệp cần phải được tiến hành theo sơ đồ cố định, các bể chứa nước, các trạm bơm nước được sử dụng với mục đích lâu dài. Lưu lượng nước thải trong các gian nhà sinh hoạt của tòa nhà sản xuất:

Q = dp . Pn /100, (lít/giây).

Ở đây: dp – Lượng nước thải tính toán của một dụng cụ cùng loại, lít; Pn – Hệ số hoạt động đồng thời của các thiết bị, %; n – Số lượng các dụng cụ sử dụng nước cùng một loại.

Các mạng lưới kênh mương cần được thực hiện theo sơ đồ cố định cùng với việc sử dụng các tòa nhà và các công trình với mục đích khai thác sử dụng cố định.

- Khối lượng của các trạm khí nén khi đào các lò giếng đứng được tính cho tất cả các thiết bị tại gương làm việc với khí nén. Thông thường đối với thi công giếng đứng, các công việc trong giếng thường tổ chức làm việc nối tiếp nên lưu lượng trạm nén khí thường tính cho thiết bị sử dụng khí nén lớn nhất là trạm khoan.

Với khối lưu tổn thất và các thiết bị sử dụng đồng thời trên, để đáp ứng được nhu cầu đối với năng lượng khí nén thì cần phải dự tính sử dụng các trạm khí nén. Trạm khí nén gồm một tổng thành của một số trạm khí nén, làm việc trong một mạng khí nén chung.

Trạm khí nén gồm máy nén khí cùng bộ truyền động, thiết bị phụ trợ và các phương tiện, thiết bị kiểm tra, kiểm soát và hệ thống tự động. Các trạm khí nén tạm thời được sử dụng khi xây dựng các lò giếng đứng, được chia ra thành hai loại là trạm khí nén cố định và trạm khí nén di động.



e. Lựa chọn kiểu loại và xác định khối lượng đối với công tác cấp điện, điện chiếu sáng và thông tin liên lạc.

- Sơ đồ cung cấp điện trong thời kỳ chuẩn bị để xây dựng mỏ phụ thuộc vào công suất tiêu thụ và các điều kiện của chế độ sự cố, vào đặc tính mật độ của các hộ tiêu thụ năng lượng điện trên mặt bằng, vào điện áp sử dụng của các hộ tiêu thụ. Tại thời kỳ xây dựng, theo nguyên tắc, cần phải sử dụng các đường cung cấp điện cố định và các phân trạm biến áp. Các trạm điện tạm thời và các trạm điện lưu động có thể được sử dụng chỉ trong thời kỳ xây dựng ban đầu.

- Chiếu sáng cho mặt bằng trong thời kỳ chuẩn bị được thực hiện bằng các bóng đèn điện hoặc bằng các đèn pha, được bố trí trên các cột điện tạm thời hoặc cố định theo tính toán để chiếu sáng cho khu vực mặt bằng.

- Sử dụng hệ thống thông tin liên lạc không dây trong thời kỳ xây dựng ban đầu sau đó sẽ bố trí trạm điện thoại cố định, lắp đặt trong tổ hợp hành chính sự nghiệp.

Trên đây là một số vấn đề về công tác chuẩn bị và những nguyên tắc cơ bản xây dựng tổng sơ đồ mặt bằng thi công các giếng đứng.

Ví dụ như với dự án khai thác hầm lò mỏ than Núi Béo có công suất 2,0 triệu tấn/năm, khai trường được mở vỉa bằng 02 giếng đứng đều có đường kính sử dụng 6,0m. Trong giai đoạn vừa qua, Viện Khoa học Công nghệ Mỏ đã phối hợp với Viện Thiết kế mỏ Giproshakt (Liên bang Nga) thực hiện thiết kế thi công cặp giếng đứng và thiết kế thi công đồng bộ trang thiết bị đào giếng đứng mỏ than hầm lò Núi Béo. Theo thiết kế, giếng đứng chính được đào từ mặt bằng mức +35 xuống mức -351,6, giếng đứng phụ được đào từ mặt bằng mức +35 xuống mức -381,6. Các giếng đứng được chống giữ bằng bê tông và bê tông cốt thép, chiều dày vỏ chống từ 350mm đến 600mm.



Để phục vụ thi công đồng thời cặp giếng đứng mỏ than Núi Béo, cần thiết phải xây dựng các công trình phụ trợ như: 02 tháp giếng thi công có chiều cao 28,5m; 06 nhà đặt máy trục tải và các tời; 02 nhà bảo dưỡng thiết bị khoan và trạm phân phối, diện tích 84m2; 02 nhà bố trí palăng điện, diện tích 72m2; 01 nhà trạm nén khí, diện tích 180m2; 01 nhà trạm quạt, diện tích 315m2; 01 nhà trạm máy phát điện, diện tích 70m2; 01 nhà chuẩn bị mìn mồi, diện tích 60m2; 01 nhà điều hành sản xuất (nhà tắm giặt sấy, vệ sinh, nhà nồi hơi, kho và bãi chứa vật liệu, nhà sửa chữa cơ khí và cơ điện), diện tích 3130m2; 01 nhà trạm quạt, diện tích 315m2; 01 nhà trạm bơm cấp nước phục vụ sản xuất và cứu hỏa, diện tích 27m2; khối téc chứa nước dự trữ cho sản xuất và cứu hỏa với lưu lượng 250m3; 01 nhà trạm biến áp với công suất 2x2500kVA. Chi tiết bố trí các công trình phụ trợ và công trình tạm các giếng đứng chính, phụ mỏ hầm lò Núi Béo thể hiện trên hình 1.



Hình 1.Bố trí các công trình phụ trợ và công trình tạm phục vụ thi công các giếng

Mỏ than hầm lò Núi Béo

Công tác chuẩn bị xây dựng các công trình tạm thời và phụ trợ phục vụ thi công trong đào lò giếng đứng là một khâu rất quan trọng. Việc bố trí và tính toán quy mô các công trình hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và làm việc của công nhân, tính hợp lý và đồng bộ sẽ giúp việc thi công và xây dựng giếng đứng cũng như toàn mỏ được thuận lợi, đáp ứng tiến độ yêu cầu đặt ra./.



Tài liệu tham khảo

1. О.С. Докукина И Н.С. Болотских. “Xây dựng các lò giếng đứng cho các mỏ than hầm lò và các mỏ quặng hầm lò”. Москва “Недра” 1991.

2. Насонов И.Д, Фебюкин В.А. “Công nghệ xây dựng các công trình ngầm”. Недра 1985.

3. “Hồ sơ thiết kế thi công đồng bộ trang thiết bị thi công đào giếng đứng mỏ than hầm lò Núi Béo” Viện Khoa học Công nghệ Mỏ - Vinacomin, tháng 9/2012.






tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương