Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 2.33 Mb.
trang3/7
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích2.33 Mb.
#4756
1   2   3   4   5   6   7


4. Kết quả
đào tạo nguồn nhân lực:

4.1. Kết quả đào tạo nhân lực:

Qua 5 năm đào tạo, từ năm 2005 - 2010, số lượng lao động qua đào tạo của Vĩnh Long tăng lên đáng kể và tăng đều hàng năm.

Tổng số lao động qua đào tạo là 154.168 lao động, trong đó: Dạy nghề 107.816 lao động, chiếm 69,93%; trung cấp chuyên nghiệp 15.515 lao động, chiếm 10,06%; cao đẳng 17.158 lao động, chiếm 11,13%; đại học và trên đại học 13.679 lao động, chiếm 8,88%. Tốc độ tăng trung bình 11,9%/năm, năm 2010 tăng gấp 1,75 lần so với năm 2005.


BIỂU KẾT QUẢ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC HẰNG NĂM

Đơn vị tính: 1.000 người



TT

Phân theo trình đ

2005

2010

2005 - 2010

I

TỔNG SỐ

18,516

32,425

154,168

II

CẤU (TỔNG SỐ = 100%)

100

100

100

1

Đào tạo ngắn hạn

43,39

50,89

48,15

2

Sơ cấp nghề

18,59

15,42

15,21

3

Công nhân kỹ thuật

6,88

0,00

0,83

4

Trung cấp nghề

0,00

7,25

5,54

5

Cao đẳng nghề

0,00

0,46

0,20

6

Trung cấp chuyên nghiệp

14,41

6,44

10,06

7

Cao đẳng

7,71

11,50

11,13

8

Đại học

8,85

7,58

8,54

9

Trên đại học

0,16

0,47

0,33

4.2. Kết quả đào tạo nghề:

Giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Vĩnh Long đã đào tạo nghề cho 107.816 lao động. Cụ thể:

- Ngành nghề nông, lâm nghiệp - thuỷ sản gồm: Trồng trọt, chăn nuôi; chế biến, bảo quản nông - thuỷ sản; quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; quản lý trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác; quản lý kinh tế hộ gia đình nông thôn; dịch vụ nông nghiệp,... khoảng 32.400 lao động, chiếm tỷ lệ 30,11%.

- Ngành nghề công nghiệp - xây dựng gồm: Cơ khí chế tạo (hàn, cắt gọt kim loại), ngành nghề điện (điện công nghiệp, điện tử công nghiệp, điện dân dụng, điện tử dân dụng, điện lạnh,...), xây dựng dân dụng, cấp thoát nước, thiết kế đồ hoạ, vẽ kỹ thuật, công nghệ thông tin, quản trị cơ sở dữ liệu, công nghệ ô tô - máy tàu thuỷ, quản trị kinh doanh vận tải, vận hành máy thi công,... khoảng 26.400 lao động, chiếm tỷ lệ 24,45%.

- Ngành nghề thương mại - dịch vụ gồm: Kỹ thuật máy lạnh và điều hoà không khí, may và thiết kế thời trang, kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật tóc và chăm sóc da mặt, kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính, tin học văn phòng, kỹ thuật viên dược, điều dưỡng (y tá), lái xe chuyên dụng, lái phương tiện thuỷ nội địa, vệ sĩ,... khoảng 49.000 lao động, chiếm tỷ lệ 45,44%.

4.3. Đánh giá kết quả đào tạo:

Hình thức đào tạo đa dạng và phong phú, bao gồm chính quy tập trung, liên kết đào tạo, đào tạo nghề lưu động tại các điểm dân cư, cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp (phổ biến nhất trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn) và các loại hình đào tạo khác đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều lao động được tham gia học tập.

Thực hiện đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động giai đoạn 2005-2010 đã góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động của tỉnh lên 35% lao động có chuyên môn kỹ thuật, trong đó lao động qua đào tạo nghề 21%. Chuyển dịch cơ cấu nghề lao động theo hướng tích cực, tỷ lệ lao động nghề trong nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ: 30,11 - 24, 45 - 45,44%.

Tuy lao động qua đào tạo có tăng nhưng tăng chủ yếu ở hình thức đào tạo ngắn hạn và sơ cấp (chiếm 63,4%); hình thức đào tạo cao đẳng, đại học có tăng nhưng chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa lấy được lòng tin và chưa tạo cầu nối với doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, chưa có cơ chế nắm bắt thông tin, hỗ trợ sinh viên sau khi tốt nghiệp. Do đó, đầu ra cho các sinh viên còn bỏ ngỏ, đa số sinh viên sau khi tốt nghiệp đều không có cơ hội làm việc tại tỉnh mà phải quay về quê hoặc vào các khu công nghiệp ở các thành phố lớn, làm các công việc giản đơn, trái nghề, thu nhập thấp, ít có cơ hội nâng cao tay nghề.

- Tình trạng lao động "tuy thừa mà thiếu" diễn ra trên diện rộng của tỉnh. Do quy mô nền kinh tế Vĩnh Long còn nhỏ, chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp vừa và nhỏ quản lý theo hình thức gia đình:

+ Cầu lao động chủ yếu là lao động phổ thông đơn giản, không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật và đặc biệt là trả tiền lương thấp. Việc phải bỏ ra 2 - 3 năm học cao đẳng, trung cấp nghề đến khi ra trường không thể kiếm được việc làm tương xứng, phải làm các công việc không cần trình độ, chỉ cần học việc khoảng 1 - 2 tháng, với mức lương từ 1 triệu đồng đến 1,2 triệu đồng, không đảm bảo được cuộc sống, đã làm cho lao động không còn tha thiết với nghề, doanh nghiệp thì không tuyển được lao động.

+ Cầu lao động quản lý, có trình độ chuyên môn: Cầu lao động dạng này ở Vĩnh Long rất ít, chủ yếu lao động quản lý là người gia đình. Bên cạnh đó, do sự bất cập trong hệ thống đào tạo làm cho lao động được đào tạo tại tỉnh yếu cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn các kỹ năng mềm của lao động (Cụ thể như: Lòng yêu nghề, đam mê công việc; ý thức rèn luyện thể thao để có đủ sức khoẻ làm việc trong môi trường có áp lực cao; ý thức tổ chức, tác phong làm việc kỷ luật, tinh thần hợp tác; kỹ năng giao tiếp; tư duy logic, nắm bắt vấn đề, phương pháp tìm kiếm thông tin; sự chủ động tìm việc và giải quyết công việc; trình độ tin học và ngoại ngữ… của lao động rất thấp).

Lao động trình độ trung cấp, cao đẳng tại Vĩnh Long được ví như là tầng lớp ở giữa "sử dụng không được mà bỏ đi thì không xong". Nếu không kịp thời giải quyết tình trạng lao động "tuy thừa mà thiếu"; cải cách hệ thống đào tạo; nâng cao ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; thu hút đầu tư, tạo việc làm cho lao động có trình độ… mà chúng ta lại tiếp tục đào tạo một lượng lớn lao động trình độ trung cấp, cao đẳng sẽ tạo áp lực cho tỉnh trong việc giải quyết việc làm; làm hao phí rất lớn nguồn lực xã hội.

IV. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NHÂN LỰC:

1. Trạng thái hoạt động của nhân lực:

- Nguồn nhân lực của tỉnh: 848,940 ngàn người.

- Số người từ 15 tuổi trở lên: 815,307 ngàn người.

- Số người từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế (lực lượng lao động): 622,007 ngàn người.

Trong đó:

+ Số người đang làm việc trong nền kinh tế: 606,300 ngàn người, chiếm 97,47%.

+ Số người thất nghiệp: 15,707 ngàn người, chiếm 2,53%.

- Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động: 568,267 ngàn người.

- Số người từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế: 193,3 ngàn người.

Trong đó:

+ Đang đi học 62,1 ngàn người, chiếm 32,1%.

+ Nội trợ 56,9 ngàn người, chiếm 29,4%.

+ Các trường hợp khác: 74,3 ngàn người chiếm 38,5%.

1.1. Nguồn lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động:

Năm 2010, số người từ 15 tuổi trở lên là 815,3 ngàn người, chiếm tỷ trọng 79,53%, trong đó số người trong tuổi lao động là 698,2 ngàn người, chiếm 68,1% tổng dân số.

(Xem biểu trình bày số lượng và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của tỉnh 2000 và 2010).


BIỂU SỐ ỢNG VÀ TỶ LỆ THAM GIA LỰC ỢNG LAO ĐỘNG

ĐVT: 1000 người.






Năm 2000

Năm 2010

Tốc độ tăng bình quân/năm (%)

1. Tổng dân số

1.012,1

1.026,5

0,14

2. Nguồn nhân lực




848,9




3. Số người từ 15 tuổi trở lên

719,7

815,3

1,3

* Số người trong độ tuổi lao động

624,2

698,2

1,1

4. Lực ợng lao động xã hội

545,6

622,0

1,3

* Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (%)

75,8

76,3




Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động

510,7

568,2

1,1

* Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong tuổi lao động

81,7

81,4




Với khái niệm dân số hoạt động kinh tế (hay còn gọi là lực lượng lao động) bao gồm những người đang làm việc và thất nghiệp trong thời gian nghiên cứu thì tính đến thời điểm 01/7/2010, toàn tỉnh có 622 ngàn người từ 15 tuổi trở lên đang tham gia lực lượng lao động, chiếm 60,6% tổng dân số và chiếm 76,3% số người từ 15 tuổi trở lên. Trong đó, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 568 ngàn người, chiếm 55,4% dân số và chiếm 81,4% số người trong độ tuổi lao động. Ngoài lực lượng lao động trong tuổi, còn có 53,7 ngàn người trên tuổi lao động nhưng thực tế vẫn tham gia lao động, chiếm 8,6% lực lượng lao động xã hội. Điều này có nghĩa là cứ 100 người đang tham gia lực lao động trong xã hội thì có 91 người trong độ tuổi lao động và gần 9 người trên độ tuổi nhưng vẫn còn làm việc.

So với năm 2000, lực lượng lao động xã hội của tỉnh năm 2010 đã tăng thêm 76 ngàn người (tính cả số trên độ tuổi lao động), bình quân hàng năm tăng 1,3%/năm (tăng 7,6 ngàn lao động/năm).

1.2. Dân số từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế:

Năm 2010, toàn tỉnh có 193,3 ngàn người từ 15 tuổi trở lên không hoạt động kinh tế, chiếm 23,7% trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên của tỉnh. Chia theo nguyên nhân: Đang đi học 62,1 ngàn người, chiếm 32,1%; nội trợ 56,9 ngàn người, chiếm 29,4%; mất khả năng lao động 9,5 ngàn người, chiếm 4,9%; lao động thoái chí 5,5 ngàn người, chiếm 2,8%; không muốn làm việc 3,9 ngàn người, chiếm 2,0%, các trường hợp khác 55,4 ngàn người, chiếm 28,7% số người không hoạt động kinh tế.




2. Trạng thái việc làm của nhân lực:

Năm 2010, toàn tỉnh có 622 ngàn người hoạt động kinh tế, trong số đó có việc làm 606,3 ngàn người, chiếm tỷ lệ 97,48% (kể cả đủ việc làm và thiếu việc làm).

Trong số những người đang làm việc, số lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản là 354,6 ngàn người, chiếm tỷ lệ 58,5%; công nghiệp và xây dựng là 94,6 ngàn người, chiếm 15,6% và các ngành dịch vụ có 157,1 ngàn người, chiếm tỷ lệ 25,8%.

Về lực lượng lao động, khu vực thành thị hiện có 84,6 ngàn người từ 15 tuổi trở lên thuộc đang hoạt động kinh tế, chiếm tỷ lệ 13,6%; khu vực nông thôn có 537,3 ngàn người đang hoạt động kinh tế, chiếm 86,4% trong tổng lực lượng lao động xã hội trong tỉnh. Tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị 53,8%, tỷ lệ lao động ở khu vực nông thôn 61,9%.

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã làm thay đổi cơ cấu lao động theo hướng từng bước tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ lệ trong nông nghiệp, đồng thời tăng tỷ trọng lao động ở thành thị và giảm dần lao động ở nông thôn.

So với năm 2000, số lao động làm việc trong khu vực công nghiệp xây dựng 10 năm qua đã tăng thêm 44,6 ngàn người, khu vực dịch vụ tăng thêm 50 ngàn người, khu vực nông lâm thuỷ sản giảm 21,9 ngàn người. Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 9,3% của năm 2000 lên 15,6% vào năm 2010 (tăng 6,3 điểm %); tỷ trọng lao động khu vực dịch vụ tăng từ 19,9% lên 25,9% (tăng 6,0 điểm %); riêng tỷ trọng khu vực nông lâm thuỷ sản giảm tương ứng từ 71,0% xuống còn 58,5% vào năm 2010. Điều này cho thấy, cơ cấu lao động chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, tuy nhiên tỷ trọng lao động nông lâm nghiệp thuỷ sản hiện nay vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn.

- Hiệu quả chung về năng suất lao động: GDP bình quân một lao động 2010 đạt khoảng 20,24 triệu đồng/người năm, loại trừ biến động GDP bình quân 1 lao động năm 2010 tăng 2,45 lần năm 2000. Tuy nhiên, lao động tăng không đều, lao động công nghiệp và dịch vụ cao hơn 1,56 lần nông nghiệp.

Riêng lực lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp - dịch vụ: Do nguồn nhân lực qua đào tạo chủ yếu là ngắn hạn, giản đơn nên năng suất lao động chưa cao, dẫn đến thu thập tiền công, tiền lương còn thấp. Ví dụ: Bình quân 1 công nhân hoạt động trung bình trên địa bàn tỉnh có thu nhập từ 1 - 1,2 triệu đồng/tháng, như vậy chỉ đủ trang trải cho chi phí sinh hoạt của bản thân chưa nói đến tích luỹ, phát triển ….



V. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN NHỮNG MẶT MẠNH, HẠN CHẾ, THÁCH THỨC VÀ THỜI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC CỦA TỈNH:

1. Những điểm mạnh:

Vĩnh Long có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở trung tâm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hệ thống giao thông đối ngoại khá thuận lợi, kể cả đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không. Nằm gần 2 trung tâm kinh tế văn hoá xã hội lớn của khu vực: Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Điều kiện khí hậu thuận lợi, đất đai phì nhiêu và nguồn nước ngọt quanh năm, thuận tiện cho việc canh tác nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt. Vĩnh Long hiện là vùng trọng điểm sản xuất lương thực thực phẩm lớn nhất cả nước, đặc biệt nằm trong vùng tứ giác phát triển cây ăn trái lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm năng phát triển các loại cây trồng lúa, màu, cây ăn quả lớn, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Vĩnh Long có tiềm năng lớn về phát triển du lịch (du lịch sinh thái, du lịch lịch sử văn hoá, hội nghị, hội thảo, thương mại.v.v).

Nhân dân Vĩnh Long có truyền thống hiếu học, có tinh thần cần cù, chịu khó và có ý thức tổ chức kỷ luật khá tốt.

Lực lượng lao động có số lượng trên 50% dân số. Đây là lực lượng trẻ, năng động với tiềm năng dồi dào. Trong số đó có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở, tốt nghiệp trung học phổ thông là 25% dân số cũng là cơ hội để có nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng sự phát triển kinh tế tỉnh nhà.

Có hệ thống đào tạo đa dạng (như trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề lớn), năng lực đào tạo đa ngành nghề phục vụ yêu cầu phát triển nhân lực tỉnh nhà.


2. Những
điểm yếu:

Quy mô kinh tế nhỏ, phát triển chủ yếu trên cơ sở khai thác các điều kiện tự nhiên, công nghệ lạc hậu. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế thấp, hạn chế khả năng mở rộng sản xuất xã hội.

Mật độ dân số đông, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn, thu nhập thấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp.

Hạ tầng về giao thông còn kém, chưa tạo điều kiện thuận lợi hấp dẫn các thành phần kinh tế đầu tư.

Nông nghiệp thường đóng góp thấp cho tăng trưởng kinh tế. Hầu hết là các sản phẩm cùng loại ở đồng bằng sông Cửu Long nên chịu cạnh tranh lớn, nhiều nhân tố cạnh tranh đang bị thấp hơn các tỉnh trong khu vực.

Lao động phần lớn là phổ thông và ở nông thôn, việc làm khu vực phi nông nghiệp hạn chế, đặc biệt là ở các đô thị; đội ngũ cán bộ quản lý, các doanh nhân chưa theo kịp với đòi hỏi của cơ chế thị trường khi hội nhập

Lao động hiện hoạt động trong nông nghiệp là chủ yếu, nhu cầu qua đào tạo không nhiều.

Chưa có nơi nghiên cứu, chưa đề ra chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho định hướng phát triển của tỉnh và đáp ứng từng công ty, xí nghiệp, ngành nghề sản xuất.




3. Thời
:

Sự thuận lợi về giao thông đối nội, đối ngoại, đào tạo, hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội khai thác vốn và công nghệ từ bên ngoài (nước ngoài và từ các địa bàn lân cận). Việc hoàn thành cầu Cần Thơ sẽ là cơ hội để Vĩnh Long liên kết với Cần Thơ, bổ sung cho nhau, thúc đẩy quá trình đô thị hoá nhanh hơn ở Vĩnh Long. Cùng với Cần Thơ trở thành vùng phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long.

Nhu cầu phát triển kinh tế và nâng cao trình độ lao động qua đào tạo ở đồng bằng sông Cửu Long là cơ hội lớn để Vĩnh Long phát huy thế mạnh về giáo dục và đào tạo, nâng đào tạo thành ngành dịch vụ thế mạnh của tỉnh.

Nhiều dự án lớn về hạ tầng (giao thông, bến cảng, điện đang được tiến hành ở đồng bằng sông Cửu Long, Quy hoạch xây dựng vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050, vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long, tại các hành lang Đông - Tây của các nước GMS (Tiểu vùng Mê Kông mở rộng, Chiến lược kinh tế biển đến 2020.v.v.. tất cả đang tạo ra rất nhiều cơ hội để Vĩnh Long phát triển các ngành đang và sẽ là thế mạnh (công nghiệp, thương mại, du lịch, đào tạo.v.v.).

Sự phát triển kinh tế, nhu cầu lao động, mở rộng ngành nghề trong thời kỳ hội nhập quốc tế, sự ưu đãi đầu tư, định hướng của tỉnh … đang là thời cơ cho sự dung nạp nguồn nhân lực mới.


4. Thách thức:

Khai thác những thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, đất sét, v.v....) trong giai đoạn đầu phát triển là cần thiết nhưng có thể dẫn tới nguy cơ môi trường bị ô nhiễm, các hệ sinh thái bị xuống cấp, khó khắc phục sau này.

Cận kề thành phố Cần Thơ là lợi thế lớn, nhiều cơ hội liên kết phát triển nhưng sẽ bị cạnh tranh về thu hút đầu tư và các nguồn lực khác từ bên ngoài (điều kiện đầu tư của thành phố Cần Thơ thuận lợi hơn).

Trong thời gian tới việc chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, trong điều kiện lao động nông nghiệp là chủ yếu thì tạo việc làm ở khu vực phi nông nghiệp sẽ là sức ép, thức thách lớn (mật độ lao động nông thôn đông, lao động dôi dư nhiều, nhu cầu đào tạo lớn, nhu cầu đầu tư cho khu vực thành thị, khu vực phi nông nghiệp lớn, trong khi đó tích luỹ từ nội bộ thấp).

Hội nhập quốc tế cũng là điều kiện tốt nhưng ngược lại nếu quản lý về mặt nhà nước không tốt thì các loại dịch bệnh cho người, động vật, thực vật lây lan mang tính quốc tế; các loại bệnh xã hội, lối sống, văn hoá không phù hợp thâm nhập vào làm tổn hại đến chất lượng nguồn nhân lực hôm nay và sau này, chi phí lớn cho công tác khắc phục.

Chịu sự cạnh tranh trên thị trường thế giới về các sản phẩm đang là thế mạnh của Vĩnh Long.




Phần II
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC GIAI ĐOẠN 2011 - 2020


I. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC GIAI ĐOẠN 2011 - 2020:


1. Nhân tố bên ngoài:

- Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá: Việc ký kết trao đổi lao động của các nước từ lao động phục vụ đến lao động chất lượng cao đang mở ra thị trường rất lớn cho nguồn nhân lực có trình độ, năng lực tốt của tỉnh. Các trường đại học, cao đẳng cần đáp ứng các ngành nghề mà thế giới đang cần, có như vậy mới khai thác hết số học sinh, sinh viên học giỏi, học khá. Các Trường Trung cấp Y tế, Cao đẳng Xây dựng cũng là nơi giới thiệu lao động cho thị trường điều dưỡng, xây dựng ở Đài Loan và Châu Phi. Việc sản xuất công nhân nông nghiệp cho Châu Phi, Ấn Độ cũng cần phục vụ cho thế giới.

- Phát triển khoa học - công nghệ và hình thành nền kinh tế tri thức: Là một tỉnh nông nghiệp chiếm nhiều tỉ trọng trong phát triển kinh tế, việc phát triển khoa học - công nghệ cũng cần đặt vào đúng vị trí. Vai trò của Hội Nông dân, Hội Làm vườn, Hội Chăn nuôi và cao hơn là Hội Liên hiệp Khoa học - Kỹ thuật cần tạo ra nhiều sân chơi, nhiều môi trường cho việc ứng dụng khoa học - công nghệ không chỉ của tỉnh mà của cả nước và cả trong Internet. Lực lượng cán bộ khoa học trẻ phải được động viên, khích lệ, khuyến khích sáng tạo, sẵn sàng lao vào các cuộc nghiên cứu sâu, bám sát người sản xuất, cách xử lý thông tin trung thực, tìm kiếm, tham khảo đề xuất. Cơ hội cho việc hình thành nền kinh tế tri thức rất nhiều nhưng tạo cơ hội cho phát triển là tiền đề quyết định. Nếu nền kinh tế tri thức hình thành thì sản phẩm ắt hẳn có giá trị cho tỉnh, cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long và có thể rộng hơn. Việc chảy máu chất xám vẫn là một thách thức không nhỏ của tỉnh.

- Sự phát triển của các tỉnh lân cận trong vùng và trong cả nước: Nhân lực và đầu tư là 2 yếu tố quan trọng để phát triển bền vững kinh tế xã hội của tỉnh. Do đó, trong thời đại hội nhập việc cạnh tranh về đầu tư và nhân lực càng diễn ra gay gắt giữa các tỉnh trong vùng, giữa khu vực và các nước trên thế giới.




2. Nhân tố bên trong:

2.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội và các quan điểm, đường lối phát triển của tỉnh:

* Về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010:

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong những năm qua được duy trì ở mức khá cao, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP theo giá so sánh 1994) năm 2006 tăng 10,49%, năm 2010 tăng 11%, bình quân tăng trưởng cả giai đoạn 2006 - 2010 là 11,36%/năm.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông - ngư nghiệp tính đến năm 2010 chiếm 48,4%, giảm 7,17% (giai đoạn 2001 - 2005 giảm 6,7%), tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng chiếm 17,8%, tăng 3,72% (giai đoạn 2001 - 2005 tăng 4,07%) và khu vực dịch vụ chiếm 33,8%, tăng 3,45% (giai đoạn trước tăng 2,63).

Tăng trưởng kinh tế tương đối cao và tăng trưởng dân số được kiểm soát ở mức phù hợp. Năm 2010, GDP bình quân đầu người quy đổi thành USD theo giá hiện hành đạt 1.052 USD/người, tăng 1,87 lần so với năm 2006. Nếu quy đổi ra USD theo giá so sánh năm 1994, GDP bình quân đầu người đạt 695 USD/người, tăng 1,57 lần so với năm 2006.

* Phấn đấu trong thời gian tới:

- Tăng trưởng kinh tế cả giai đoạn 2011 - 2015 đạt 12%/năm; để đạt được kết quả này:

+ Về nông, lâm nghiệp và thuỷ sản: Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm phải đạt khoảng 5%, trong đó nông nghiệp tăng 4%/năm. Giảm dần tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp - thuỷ sản đến năm 2015 còn khoảng 36% GDP.

+ Về công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 25%/năm. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP năm 2015 đạt khoảng 24 - 25%, trong đó riêng công nghiệp khoảng 22%.

+ Về dịch vụ: Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 14%. Tăng tỷ trọng khu vực dịch vụ đến năm 2015 lên 39,4% GDP.

- Phấn đấu đến năm 2015 kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 400 triệu USD. Giá trị kim ngạch xuất khẩu công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 50% trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của tỉnh.

- GDP bình quân đầu người của tỉnh phấn đấu đến năm 2015 đạt 1.650 USD/người/năm (tăng 698 USD/người so với năm 2010). Huy động vốn đầu tư phát triển xã hội 77.500 tỷ đồng.

2.2. Biến động về quy mô dân số và cơ cấu lao động:

Hiện nay dân số trung bình tỉnh Vĩnh Long 1.026,5 ngàn người. Dự ước đến năm 2015 là 1.033,7 ngàn người, năm 2020 là 1.040,96 ngàn người. Trung bình mỗi năm tăng dân số tỉnh tăng khoảng 1,44 ngàn người.

Sự biến động về quy mô dân số đã tác động không nhỏ đến cơ cấu lao động của tỉnh trong những năm tới:

- Ước đến năm 2015, tỷ trọng lao động nam chiếm 53,4% và nữ chiếm 46,6%; lao động thành thị chiếm 15,88% (tăng 2,27% so với năm 2010) và lao động nông thôn chiếm 84,12% trong lực lượng lao động.

- Ước đến năm 2020, tỷ trọng lao động nam chiếm 53,4% và nữ chiếm 46,6%; lao động thành thị chiếm 19,75% (tăng 6,13% so với năm 2010) và lao động nông thôn chiếm 80,25% trong lực lượng lao động.

2.3. Công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động:

- Thành lập một cơ quan, bộ phận tham mưu, tổng hợp và điều phối lao động là cần thiết. Nơi đây sẽ tập trung các nhu cầu lao động toàn tỉnh (từ cơ quan hành chính nhà nước đến các công ty, xí nghiệp, …) để từ đó có đơn đặt hàng cho các nơi đào tạo từ đào tạo ngắn hạn đến sơ cấp, trung cấp và cao hơn.

- Công tác tuyển dụng phải minh bạch dựa trên năng lực thực tế, sự trải nghiệm, kinh nghiệm nghề nghiệp sẽ tác động nhiều đến chất lượng đào tạo nghề của các trường đào tạo.

- Phát triển việc làm là cần thiết để có thể phù hợp nhiều loại ngành nghề khác nhau trong xã hội. Chú trọng chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn nhất là các nghề tiểu thủ công nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ. Cần mở rộng các loại hình doanh nghiệp vệ tinh cho các xí nghiệp lớn để khai thác lao động nông thôn, song song đó cần đào tạo nghề cho các doanh nghiệp vệ tinh đó. Củng cố và mở rộng các nghề tiểu thủ công nghiệp, giúp đỡ, tạo điều kiện về vốn để có chuyển đổi công nghệ đạt năng suất cao hơn, tinh xảo hơn.

- Nghiên cứu xây dựng các danh mục dự án kêu gọi đầu tư để triển khai thực hiện thu hút đầu tư vào tỉnh hàng năm, đảm bảo phù hợp với xu thế phát triển của tỉnh góp phần giải quyết việc làm cho lao động của tỉnh.

- Bố trí lực lượng lao động hợp lý, xây dựng chính sách hỗ trợ việc chuyển đổi hình thức lao động từ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang các lĩnh vực phi nông nghiệp, đảm bảo thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động trong kỳ quy hoạch.

- Các cơ sở cần lao động phải đóng góp phần nào cho chi phí thực hành, thực tập.

- Có định hướng rõ ràng về việc mở rộng ngành nghề đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa bàn khác nhau.

- Mở rộng sản xuất, đa dạng hoá ngành nghề, hiện đại hoá trang thiết bị dạy nghề rất cần vốn để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong giai đoạn tới.

- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các cơ sở, các trung tâm giải quyết việc làm, nghiên cứu tạo thêm việc làm mới.

- Thực hiện tốt các chính sách của quốc gia về giải quyết việc làm, chương trình giải quyết việc làm của tỉnh.

- Hỗ trợ vốn sản xuất, đầu tư trang thiết bị cho lao động qua đào tạo các nghề ở nông thôn để phục vụ nông nghiệp cũng cần được tính đến.

- Nghiên cứu các chương trình, dự án nhằm tận dụng thời gian lao động nông nhàn để gia tăng hiệu quả sử dụng lao động.

2.4. Hợp lý hoá phân bố nhân lực:

Trong thời kỳ quy hoạch, cần phân bổ lực lượng lao động hợp lý giữa các khu vực, nông nghiệp và phi nông nghiệp, khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Đảm bảo lực lượng lao động phục vụ sản xuất nông nghiệp, không để thiếu lao động trong khu vực sản xuất nông nghiệp, tránh tình trạng lao động nông nhàn.

Quy hoạch khu công nghiệp, mở rộng các tuyến giao thông khu vực, cơ sở hạ tầng có ảnh hưởng lớn đến phân bố nhân lực ở các vùng. Các khu dân cư cũng xác định rõ việc hợp lý hoá phân bố nhân lực. Việc lao động nông thôn ra thành thị là do việc quy hoạch sản xuất. Lao động nông thôn luôn tìm việc làm để ổn định cuộc sống, nếu ở nông thôn có việc làm cho các thời gian nhàn rỗi thì có thể giữ chân họ và đáp ứng phần nào tạo ra sản phẩm.




tải về 2.33 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương