Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 2.33 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu13.12.2017
Kích2.33 Mb.
#4756
  1   2   3   4   5   6   7

UỶ BAN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH VĨNH LONG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc







Số: 2612/QĐ-UBND

nh Long, ngày 30 tháng 11 năm 2010



QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực
tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 – 2020


CHỦ TỊCH UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

Căn cứ Công văn số 6069/BKH-CLPT, ngày 31/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc gửi tài liệu hướng dẫn xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực các ngành, địa phương;

Căn cứ Quyết định số 2155/QĐ-UBND, ngày 01/10/2010 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020;

Xét Tờ trình số 1517/TTr-BCĐ, ngày 24/11/2010 của Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư,




QUYẾT ĐỊNH:


Điều 1. Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020.

(Kèm theo Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020).


Điều 2. Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với thủ trưởng các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020.
Điều 3. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố và thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký./.








CHỦ TỊCH
Đã ký
Phạm Văn Đấu




QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
TỈNH VĨNH LONG GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 2612/-UBND, ngày 30 tháng 11 năm 2010 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long)

ĐẶT VẤN ĐỀ


1. Sự cần thiết xây dựng quy hoạch:

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị toàn quốc triển khai việc lập quy hoạch phát triển nhân lực và công tác dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo của các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011 - 2020, Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Vĩnh Long ban hành Công văn số 2380/UBND-VHXH, ngày 17/9/2010 về việc xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020.

Vĩnh Long là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ đồng bằng sông Cửu Long thuộc vùng giữa sông Tiền - sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) 136 km về phía Đông Bắc và cách thành phố Cần Thơ 30 km về phía Tây Nam. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tiền Giang và Bến Tre, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Diện tích tự nhiên là 1.475 km2, dân số hiện có 1.026,5 ngàn người, toàn tỉnh có 08 đơn vị hành chính (07 huyện và 01 thành phố), có 107 đơn vị xã, phường, thị trấn.

Là một tỉnh mang đậm nét sản xuất nông nghiệp lâu đời, điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, quy mô kinh tế nhỏ yếu, thu hút đầu tư còn nhiều hạn chế. Người dân sống chủ yếu dựa vào cây lúa, cây ăn trái, chăn nuôi và buôn bán hộ gia đình.

GDP bình quân đầu người chỉ đạt 20,24 triệu đồng/người/năm. Mạng lưới các cơ sở đào tạo, dạy nghề trên địa bàn còn ít và phân bổ chưa đều, trên địa bàn tỉnh có 01 trường đại học tư thục, 05 trường cao đẳng cộng đồng, 03 trường trung cấp và trung cấp chuyên nghiệp, 02 doanh nghiệp dạy nghề và các trung tâm giáo dục thường xuyên, dạy nghề của các huyện, thành phố.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2010 mới đạt 35%. Nguồn nhân lực còn yếu cả về số lượng và chất lượng, công tác thu hút nhân tài gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ, công chức, lực lượng lao động qua đào tạo nghề và đội ngũ công nhân có trình độ chuyên môn kỹ thuật vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của địa phương trong thời kỳ hội nhập.

Thời gian qua, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long luôn xác định nhân lực là yếu tố vô cùng quan trọng góp phần xây dựng và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Do đó, để phấn đấu cùng với cả nước đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, có nền nông nghiệp tiên tiến ứng dụng công nghệ cao, việc tiến hành xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 ngay từ bây giờ là điều cần thiết và cấp bách.


2. Mục tiêu và phạm vi quy hoạch:

* Mục tiêu:

Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 nhằm đề ra kế hoạch đào tạo, giải pháp thu hút nhân lực và phương hướng phấn đấu đến năm 2015 Vĩnh Long đạt 55%; đến năm 2020 đạt 65 - 75% tỷ lệ lao động qua đào tạo so với lực lượng lao động xã hội.

* Phạm vi:

Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Long đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo giai đoạn 2006 - 2010, định hướng phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2020.

Báo cáo quy hoạch được thực hiện trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đến 2020, quy hoạch ngành của các sở, ban ngành tỉnh và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của các huyện, thành phố.




3. Những
căn cứ chủ yếu xây dựng quy hoạch:

Căn cứ Quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010 ban hành kèm theo Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg, ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ.

Căn cứ Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH, ngày 02/10/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

Căn cứ Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020.

Căn cứ Kết luận số 178/TB-VPCP, ngày 05/7/2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp về việc hướng dẫn xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020.

Căn cứ Kết luận số 243/TB-VPCP, ngày 08/9/2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị toàn quốc triển khai việc lập quy hoạch phát triển nhân lực và công tác dự báo nhu cầu nhân lực qua đào tạo của các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2011 - 2020.

Căn cứ Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VIII tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 9 của tỉnh Vĩnh Long về kế hoạch kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2010 - 2015.

Căn cứ Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2011 - 2020.

Căn cứ Quyết định số 2388/QĐ-UBND, ngày 15/11/ 2007 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Chương trình phát triển làng nghề tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2008 - 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Căn cứ Quyết định số 08/2009/QĐ-UBND, ngày 07/4/2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc ban hành Đề án về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2020.

Căn cứ Quyết định số 2265/QĐ-UBND, ngày 22/10/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long về việc phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Quyết định 16/QĐ-UBND, ngày 04/01/2006 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long phê duyệt Đề án Xây dựng và nâng cao chất lượng đội nhà giáo và cán bộ quản lý ngành giáo dục - đào tạo.

Căn cứ Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Quyết định số 409/2006/QĐ-UBND, ngày 06/3/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long và được sửa đổi Quyết định số 2585/QĐ-UBND ngày 22/12/2008 về quy định chính sách trợ cấp đối với cán bộ, công chức đi học và cán bộ, công chức luân chuyển, tăng cường về công tác ở xã thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Căn cứ Quyết định số 08/2007/QĐ-UBND, ngày 24/4/2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long về việc quy định chính sách hỗ trợ bác sĩ, dược sĩ đại học, sinh viên tốt nghiệp các trường y dược về công tác ở ngành y tế Vĩnh Long.

Căn cứ Công văn số 6069/BKH-CLPT, ngày 31/8/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về gửi tài liệu hướng dẫn xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực các ngành, địa phương.


4. Giới thiệu kết cấu của quy hoạch:

Trong quá trình nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 đã tiến hành các hoạt động cụ thể sau:

- Họp Ban Chỉ đạo và Tổ biên soạn đề ra kế hoạch và phương hướng triển khai thực hiện quy hoạch.

- Tìm hiểu, khai thác các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long của các ngành và các huyện trong tỉnh.

- Họp tổ biên soạn đánh giá chất lượng và phân tích số liệu hiện trạng nhân lực, làm cơ sở cho các bước tiếp theo.

- Họp Tổ biên soạn, xúc tiến cơ chế phối hợp các sở ngành, đánh giá hiện trạng sử dụng nhân lực và dự báo cung cầu lao động của toàn tỉnh, của từng lĩnh vực, ngành.

- Họp Ban Chỉ đạo, Tổ biên soạn và đại diện các sở, ban ngành có liên quan của tỉnh Vĩnh Long báo cáo về xử lý hệ thống và phương pháp dự báo số liệu có liên quan đến quy hoạch và kế hoạch của tỉnh. Thông qua dự thảo đề án quy hoạch.

Quá trình xây dựng Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 được tiến hành nhiều bước, sau khi hoàn thành, tổ chức hội thảo báo cáo, sau đó chỉnh sửa, bổ sung, hoàn chỉnh báo cáo Ban Chỉ đạo đề án và trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.

Ngoài phần mở đầu, Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2011 - 2020 gồm 4 phần chính:

Phần I: Hiện trạng phát triển nhân lực.

Phần II: Phương hướng phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020.

Phần III: Những giải pháp phát triển nhân lực.

Phần IV: Tổ chức thực hiện quy hoạch.


Phần I
HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC


I. HIỆN TRẠNG NHÂN LỰC VỀ SỐ ỢNG:


1. Tổng số nhân lực:

Dân số trung bình của tỉnh đến năm 2010 là 1.026,5 ngàn người, trong đó nữ có 520,4 ngàn người, chiếm 50,7% dân số. So với năm 2000, dân số trên địa bàn tỉnh tăng 14,4 ngàn người, bình quân mỗi năm tăng thêm 1.439 người (tăng 0,14%/năm).

Vĩnh Long là tỉnh có mật độ dân số cao so với các tỉnh trong khu vực và cả nước. Tính đến thời điểm 01/4/2010, mật độ dân số của tỉnh là 693 người/km2, đứng hàng thứ 12 trong 63 tỉnh/thành phố trong cả nước và đứng thứ 2 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, chỉ sau thành phố Cần Thơ.


2. Các nguồn cung nhân lực:

Qua nhiều năm thực hiện tốt chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nên mức sinh đã giảm. Kể từ năm 1998 đến nay, tỉnh luôn duy trì mức sinh thấp dưới mức sinh thay thế. Năm 2010, tỷ suất sinh thô năm 2010 là 1,37%, với mức sinh khoảng 14 ngàn trẻ; tỷ suất tăng tự nhiên 0,77%, tương đương với mức tăng tự nhiên 7,8 ngàn người.

Mặc dù tỉnh đã có nhiều giải pháp cụ thể nhằm phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và thực hiện khá tốt các vấn đề an sinh xã hội, nhưng mức độ di cư, nhất là những người trong độ tuổi lao động đến các tỉnh có các khu công nghiệp lớn như: Bình Dương, Đồng Nai, TP. HCM,… hàng năm khá lớn. Bình quân hàng năm từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ xuất cư đi ngoài tỉnh khoảng 10,7%; tỷ lệ nhập cư vào tỉnh là 4,5%; tỷ lệ di cư thuần âm 6,2%, tương đương với 6,3 - 6,5 ngàn người hàng năm di cư ra khỏi tỉnh để làm việc, học tập, sinh sống…Với mức tăng tự nhiên và biến động cơ học như trên, 10 năm qua dân số của tỉnh hàng năm chỉ tăng khoảng 1,3 - 1,5 ngàn người.

Dân số tuy tăng chậm, nhưng nguồn cung lực lượng lao động của tỉnh khá dồi dào. Theo qui luật phát triển tự nhiên của dân số, do mức sinh cao trong những năm đầu của thập niên 90 nên trong giai đoạn 2005 - 2010 hàng năm có trên 17,7 ngàn người bước vào độ tuổi lao động. Nếu trừ số mất đi, nguồn nhân lực tăng tự nhiên hàng năm khoảng 12,8 -13 ngàn người. Tuy nhiên, do dân số trong tuổi lao động đi nhiều hơn đến, nên nguồn nhân lực tăng hàng năm khoảng 6,5 - 7 ngàn người.



II. HIỆN TRẠNG CHẤT ỢNG NHÂN LỰC:

1. Số ợng và cấu dân số theo nhóm tuổi, giới tính, thành thị/nông thôn:

- Cơ cấu dân số chia theo nhóm tuổi: Có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Dân số dưới 15 tuổi đã giảm theo mức giảm sinh, từ 295,1 ngàn trẻ dưới 15 tuổi năm 2000 giảm xuống còn 216 ngàn trẻ vào năm 2010. Dân số từ 15 tuổi trở lên tăng tương ứng từ 719,7 ngàn người (năm 2000) lên 815,3 ngàn người (năm 2010). Tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động cũng tăng khá nhanh từ 61,7% trong tổng dân số năm 1999 lên 67,5% năm 2009 và ước tỷ lệ này năm 2010 là 68,1%. Số người trong độ tuổi lao động cũng tăng tương ứng từ 624,2 ngàn người (năm 2000) lên 698 ngàn người (năm 2010).


BIỂU CẤU DÂN SỐ CHIA THEO NHÓM TUỔI VÀ GIỚI TÍNH

Đơn vị tính:%



Nhóm tuổi

2000

2010




Tổng số

Nam

Nữ

Tổng số

Nam

Nữ

Toàn tỉnh

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

Dưới 14 tuổi

29,2

30,9

27,6

21,0

22,0

20,1

15 - 29 tuổi

30,8

31,6

30,0

27,4

28,7

26,1

30 - 44 tuổi

22,7

22,3

23,1

25,2

25,8

24,5

45 - 54 tuổi

7,2

6,7

7,6

12,9

12,1

13,7

55 - 59 tuổi

2,2

1,8

2,6

4,3

4,0

4,6

60 tuổi trở lên

7,9

6,7

9,1

9,1

7,3

10,9

Với quan điểm cho rằng dân số trẻ và già là gánh nặng cho dân số trong độ tuổi lao động, thì số liệu của biểu 03 dưới đây cho thấy, tỷ lệ phụ thuộc chung của tỉnh giảm khá nhanh qua các năm.

BIỂU TỶ SỐ PHỤ THUỘC QUA CÁC NĂM 2000, 2010

Đơn vị tính:%






2000

2010

Tỷ số phụ thuộc trẻ em (0 - 14 tuổi)

44,9

28,4

Tỷ số phụ thuộc người già (65+)

9,0

9,6

Tỷ số phụ thuộc chung

53,9

38,0

Tỷ số phụ thuộc chung đã giảm từ 53,9% năm 2000 xuống còn 38% vào năm 2010. Do nhiều năm liền, tỉnh giảm được mức sinh nên tỷ số phụ thuộc trẻ em (0 - 14 tuổi) giảm. Điều này, chứng tỏ gánh nặng của dân số trong độ tuổi lao động trong tỉnh ngày được giảm đi. Tuy nhiên, tỷ số phụ thuộc người già 10 năm qua có tăng chút ít (tăng 0,6 điểm %) và sẽ còn tiếp tục tăng theo xu hướng già hoá của dân số.

Hiện tại, Vĩnh Long cũng như cả nước đang trong thời kỳ "Cơ cấu dân số vàng" hay còn gọi là dư lợi dân số, khi mà cứ một người phụ thuộc được "gánh đỡ" bởi hai người trong độ tuổi có khả năng lao động. Hay nói cách khác, là tỷ trọng dân số trong độ tuổi có khả năng lao động cao gấp đôi nhóm dân số phụ thuộc. Nếu duy trì được các chỉ số dân số cơ bản như tỷ suất sinh thô, chết thô và di cư thuần tuý như trong khoảng thời gian 5 năm vừa qua, cơ cấu dân số vàng của tỉnh còn có thể kéo dài thêm 20 - 30 năm nữa. Cơ cấu dân số vàng đang tạo ra cơ hội rất lớn để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, cũng tạo áp lực cho tỉnh trong công tác đào tạo phát triển kỹ năng và giải quyết việc làm cho người lao động, cũng như đảm bảo an sinh xã hội cho người già và các đối tượng dễ tổn thương trong xã hội.

- Cơ cấu dân số theo giới tính: Hiện tại, tỷ trọng nữ luôn nhiều hơn nam giới. Trong tổng số dân của tỉnh năm 2010, nam chiếm tỷ trọng 49,3%, nữ chiếm 50,7%. Tuy nhiên, mức chênh lệch về tỷ trọng dân số nữ có xu hướng khép lại dần và tỷ số giới tính giữa nam và nữ đang có xu hướng cân bằng hơn trước. Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ trọng dân số sinh sau chiến tranh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn nên đang bình ổn dần về giới tính. Mặt khác, tỷ số giới tính cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố di cư. Xu hướng di cư hiện nay là tỷ lệ nữ xuất cư nhiều hơn nam giới nên tỷ số giới tính tăng lên và tỷ trọng nữ trong tổng dân số giảm đi rõ rệt so với 10 năm trước.

Trong tổng số 622 ngàn người đang tham gia hoạt động kinh tế của tỉnh trong năm 2010, thì nữ có 288,6 ngàn người, đóng góp 46,4%; nam giới là 333,4 ngàn người chiếm tỷ lệ đóng góp 53,6%. Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động có sự chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ, cứ 100 người từ 15 tuổi trở lên thì có hơn 84 người nam đang tham gia lực lượng lao động, con số này đối với nữ là 69 người, ít hơn nam giới 15 người. Nguyên nhân chủ yếu là do nữ phải lo việc nội trợ gia đình, chăm sóc con cái nên tỷ lệ tham gia lao động nữ thấp hơn nam giới cùng độ tuổi.

- Cơ cấu dân số theo thành thị/nông thôn: Cùng với quá trình tăng tự nhiên và đô thị hoá, dân số khu vực thành thị 10 năm qua tăng 0,9%/năm (1.340 người/năm). Đến năm 2010, dân số thành thị chiếm tỷ trọng 15,4%; dân số khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng 84,6% trong tổng dân số của tỉnh. Nếu như dân số 2010 tăng thêm 14,4 ngàn người so với năm 2000, thì dân số khu vực thành thị đóng góp 13,3 ngàn người, khu vực nông thôn chỉ tăng 1,1 ngàn người. Tỷ lệ tăng dân số thành thị hàng năm là 0,87%/năm, trong khi khu vực nông thôn chỉ tăng 0,01%/năm. Nguyên nhân của tình trạng trên là do hàng năm có một lượng khá lớn dân số di cư đến thành thị và các tỉnh trong khu vực làm ăn sinh sống nên dân số nông thôn tăng chậm.

Về lực lượng lao động đang hoạt động kinh tế, chiếm tỷ lệ 13,6%; khu vực nông thôn có 537,3 ngàn người đang hoạt động kinh tế, chiếm 86,4% trong tổng lực lượng lao động xã hội trong tỉnh.




2. Số
ợng và cấu dân số theo dân tộc và tôn giáo:

- Về cơ cấu dân số theo dân tộc: Vĩnh Long cũng như một số tỉnh trong khu vực là địa bàn cộng cư của trên nhiều dân tộc đến làm ăn sinh sống, nhưng đông nhất là dân tộc Kinh chiếm 97,37%, dân tộc Khơme chiếm 2,13%, dân tộc Hoa (Hán) chiếm 0,48%, còn lại một số ít dân tộc khác (Chăm, Tày, Mường…).

Qua kết quả tổng điều tra dân số 2009 cho thấy, đồng bào Khơme có cơ cấu dân số trẻ hơn, tỷ lệ lao động trong độ tuổi cũng cao hơn mức trung bình của tỉnh, do đó cần có chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc Khơ me trong công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình, giáo dục và giải quyết việc làm trong những năm tới.

- Về tôn giáo, cũng như các tỉnh Nam bộ khác, phần đông dân số trong tỉnh Vĩnh Long đều có tập tục thờ cúng ông bà. Bên cạnh đó, còn có nhiều tôn giáo có lịch sử phát triển lâu đời như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành và một số tôn giáo khác mang màu sắc của vùng Nam Bộ như đạo Cao đài, Hoà hảo đang hoạt động. Tính đến thời điểm 01/4/2009, toàn tỉnh có 245.544 người theo đạo, chiếm 23,96% dân số. Phổ biến nhất là Phật giáo có 155.580 người, chiếm 15,18%; Phật giáo Hoà Hảo có 34.921 người, chiếm 3,41%; Công giáo có 34.005 người, chiếm 3,32%; Cao đài 15.133 người, chiếm 1,48%. Dân số tín ngưỡng Phật giáo, Công giáo, Cao đài… phân bố tương đối đều khắp các huyện trong tỉnh. Riêng đạo Phật giáo Hoà Hảo tập trung nhiều ở 2 huyện Bình Minh và Bình Tân.




3. Số
ợng và cấu nhân lực theo trình độ học vấn và đào tạo:

Do điều kiện lịch sử để lại và điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội của tỉnh nên đến năm 2000, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 7,2% dân số từ 15 tuổi trở lên không biết chữ. Trong thời gian qua, với chủ trương xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhiều chương trình hành động thiết thực đã được thực hiện như: Huy động trẻ em đến trường đúng độ tuổi, vận động trẻ em bỏ học đến trường, tổ chức các lớp xoá mù chữ và phổ cập giáo dục… đã được tỉnh quan tâm thực hiện. Đến năm 2010, tỷ lệ dân số không biết chữ giảm xuống chỉ còn 4,1%, trong đó chủ yếu tập trung vào nhóm lớn tuổi do không có đủ điều kiện học hành trong những năm chiến tranh.

Nhờ làm tốt công tác giáo dục, nên trình độ học vấn của dân số đã cải thiện đáng kể. Đến năm 2009, số người có trình độ học vấn từ trung học cơ sở (THCS) trở lên chiếm tỷ lệ 30,9% trong tổng số dân từ 5 tuổi trở lên. Tỷ lệ dân số có học vấn từ trung học cơ sở trở lên của tỉnh cao hơn 5,9 điểm phần trăm so với khu vực, nhưng thấp hơn khoảng 13,6 điểm phần trăm so với cả nước. Ước tính đến năm 2010, tỷ lệ dân số từ 5 tuổi trở lên có trình độ THCS chiếm trên 31% và nếu tính riêng lực lượng lao động thì tỷ lệ học vấn từ trung học cơ sở trở lên chiếm khoảng 34,5%.



tải về 2.33 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương