Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 2.33 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích2.33 Mb.
#4756
1   2   3   4   5   6   7


4. Số
ợng và cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn kỹ thuật:

Tính đến thời điểm 01/7/2010, toàn tỉnh có 622 ngàn người đang hoạt động kinh tế nhưng trong số đó có đến 523 ngàn người chưa qua đào tạo, chiếm tỷ lệ 84,1%. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 15,9%, trong đó: Đã qua đào tạo ngắn hạn 44,1 ngàn người, chiếm tỷ lệ 7,1%; sơ cấp nghề và công nhân kỹ thuật dưới 1 năm: 9,3 ngàn người, chiếm 1,5%; trình độ trung cấp (trung cấp nghề và trung cấp chuyên nghiệp) 12,6 ngàn người, chiếm 2,7%; trình độ cao đẳng 9,2 ngàn người, chiếm 1,5%; đại học trở lên 19,4 ngàn người, chiếm 3,1%.

Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động trong tỉnh còn thấp. Nếu lấy số liệu năm 2009 làm cơ sở để so sánh, số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên (chỉ tính số có bằng cấp) của tỉnh chiếm tỷ trọng rất thấp: 8,3%, chỉ cao hơn mức bình quân chung toàn vùng 0,5 điểm phần trăm, nhưng thấp hơn cả nước 6,6 điểm phần trăm (tỷ lệ này của cả nước là 14,9%). Điều này cho thấy, lực lượng lao động của tỉnh về lượng cung khá dồi dào nhưng về chất lao động còn thấp và có sự mất cân đối.

Mặc dù đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, số người trong độ tuổi lao động tăng cao, nhưng với chất lượng dân số như trên đòi hỏi tỉnh phải có các giải pháp đồng bộ để đẩy nhanh phát triển kinh tế tạo thêm việc làm, mặt khác cũng cần tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tay nghề cho người lao động, đồng thời có chính sách hợp lý để hạn chế chảy máu chất xám, thu hút được người có chuyên môn cao đến làm việc ở địa phương.




5. Số
ợng và cấu nhân lực theo ngành nghề:

Theo kết quả tổng điều tra dân số 2009: Lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 57,3%; lĩnh vực công nghiệp - xây dựng chiếm 16,4%; lĩnh vực dịch vụ chiếm 26,3%.

Phần lớn lao động trong tỉnh đang làm việc với các nghề không đòi hỏi chuyên môn cao, cụ thể như lao động giản đơn chiếm tỷ lệ 24%; nghề nông nghiệp và thuỷ sản, chiếm 41,9%; nhân viên dịch vụ và bán hàng chiếm 13,5%. Trong khi đó, các nghề có đòi hỏi trình độ chuyên môn hoặc kỹ năng nhất định vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp, cụ thể như: Thợ vận hành máy và lắp ráp máy móc thiết bị, chiếm chỉ 3,7%; thợ thủ công (kể cả không bằng cấp/chứng chỉ) chiếm 9,4%, đặc biệt là lao động là nhà chuyên môn bậc cao và các nhà lãnh đạo và quản lý chỉ chiếm 3,1% tổng lao động trong tỉnh. Thực trạng trên đã phản ánh thị trường lao động trong tỉnh cũng như trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động còn rất thấp và vấn đề đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là nhiệm vụ cấp bách trong thời gian tới.


6.
Đặc điểm tâm lý - xã hội và những kỹ năng mềm của nhân lực:

- Vĩnh Long là tỉnh có truyền thống nông nghiệp lâu đời, thu ngân sách địa phương hằng năm còn thấp, hỗ trợ đầu tư từ trung ương còn hạn chế nên việc vừa phải phát triển nông nghiệp "đảm bảo an ninh lương thực quốc gia" vừa phải đẩy mạnh phát triển cơ cở công nghiệp sản xuất, dịch vụ là một khó khăn trở ngại rất lớn đối với tỉnh. Vì vậy đã hạn chế đầu tư trong lĩnh vực đào tạo.

Về địa lý: Vĩnh Long là trung tâm các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long nhưng quy mô nền kinh tế Vĩnh Long sản xuất nhỏ, cơ sở kinh tế phân tán, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, sử dụng lao động chủ yếu giản đơn và gia đình. Chính tư duy quản lý gia đình cùng với việc thu hút đầu tư và hỗ trợ đầu tư từ trung ương còn hạn chế nên công tác tạo việc làm và thu hút lao động có trình độ kỹ thuật, tay nghề bậc cao gặp nhiều khó khăn.

Về tâm lý hiện nay, các gia đình kể cả các em khi tốt nghiệp trung học phổ thông là bằng mọi giá đều muốn vào các trường cao đẳng đại học mà không cần biết là học trường - ngành gì, học để sau này làm gì, năng lực học tập mình ra sao, điều kiện tài chính cũng như sự hỗ trợ về nghề nghiệp từ phía gia đình như thế nào.

- Sự thiếu đồng bộ phối hợp giữa nhà trường - nhà doanh nghiệp làm cho người lao động được đào tạo không đủ kỹ năng để làm các công việc theo nhu cầu của doanh nghiệp.

- Đa số nhân lực chỉ chú tâm học tập kiến thức chuyên môn từ nhà trường mà bỏ qua các kiến thức về xã hội, các kỹ năng mềm - mà theo các nhà doanh nghiệp nhận định đây là yếu tố rất quan trọng quyết định thành công khi nhân lực rời ghế nhà trường để đi vào môi trường làm việc. Cụ thể như: Lòng yêu nghề, đam mê công việc; ý thức rèn luyện thể thao để có đủ sức khoẻ làm việc trong môi trường có áp lực cao; ý thức tổ chức, tác phong làm việc kỷ luật, tinh thần hợp tác; kỹ năng giao tiếp; tư duy logic, nắm bắt vấn đề, phương pháp tìm kiếm thông tin; sự chủ động tìm việc và giải quyết công việc; trình độ tin học và ngoại ngữ… còn yếu.



III. HIỆN TRẠNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH:

1. Hiện trạng hệ thống đào tạo:

1.1. Mạng lưới cơ sở đào tạo:

Đến nay các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã phát triển rộng khắp 08 huyện, thành phố của tỉnh với tổng số là 28 cơ sở. Cụ thể:

- 15 trung tâm dạy nghề (TTDN); trong đó có 07 TTDN công lập thuộc huyện, thành phố; 01 TTDN thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ.

- 02 trung tâm giới thiệu việc làm.

- 02 doanh nghiệp có dạy nghề.

- 01 trường trung cấp, 02 trường trung cấp chuyên nghiệp.

- 05 trường cao đẳng và 1 trường đại học.

Mạng lưới đào tạo có bước phát triển nhưng mật độ phân bố không đều, đa số tập trung tại khu đô thị lớn của tỉnh điển hình là thành phố Vĩnh Long và huyện Long Hồ. Do đó vẫn còn khuynh hướng lao động tập trung về các khu đô thị để học nghề và tìm việc làm gây tốn kém chi phí và mất cân đối về dân số giữa khu vực thành thị và nông thôn, kéo theo nhiều vấn đề xã hội phát sinh cần giải quyết.

1.2. Năng lực các cơ sở đào tạo:

Theo năng lực, bình quân hằng năm các cơ sở đào tạo được 51.424 người/năm, trong đó dạy nghề đơn giản chiếm 34,85%.
BIỂU NĂNG LỰC CÁC SỞ ĐÀO TẠO

ĐVT: 1000 người



TT

Cơ sở đào tạo

Năng lực đào tạo

Tổng số HS,SV

Số giáo viên










2009

2010

2009

2010




Tổng số

51,424

44,822

46,068

1,010

1,046

I

DẠY NGHỀ

17,924

25,058

28,239

0,402

0,406

II

TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP

-

-

-

-

-

III

CAO ĐẲNG

13,500

12,516

9,980

0,471

0,487

1

Trường CĐ Sư phạm Vĩnh Long

2,000

0,582

0,800

0,056

0,059

2

Trường CĐ Kinh tế Tài chính

2,000

2,808

3,058

0,076

0,079

3

Trường CĐ Cộng đồng

3,000

3,946

1,078

0,096

0,099

4

Trường CĐ Xây dựng Miền Tây

4,000

3,110

3,216

0,151

0,162

5

Trường CĐ Sư phạm Kỹ Thuật Vĩnh Long

2,500

2,070

1,828

0,092

0,088

IV

ĐẠI HỌC

20,000

7,248

7,849

0,137

0,153

1

Trường Đại học Cửu Long

20,000

7,248

7,849

0,137

0,153

* Về hệ đào tạo nghề:

Tính theo năng lực đào tạo hiện tại (đến năm 2010) của các cơ sở dạy nghề, số cơ sở dạy nghề có quy mô đào tạo trên 500 học sinh/năm: 14 cơ sở bao gồm: 02 trường trung cấp nghề, 10 trung tâm dạy nghề và 02 trung tâm giới thiệu việc làm có dạy nghề.

Quy mô đào tạo nghề tăng chậm, số lượng đào tạo nghề dài hạn, ở các trình độ cao vẫn còn thấp. Đào tạo nghề ngắn hạn, nhất là đào tạo nghề lao động nông thôn, cho các đối tượng lao động đặc thù tuy được quan tâm phát triển, quy mô đào tạo có tăng nhưng chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa đồng đều. Khu vực dạy nghề ngoài công lập tuy có bước phát triển nhưng quy mô đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp, ngành nghề đào tạo còn ít, tình hình hoạt động của một số cơ sở dạy nghề khu vực này còn chưa ổn định.

- Các ngành nghề đào tạo chủ yếu của các cơ sở dạy nghề:

+ Nghề nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp: Trồng trọt, chăn nuôi; chế biến, bảo quản nông - thuỷ sản; quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; quản lý trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác; quản lý kinh tế hộ gia đình nông thôn; dịch vụ nông nghiệp và các lĩnh vực khác.

+ Nghề phi nông nghiệp: Các nghề kỹ thuật, công nghệ; sản xuất và chế biến; y tế, dịch vụ xã hội; khách sạn, nhà hàng và du lịch; sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ và các lĩnh vực khác…

+ Các nghề phi nông nghiệp cho lao động làm việc ở khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động: Nhóm nghề công nghiệp - xây dựng (cơ khí, điện dân dụng - công nghiệp, điện tử, điện lạnh, công nghệ ôtô,...); nhóm nghề thương mại - dịch vụ (hướng dẫn viên du lịch, kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật tóc và trang điểm thẩm mỹ,...); nhóm nghề nông nghiệp - thuỷ sản (chọn và nhân giống cây trồng, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản, thú y, kỹ thuật nông nghiệp, chế biến bảo quản nông sản,...).

* Về hệ đào tạo cao đẳng và đại học:

- Về cao đẳng: Trong số 9.980 sinh viên được đào tạo năm 2010 thì Trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính chiếm 30,6%, Trường Cao đẳng Cộng đồng chiếm 10,8%, Trường Cao đẳng Xây dựng Miền Tây chiếm 32,2%, Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật chiếm 18,3%.

- Về đại học: Có Trường Đại học Cửu Long hằng năm đào tạo nguồn nhân lực trong tỉnh chiếm 60%, còn lại là các tỉnh, vùng lân cận.

1.3. Đánh giá chung về hiện trạng hệ thống đào tạo:

Nhìn chung trong giai đoạn 2005 - 2010, các cơ sở đào tạo tỉnh Vĩnh Long không ngừng được quan tâm đầu tư củng cố và phát triển như: Xây mới và mở rộng các trường cao đẳng, đại học, nâng cấp các trường dạy nghề thành trường trung cấp nghề; hoàn chỉnh việc đảm bảo mỗi huyện, thành phố đều có trung tâm dạy nghề công lập trực thuộc làm đơn vị dạy nghề giữ vai trò chủ yếu trong thực hiện đào tạo nghề cho người lao động trên địa bàn.

Ngoài ra, cơ sở dạy nghề ngoài công lập đã có bước phát triển mạnh, thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia vào công tác đào tạo nghề. Bên cạnh đó, do công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn đã bắt đầu có bước phát triển, nhất là việc hình thành một số khu, cụm tuyến công nghiệp nên ngày càng có nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, dịch vụ tham gia đào tạo nghề với hình thức đào tạo tại chỗ, vừa học vừa làm. Lao động sau khi học nghề xong sẽ được doanh nghiệp chính thức tuyển dụng vào làm việc.

* Tuy nhiên, hệ thống đào tạo của tỉnh cũng còn nhiều hạn chế:

Các cơ sở dạy nghề trên địa bàn phát triển về số lượng nhưng chất lượng hiệu quả đào tạo còn hạn chế, chưa phát triển đào tạo được các ngành nghề có mức độ công nghệ, kỹ thuật cao, đáp ứng nhu cầu lao động có chuyên môn kỹ thuật làm việc cho các khu công nghiệp; các ngành nghề dịch vụ đang phát triển mạnh nhưng chưa được đầu tư thoả đáng về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy nghề.

Chưa phân rõ nhiệm vụ chức năng đào tạo của từng cơ sở đào tạo: Trường cao đẳng đào tạo cả hệ trung cấp và đại học, trong khi hệ đại học liên kết đào tạo trung cấp và cao đẳng. Sự chồng chéo này tạo nên khó khăn trong quản lý và đầu tư cơ sở vật chất, tài liệu nghiên cứu, cơ cấu giáo viên, thiết bị ứng dụng cho giảng dạy..., dẫn đến chất lượng đào tạo chưa được quan tâm đúng mức.

Việc đào tạo nghề chưa gắn liền với yêu cầu công việc thực tế tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Do đó, lao động qua đào tạo nghề khi được tuyển dụng làm việc cần nhiều thời gian để tiếp cận công việc thực tế tại doanh nghiệp hoặc phải đào tạo lại.

Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề vẫn còn thiếu rất nhiều so với nhu cầu tổ chức đào tạo của các đơn vị; việc biên chế đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý các trung tâm dạy nghề công lập cấp huyện, thành phố vẫn còn gặp nhiều hạn chế, nhất là chưa có cơ chế chính sách thích hợp về biên chế, tuyển dụng…. Đối với các cơ sở dạy nghề tư thục đa số cán bộ quản lý của đơn vị chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý cơ sở dạy nghề.




2. Các
điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo:

2.1. Về tài chính:

Được sự quan tâm của các cấp, ngành từ trung ương đến địa phương đã huy động được nhiều nguồn kinh phí khác nhau đầu tư vào công tác phát triển hệ thống các cơ sở đào tạo và đầu tư vào dạy nghề, cụ thể:

- Nguồn vốn trung ương từ Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006 - 2010, chủ yếu tập trung đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị dạy nghề cho các cơ sở dạy nghề trọng điểm của tỉnh; nguồn vốn từ các dự án (ODA), nguồn vốn từ chương trình giải quyết việc làm đầu tư cho trung tâm giới thiệu việc làm Vĩnh Long,… Ngoài ra còn có nguồn vốn đầu tư từ nguồn ngân sách của tỉnh, địa phương để xây dựng mở rộng cơ sở dạy nghề (chủ yếu là đầu tư cho các trường, trung tâm dạy nghề công lập).

- Người học nghề được hưởng các chính sách ưu đãi về học phí học nghề theo các chương trình, dự án. Cụ thể: Chương trình đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục - đào tạo giai đoạn 2006 - 2010; Chương trình đào tạo nghề cho lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo; Chương trình đào tạo nghề cho phụ nữ từ Đề án Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010 - 2015; Chương trình đào tạo nghề cho thanh niên từ Đề án Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008 - 2015; ngoài ra, người học nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề theo quy định của chế độ học cử tuyển được hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo nghề.

- Về tính chất của nguồn vốn đầu tư vào công tác giáo dục và đào tạo đã có sự phối hợp thực hiện mang lại hiệu quả cao. Bao gồm các nguồn vốn:

+ Kinh phí hỗ trợ của trung ương từ các chương trình, dự án.

+ Kinh phí đối ứng của địa phương, nguồn vốn huy động xã hội (kinh phí từ ngân sách của tỉnh, huyện; vốn đầu tư của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, đầu tư của các cơ sở tư thục, đóng góp của cá nhân và người học nghề,…) nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra của giai đoạn.


BIỂU CẤU CHI THƯỜNG XUYÊN
CỦA NGÂN SÁCH
ĐỊA PHƯƠNG

ĐVT: Tỷ đồng.







2005

2009

2010



Chi thường xuyên ngân sách địa phương

696,506

1.522,627

2.012,456



Trong đó:







1

Chi sự nghiệp giáo dục và dạy nghề

277,806

660,515

817,244



Tỷ trọng (%)

39,9

43,4

40,6

2

Chi sự nghiệp y tế

61,162

172,830

208,755

3

Chi sự nghiệp bảo đảm xã hội

32,071

118,654

125,884

4

Chi quốc phòng - an ninh địa phương

25,858

50,044

50,713

5

Chi sự nghiệp văn hoá thông tin

15,199

19,894

23,310

6

Các khoản chi thường xuyên khác

284,410

500,690

876,550

Tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương cho giai đoạn 2005 - 2010 đạt 7.173,1 tỷ đồng, trong đó: Năm 2010 là 2.012,4 tỷ đồng gấp 2,89 lần so với năm 2005.

Với phương châm "Giáo dục là quốc sách hàng đầu", trong những năm qua chi ngân sách đã tập trung hơn cho các mục tiêu quan trọng như: Giáo dục, y tế, an sinh xã hội… Tỷ trọng chi cho sự nghiệp giáo dục đào tạo và dạy nghề tăng từ 39,9% (năm 2005) lên 40,6% (năm 2010). Nếu tốc độ đầu tư được duy trì như thế này thì nhu cầu về vốn cho đào tạo và dạy nghề trong thời gian tới cơ bản sẽ được đảm bảo.

2.2. Về cơ sở vật chất: Tỉnh Vĩnh Long rất quan tâm đến công tác giáo dục - đào tạo, ngoài các trường thuộc hệ giáo dục phổ thông, trong tỉnh đã xây dựng các cơ sở giáo dục bậc trung cấp và trung cấp nghề (03 trường), cao đẳng (05 trường có cả đào tạo bậc đại học), đại học (01 trường). Ở mỗi huyện đều có một trung tâm dạy nghề.

Tình trạng phòng học âm thanh không đảm bảo, các phòng thí nghiệm có nhưng không đầy đủ, thiết bị học tập ứng dụng lỗi thời, thư viện thiếu sách nghiên cứu, đội ngũ giáo viên chủ yếu là hợp đồng… Chính vì thế đã có độ vênh giữa nơi đào tạo và doanh nghiệp sử dụng.

Như vậy, để đảm bảo nhu cầu đào tạo lao động có trình độ đáp ứng được nhu cầu phục vụ cho các doanh nghiệp, tỉnh ta cần phải tiếp tục đầu tư xây dựng các trung tâm dạy nghề, đầu tư mở rộng thêm một số trường cao đẳng, đại học như: trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật, Trường Cao đẳng Xây dựng Miền Tây, trường Cao đẳng Kinh tế Tài chính, Trường Cao đẳng Cộng đồng... để đào tạo đáp ứng kịp thời nhu cầu lao động đang gia tăng của xã hội trong các lĩnh vực: Tài chính - ngân hàng, công nghệ thông tin, xây dựng, quản lý kinh tế và công nhân kỹ thuật...

2.3. Về đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, số lượng giảng viên giảng dạy từ đào tạo nghề cho đến giảng viên dạy đại học có tổng số là: 1.046 người, trong đó giảng viên đào tạo nghề là 157 người; trung cấp là 249 người, cao đẳng là 487 người và đại học là 153 người. Tỷ lệ học sinh/giáo viên là 44 người, với số lượng giáo viên hiện có này không thể đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn lực trên địa bàn tỉnh.

Chế độ thu hút và đãi ngộ nhân tài còn hạn chế nên đội ngũ giáo viên còn thiếu và chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, chưa dành nhiều thời gian để chuyên tâm nghiên cứu. Đa số giáo viên chỉ là dạng "người học trước dạy người học sau", chỉ thuần nghiên cứu lý thuyết, thiếu kinh nghiệm thực tế trong lĩnh vực ngành mình giảng dạy.

Do vậy thời gian qua Vĩnh Long đã chủ động liên kết với các trường, trung tâm ngoài tỉnh và nguồn giảng viên này được mời từ các nơi khác về giảng dạy như: Giảng viên Trường Đại học Cần Thơ, TP. Hồ Chí Minh,... Đối với lực lượng giảng viên trong tỉnh hầu hết là tốt nghiệp từ các trường cao đẳng, đại học về để tham gia và qua lớp đào tạo giảng viên ngắn hạn, sau đó sẽ tiếp tục cho đi tu nghiệp, bồi dưỡng các lớp sư phạm để có đủ điều kiện đứng lớp giảng dạy.

2.4. Nội dung và phương pháp giảng dạy, đào tạo:

Như bao tỉnh khác trong cả nước, tỉnh Vĩnh Long cũng gặp nhiều khó khăn trong công tác xây dựng nội dung và phương pháp giảng dạy. Cụ thể:

- Chương trình đào tạo chưa tạo được sự "đột phá" theo khung chuẩn do Bộ đặt ra, chưa có sự gắn kết với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Do đó, người học sau khi ra trường vẫn phải mất thời gian học tập lại hoặc doanh nghiệp phải đào tạo lại.

- Chưa tổ chức được cuộc khảo sát nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp, kết hợp với doanh nghiệp để đào tạo các ngành nghề sát với nhu cầu thực tế.

- Chương trình giảng dạy đảm bảo phần cứng nhưng phải mở ra phần mềm phục vụ cho thực tiễn cơ sở sản xuất. Việc biên soạn giáo trình giảng dạy phải do chính nơi chịu trách nhiệm đào tạo biên soạn trên cơ sở tham khảo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.




3. Hệ thống quản lý,
chế, chính sách phát triển đào tạo nhân lực:

3.1. Hệ thống tổ chức quản lý:

Bộ máy tổ chức quản lý đào tạo và dạy nghề từng bước được đào tạo cơ bản, có chú trọng đến các cơ sở đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, vừa tăng cường đào tạo để nâng cao kiến thức, kỹ năng nhưng luôn chú trọng đến công tác chính trị tư tưởng, nhằm từng bước trang bị cho đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực quản lý, đào tạo tăng về số lượng nhưng phải đảm bảo về chất lượng.

3.2. Cơ chế, chính sách đối với người được đào tạo:

Nghị quyết số 106/2009/NQ-HĐND, ngày 09/7/2009 của Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long về xây dựng đội ngũ trí thức tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020.

Chỉ thị số 22-CT/TU, ngày 26/5/2010 của Tỉnh uỷ Vĩnh Long về việc triển khai, thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

Quyết định số 2265/QĐ-UBND, ngày 22/10/2010 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Quyết định số 409/2006/QĐ-UBND, ngày 06/3/2006 và được sửa đổi bổ sung Quyết định số 2585/QĐ-UBND ngày 22/12/2008 đối với cán bộ thuộc diện quy hoạch nguồn của tỉnh sau khi tốt nghiệp được hỗ trợ:

+ Đại học: 2.500.000 đồng.

+ Thạc sĩ: 25.000.000 đồng.

+ Tiến sĩ: 40.000.000 đồng.

+ Bác sỹ chuyên khoa I: 18.000.000 đồng.

+ Bác sỹ chuyên khoa II: 30.000.000 đồng.

+ Tốt nghiệp đại học về xã công tác được trợ cấp: 250.000 đồng/người/tháng.

- Chương trình Vĩnh Long 100 đào tạo sau đại học ở nước ngoài cho 100 cán bộ, công chức từ năm 2006 - 2011 (được cấp toàn bộ kinh phí), riêng từ năm 2008 - 2011 đầu tư trên 85 tỉ đồng cho 232 người trong đó học ngoại ngữ 132 người, thạc sĩ: 100 người, tiến sĩ: 10 người.

- Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND, ngày 24/4/2007 của Uỷ ban nhân tỉnh Vĩnh Long về việc quy định chính sách hỗ trợ bác sĩ, dược sĩ đại học, sinh viên tốt nghiệp các trường y dược về công tác ở ngành y tế Vĩnh Long cụ thể:

+ Bác sĩ, dược sĩ từ tỉnh khác chuyển về được trợ cấp 1 lần: 10.000.000đ - 12.000.000đ.

+ Bác sĩ là chuyên khoa I, chuyên khoa II từ tỉnh khác chuyển về: 15.000.000đ - 20.000.000đ.

+ Bác sĩ có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ từ nơi khác chuyển đến: 20.000.000đ - 25.000.000đ.

+ Sinh viên tốt nghiệp đại học nhận công tác: 10.000.000đ.

+ Sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hỗ trợ 2 năm cuối: 5.000.000đ/sv.

+ Được hưởng 100% lương đối với bác sĩ về công tác ở địa phương vùng sâu, vùng xa, phụ cấp lương và chế độ ưu đãi theo quy định hiện hành.

+ Được nâng lương trước thời hạn nếu công tác tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

- Các chương trình đào tạo nguồn nhân lực giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010; ưu tiên đào tạo ngoại ngữ để có thể tham gia các khoá học ngắn hạn ở nước ngoài; lập các quỹ khuyến học, quỹ học bổng Phạm Hùng, Trần Đại Nghĩa cấp học bổng cho con em của tỉnh học đạt loại khá giỏi…

3.3. Cơ chế, chính sách đối với cơ sở đào tạo:

Quyết định số 348/2003/QĐ-UBT, ngày 10/02/2003 của UBND tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới dạy nghề tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2002 - 2010.

Quyết định số 357/QĐ-UBND, ngày 13/02/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành Chương trình đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2006 - 2010.

Quyết định số 1371/QĐ-UBND, ngày 05/7/2007 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Dự án tăng cường năng lực dạy nghề thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010.

Quyết định số 2388/QĐ-UBND, ngày 15/11/ 2007 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Chương trình phát triển làng nghề tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2008 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Quyết định số 08/2009/QĐ-UBND, ngày 07/4/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành Đề án về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2020.

3.4. Cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực:

Quyết định số 1758/2006/QĐ-UBND, ngày 08/9/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành Đề án Thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2006 - 2010.

Quyết định số 05/2008/QĐ-UBND, ngày 31/01/2008 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc quy định chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư của tỉnh Vĩnh Long.



tải về 2.33 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương