Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam


V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH



tải về 311.5 Kb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu26.11.2017
Kích311.5 Kb.
#3055
1   2   3   4

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH

A. Tiến độ thực hiện

Kế hoạch được triển khai thực hiện qua hai giai đoạn chính như sau:



1. Giai đoạn 2011 – 2012

1. Khảo sát năng lực giáo viên tiểu học, THCS về ngôn ngữ theo chuẩn quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo KNLNN.

2. Đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn đội ngũ giáo viên ngoại ngữ ở cấp Tiểu học, THCS theo lộ trình để chuẩn bị triển khai các chương trình ngoại ngữ mới cho 20% học sinh lớp 3 vào năm học 2011 – 2012 và các năm học tiếp theo.

3. Triển khai chương trình đào tạo giáo viên cốt cán tiếng Anh, tiếng Pháp cấp Tiểu học, THCS và THPT trong và ngoài nước.

4. Tuyển chọn, có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Anh cho giáo viên dạy môn Toán và Tin học bằng tiếng Anh cho trường THPT chuyên Bến Tre để chuẩn bị triển khai theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

5. Khảo sát năng lực đội ngũ giáo viên ngoại ngữ cấp THPT theo yêu cầu chuẩn dạy học ngoại ngữ cấp THPT theo KNLNN, để chuẩn bị triển khai các chương trình ngoại ngữ mới cho 20% học sinh lớp 10 vào năm học 2018 – 2019.

6. Đầu tư phòng dạy học ngoại ngữ cho các trường học đạt chuẩn quốc gia và một số trường chất lượng cao ở cấp Tiểu học, THCS, các trường thí điểm dạy ngoại ngữ theo chương trình mới theo lộ trình mỗi năm từ 10 đến 20 phòng.

7. Triển khai dạy tiếng Anh ngoại ngữ 1 theo chương trình mới 10 năm ở một số trường tiểu học có điều kiện, cho 20% học sinh lớp 3 từ năm học 2011-2012, tăng lên 10% vào năm học 2012-2013. Duy trì dạy tiếng Pháp ngoại ngữ 2 ở một số trường THCS, THPT hiện có giáo viên. Mở lại lớp tiếng Pháp song ngữ từ lớp 6 ở trường THCS Thành phố Bến Tre. Triển khai dạy môn Toán, Tin học bằng tiếng Anh tại trường THPT chuyên Bến Tre. Triển khai Đề án Ngoại ngữ 2020 tại một số trường THCS và THPT theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.



2. Giai đoạn 2013 – 2015

1. Tiếp tục triển khai tiếng Anh ngoại ngữ 1 theo chương trình mới từ lớp 3 ở cấp Tiểu học, THCS theo lộ trình: mỗi năm tăng 10%, từ 20% trên tổng số học sinh lớp 3 năm học 2011-2012 tăng lên 60% học sinh lớp 3 vào năm học 2015-2016; 20% học sinh lớp 6 từ năm học 2014-2015, lên 30% học sinh lớp 6 vào năm học 2015-2016. Triển khai chương trình ngoại ngữ 2 (chương trình mới) từ lớp 6 vào năm học 2014-2015 cho 30% học sinh khá, giỏi đã học ngoại ngữ 1 năm học 2011-2012.

2. Tiếp tục tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và năng lực ngoại ngữ của giáo viên ngoại ngữ cấp Tiểu học, THCS, tiến đến chuẩn hoá đội ngũ theo yêu cầu mới, đáp ứng quy mô phát triển theo lộ trình.

3. Tiếp tục chương trình đào tạo giáo viên cốt cán tiếng Anh, tiếng Pháp cấp Tiểu học, THCS và THPT trong và ngoài nước theo kế hoạch.

4. Tuyển chọn, có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Anh cho giáo viên dạy môn Vật lý, Hóa học, Sinh học bằng tiếng Anh cho trường THPT chuyên Bến Tre để chuẩn bị triển khai dạy các môn này bằng tiếng Anh sau năm 2015 theo lộ trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

5. Tiếp tục đầu tư phòng dạy học ngoại ngữ cho một số trường học đạt chuẩn quốc gia và một số trường trọng điểm, chất lượng cao theo phân kì.



B. Trách nhiệm thực hiện Kế hoạch

1. Sở Giáo dục và Đào tạo:

- Chủ trì, phối hợp với các sở ngành liên quan, trường Cao đẳng Bến Tre, các Ủy ban nhân dân huyện, thành phố cụ thể hoá nội dung Kế hoạch thành các chương trình, kế hoạch thực hiện chi tiết để chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết việc triển khai thực hiện Kế hoạch trong phạm vi toàn tỉnh hàng năm, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh; tổng kết rút kinh nghiệm, đề ra phương hướng Kế hoạch dạy và học ngoại ngữ trong các trường phổ thông tỉnh Bến Tre giai đoạn 2016-2020;

- Phối hợp với Sở Nội vụ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về định mức biên chế giáo viên ngoại ngữ; các cơ chế, chính sách, tiêu chí tuyển dụng, sử dụng, quản lý giáo viên ngoại ngữ trong các trường phổ thông;

2. Sở Kế hoạch và Đầu tư:

- Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổng hợp các kế hoạch triển khai hoạt động và đầu tư thực hiện Kế hoạch theo hàng năm và từng giai đoạn để đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, trình Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định;

- Phối hợp với Sở Tài chính, Sở Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp, xây dựng các kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước để thực hiện Kế hoạch.

3. Sở Tài chính:

Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các sở, cơ quan liên quan phân bổ, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc chi kinh phí thực hiện Kế hoạch theo các quy định hiện hành của Luật Ngân sách nhà nước.



4. Sở Nội vụ:

Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, hướng dẫn, hoặc trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung các quy định về việc tuyển dụng; giao định mức biên chế giáo viên ngoại ngữ cần thiết để triển khai Đề án Ngoại ngữ 2020.



5. Sở Thông tin và Truyền thông:

Chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ quan thông tin, truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội về vai trò vị trí của ngoại ngữ trong giai đoạn hiện nay đối với việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, các chương trình đổi mới công tác giáo dục, đào tạo ngoại ngữ trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu mới.



6. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố:

- Chỉ đạo các Phòng Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan chức năng ở địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch triển khai Kế hoạch trên địa bàn; kiểm tra, giám sát, đánh giá, sơ kết việc thực hiện Kế hoạch tại địa phương, định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Giáo dục và Đào tạo;

- Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo và các sở, cơ quan liên quan cấp tỉnh để chỉ đạo thống nhất, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu, kế hoạch chung của tỉnh, việc triển khai thực hiện Kế hoạch này trên địa bàn.

7. Trường Cao đẳng Bến Tre:

Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ngoại ngữ cấp Tiểu học, THCS trên địa bàn tỉnh, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình ngoại ngữ mới 10 năm theo Đề án Ngoại ngữ 2020.



8. Các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh:

- Quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các hoạt động liên quan đến công tác quản lý dạy học, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, dạy học ngoại ngữ trong cơ sở mình, đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ Kế hoạch đã đặt ra;

- Tích cực, chủ động triển khai các nhiệm vụ trong thẩm quyền mà Kế hoạch giao.

Trên đây là Kế hoạch triển khai Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” trong các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Bến Tre, giai đoạn 2011-2015. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, yêu cầu các cơ quan, đơn vị phản ánh kịp thời về Sở Giáo dục và Đào tạo để nghiên cứu đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung cho kịp thời.



Nơi nhận:

- Bộ GD&ĐT (để b/cáo);

- TT.TU, TT. HĐND tỉnh (để b/cáo);

- CT và PCT UBND tỉnh (thay b/cáo);

- Ban TGTU, BanVHXH HĐND tỉnh (thay b/cáo);

- Sở GD&ĐT, KH-ĐT, TC, TT&TT, NV;

- Trường Cao đẳng Bến Tre;

- UBND các huyện, thành phố;

- Chánh, Phó VP-NC;

- Ng/c: TH, VHXH;

- Lưu: VT.


TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH



PHỤ LỤC
KHUNG CHUẨN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ CHÂU ÂU (CEF)





A1

Bậc 1

A2

Bậc 2

B1

Bậc 3

B2

Bậc 4

C1

Bậc 5

C2

Bậc 6

Nghe hiểu

- Tôi có thể hiểu được những từ quen thuộc và những cách diễn đạt rất thông dụng về bản thân mình, gia đình mình, về môi trường cụ thể và trực tiếp, nếu mọi người nói chậm và rõ ràng.

- Tôi có thể hiểu những cách diễn đạt và từ vựng rất thường gặp, liên quan sát sao đến mình (vd: bản thân mình, gia đình mình, việc mua bán, môi trường sống gần gũi với mình.

- Tôi có thể nắm được ý chính các rao vặt và của các thông điệp đơn giản, rõ ràng.



- Tôi có thể hiểu những điều chính khi người nói sử dụng một ngôn ngữ rõ ràng, chuẩn mực và theo chủ đề quen thuộc liên quan đến công việc, nhà trường, giải trí, v. v...

- Tôi có thể hiểu được nội dung chính của nhiều chương trình được phát sóng trên đài phát thanh hay truyền hình, về thời sự hoặc những chủ đề mà tôi quan tâm do nhu cầu cá nhân hay nghề nghiệp, nếu phát thanh viên nói tương đối chậm và rõ ràng.



- Tôi có thể hiểu được nội dung các cuộc hội thảo, những lời phát biểu tương đối dài và thậm chí có thể theo được một luận chứng phức tạp nếu như chủ đề của các vấn đề trên tương đối quen thuộc với tôi.

- Tôi có thể hiểu được đa số các chương trình phát sóng trên truyền hình về thời sự và thông tin.

- Tôi có thể hiểu được phần lớn các phim có sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực.


- Tôi có thể hiểu được một diễn văn dài thậm chí khi cấu trúc của diễn văn này không được rõ ràng và các mối liến kết trong diễn văn không được tường minh.

- Tôi có thể hiểu được tương đối dễ dàng các chương trình phát sóng của đài truyền hình và các chương trình phim.



- Tôi có thể hiểu một cách dễ dàng ngôn ngữ nói trong điều kiện nghe nói trực tiếp hay thông qua các phương tiện truyền thông và cả khi người phát ngôn nói nhanh, với điều kiện là tôi có đủ thời gian để làm quen với một giọng nói đặc biệt nào đó.

Đọc

- Tôi có thể hiểu được những danh từ quen thuộc, những từ cũng như những câu rất đơn giản, ví dụ trong các mục rao vặt, các tờ quảng cáo hoặc các quyển quảng cáo

- Tôi có thể đọc những bài khoá ngắn, rất đơn giản. Tôi có thể tìm được một thông tin đặc biệt có thể đoán biết được trong những tài liệu thông thường như các mục quản cáo, các tờ quảng cáo, các tờ thực đơn hay bảng chỉ dẫn giờ giấc.

- Tôi có thể hiểu được những bức thư có tính chất cá nhân, ngắn và đơn giản.



- Tôi có thể hiểu được những bài viết được soạn thảo chủ yếu bằng một ngôn ngữ thông dụng hoặc liên quan tới công việc của tôi.

- Tôi có thể hiểu các bài miêu tả sự kiện, các cách thể hiện tình cảm và mong muốn trong những bức thư cá nhân.



- Tôi có thể đọc các bài viết và các báo cáo về những vấn đề thời sự mà trong đó người viết mang một thái độ đặc biệt hoặc theo một quan điểm nào đó.

- Tôi có thể hiểu được một tác phẩm văn học hiện đại bằng văn xuôi.



- Tôi có thể hiểu được các bài viết về sự kiện cũng như những bài văn dài và phức tạp và nhận thấy được những nét khác biệt về văn phong.

- Tôi có thể hiểu các bài viết có tính chất chuyên ngành và những kiến thức về kỹ thuật, kể cả khi chúng không liên quan gì đến lĩnh vực của tôi.



- Tôi có thể đọc được dễ dàng mọi loại văn bản kể cả những văn bản trừu tượng hoặc phức tạp về nội dung hay hình thức, chẳng hạn một cuốn sách giáo khoa, một bài báo chuyên ngành hay một tác phẩm văn học.

Nói
Tham gia vào một cuộc đối thoại

- Tôi có thể giao tiếp một cách đơn giản, với điều kiện người đối thoại với tôi sẵn lòng nhắc lại hoặc diễn đạt lại lời mình chậm rãi hơn và giúp tôi diễn đạt điều tôi có thể nói.

- Tôi có thể hỏi một số câu đơn giản về các chủ đề quen thuộc hoặc về điều tôi đang cần biết ngay, cũng như có thể trả lời các câu hỏi trong phạm vi này.



- Tôi có thể giao tiếp khi nhiệm vụ giao tiếp đơn giản, thông thường chỉ yêu cầu trao đổi những thông tin đơn giản và trực tiếp về những chủ đề và những hoạt động quen thuộc.

- Tôi có thể có những cuộc trao đổi rất ngắn, ngay cả khi theo thường lệ, tôi chưa hiểu tới mức có thể theo được một cuộc hội thoại.



- Tôi có thể đương đầu với đa số các tình huống ta thường gặp khi du hành tới một vùng mà ngôn ngữ này được sử dụng.

- Tôi có thể tham gia một cuộc trò chuyện không cần chuẩn bị trước, về những chủ đề quen thuộc hay chủ đề mà cá nhân tôi quan tâm, hoặc chủ đề liên quan tới cuộc sống hằng ngày (chẳng hạn như gia đình, giải trí, công việc, du hành và thời sự).



- Tôi có thể giao tiếp với một mức độ tự nhiên và thoải mái nhất định, cho phép một sự ứng xử giao tiếp bình thường với một người bản ngữ.

- Tôi có thể tham gia tích cực vào một cuộc trò chuyện trong những tình huống thông thường, đưa ra và bảo vệ ý kiến của mình.



- Tôi có thể diễn đạt một cách tự nhiên, trôi chảy dường như không mấy khi phải tìm kiếm từ.

- Tôi có thể sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và có hiệu quả trong các quan hệ xã hội và công tác.

- Tôi có thể diễn đạt suy nghĩ và ý kiến của mình một cách chính xác và kết nối được các ý kiến thảo luận của mình với ý kiến của những người đang đối thoại với mình.


- Tôi có thể tham gia một cách dễ dàng vào bất kỳ cuộc đối thoại hay tranh luận nào và tôi cũng rất thoải mái với các thành ngữ hay lối nói thông dụng.

- Tôi có thể phát biểu trôi chảy và diễn đạt chính xác các sắc thái nghĩa tinh tế.

- Khi gặp khó khăn, tôi có thể quay lại để chỉnh sửa tương đối khéo léo, làm cho người nghe hầu như không phát hiện ra.


Diễn đạt nói liên tục

- Tôi có thể dùng các cách diễn đạt và câu đơn giản để miêu tả nơi ở của mình và những người mình quen biết.

- Tôi có thể sử dụng một loạt câu hoặc cách diễn đạt để miêu tả (bằng những từ ngữ đơn giản) gia đình mình và những người khác, điều kiện sống của mình, việc học tập của mình, công việc hiện tại hoặc mới đây của mình.

- Tôi có thể diễn đạt một cách đơn giản để kể ra những điều mình đã trải nghiệm, những sự kiện, những ước mơ của mình, những niềm hy vọng của mình và mục đích của mình.

- Tôi có thể đưa ra các lý do và những lời giải thích ngắn gọn cho những ý kiến hoặc những dự kiến của mình.

- Tôi có thể kể một câu chuyện hay một tình tiết của một cuốn sách hoặc một bộ phim và thể hiện phản ứng của mình.


- Tôi có thể diễn đạt rõ ràng và chi tiết hàng loạt các chủ đề liên quan tới những mối quan tâm của mình.

- Tôi có thể phát triển một quan điểm về một chủ đề có tính thời sự và giải thích về lợi ích và những điều bất lợi của từng khả năng khác nhau.



- Tôi có thể đưa ra những lời mô tả rõ ràng, chi tiết về những vấn đề phức tạp, đồng thời lại gộp các chủ đề liên quan vào vấn đề đó, phát triển một số điểm nào đó và kết thúc ý kiến phát biểu của mình một cách thích hợp.

- Tôi có thể trình bày một sự mô tả hay một lập luận rõ ràng và trôi chảy bằng một lối nói phù hợp với ngữ cảnh, trình bày sao cho hợp lý và giúp người nghe có thể lưu ý được và nhớ được những điểm quan trọng.

Viết

- Tôi có thể viết một tấm bưu ảnh đơn giản, ví dụ bưu ảnh về kỳ nghỉ hè.

- Tôi có thể đưa ra các chi tiết cá nhân để trả lời phiếu điều tra, chẳng hạn ghi họ tên mình, quốc tịch và địa chỉ của mình vào giấy thuê phòng khách sạn.



- Tôi có thể ghi chép lại những thông tin hoặc thông điệp đơn giản và ngắn.

- Tôi có thể viết một bức thư cá nhân rất đơn giản, chẳng hạn như thư cảm ơn.



- Tôi có thể viết một văn bản đơn gỉản và chặt chẽ về những chủ đề mà tôi quan tâm.

- Tôi có thể viết những bức thư cá nhân miêu tả kinh nghiệm và cảm tưởng.



- Tôi có thể viết các văn bản rõ ràng và chi tiết về hàng loạt các chủ đề liên quan tới các mối quan tâm của mình.

- Tôi có thể viết một tiểu luận, một báo cáo để chuyển tải một thông tin hoặc để trình bày những lý do của việc đồng tình hay phản đối một ý kiến nào đó.

- Tôi có thể viết những bức thư trong đó tôi muốn làm nổi bật ý nghĩa của những sự kiện hay những kinh nghiệm.


- Tôi có thể diễn đạt bằng một văn bản rõ ràng có cấu trúc chặt chẽ, có thể phát triển quan điểm của mình.

- Tôi có thể viết một vấn đề phức tạp trong một bức thư, một tiểu luận hay một bản báo cáo, trong đó tôi nhấn mạnh những điểm mình cho là quan trọng.

- Tôi có thể sử dụng một văn phong thích hợp với người đọc.


- Tôi có thể viết một văn bản sáng sủa, trôi chảy và có văn phong phù hợp với hoàn cảnh.

- Tôi có thể soạn thảo những bức thư, những bản báo cáo, những bài báo phức tạp bằng một cấu trúc sáng sủa cho phép người đọc nắm bắt và ghi nhớ được những điểm quan trọng.

- Tôi có thể viết tóm tắt và phê bình một tác phẩm chuyên ngành hoặc một tác phẩm văn học.




THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

__________________

Số: 1400/QĐ-TTg



CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_______________________________________

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH



Về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ

trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020"

___________
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,


QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020" với những nội dung chính như sau:
I. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

2. Mục tiêu cụ thể

a) Triển khai thực hiện chương trình giáo dục 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông. Từ năm 2010 – 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 – 2016; đạt 100% vào năm 2018 – 2019;

b) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm học 2010 – 2011, 60% vào năm 2015 – 2016 và đạt 100% vào năm học 2019 – 2020;

c) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại học (cả các cơ sở đào tạo chuyên ngữ và không chuyên ngữ) cho khoảng 10% số lượng sinh viên cao đẳng, đại học vào năm học 2010 – 2011; 60% vào năm học 2015 – 2016 và 100% vào năm 2019 – 2020;

d) Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương trình giáo dục thường xuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các cấp học, trình độ đào tạo, góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa dạng hóa các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học.

Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và đạt 30% vào năm 2020.
II. NHIỆM VỤ

1. Quy định môn ngoại ngữ được dạy và học trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác.

2. Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực ngoại ngữ thống nhất, chi tiết, gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ ngoại ngữ quốc tế thông dụng để làm căn cứ biên soạn chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy và xây dựng tiêu chí đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học.

Khung trình độ năng lực ngoại ngữ cần xác định rõ yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao nhất.

3. Xây dựng và triển khai chương trình mới đào tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ như sau: tốt nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học đạt trình độ bậc 2 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo KNLNN.
Tổ chức xây dựng các chương trình ngoại ngữ phổ thông 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu học tập, giảng dạy, phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp học. Khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng, thực hiện các chương trình song ngữ, bồi dưỡng nâng cao trong các cơ sở của mình.

Ngoài chương trình đào tạo môn ngoại ngữ bắt buộc (ngoại ngữ 1), học sinh có thể tự chọn học thêm một ngoại ngữ khác (ngoại ngữ 2). Việc bố trí dạy môn ngoại ngữ 2 chỉ thực hiện từ lớp 6 đến lớp 12 với trình độ đạt tương đương bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Xây dựng và triển khai các chương trình dạy và học bằng ngoại ngữ cho một số môn như: Toán và một số môn phù hợp ở các trường trung học phổ thông.

4. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại ngữ mới đối với giáo dục chuyên nghiệp (trung cấp và dạy nghề) với mức trình độ tối thiểu đạt được bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trường nghề và bậc 3 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp.

Đối với giáo dục chuyên nghiệp, chương trình đào tạo ngoại ngữ có thể áp dụng theo một số chương trình khác nhau, phù hợp với các đối tượng người học có kiến thức phổ thông hoặc trình độ khác nhau.

5. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại ngữ mới đối với giáo dục đại học. Nội dung chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục đại học có thể áp dụng cho hai nhóm đối tượng chính: một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm ở phổ thông và một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học theo chương trình ngoại ngữ 10 năm ở phổ thông.

Đối với các cơ sở giáo dục đại học không chuyên ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ tối thiểu là bậc 3 theo KNLNN sau khoá tốt nghiệp.

Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ bậc 4 sau khoá tốt nghiệp cao đẳng và bậc 5 sau khoá tốt nghiệp đại học và bắt buộc người học phải đồng thời được đào tạo hai ngoại ngữ trong một khoá đào tạo, một ngoại ngữ chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2), trong đó thời lượng đào tạo ngoại ngữ phụ không quá 1/2 thời lượng dành cho việc đào tạo ngoại ngữ chính.

Xây dựng và triển khai chương trình dạy bằng ngoại ngữ một số môn cơ bản, cơ sở, chuyên ngành và tự chọn ở một số ngành trọng điểm trong chương trình đại học ở năm cuối bậc đại học.

6. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo ngoại ngữ đối với giáo dục thường xuyên.

Chương trình đào tạo ngoại ngữ áp dụng trong các cơ sở giáo dục thường xuyên phải phù hợp nhu cầu đa dạng phong phú về hình thức, đối tượng, trình độ đào tạo, đáp ứng như cầu người học, có tác dụng tích cực khắc phục những hạn chế của giáo dục chính quy.

Chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở giáo dục thường xuyên phải đảm bảo yêu cầu nội dung, chất lượng. Trình độ năng lực ngoại ngữ của người học sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục thường xuyên phải đạt tương đương với trình độ đào tạo theo hình thức chính quy tương ứng ở các cấp học, trình độ đào tạo.

7. Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong đào tạo ngoại ngữ; xây dựng các dữ liệu ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo môn ngoại ngữ; nâng cao hiệu quả công tác khảo thí và kiểm định chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ.


Каталог: attachments
attachments -> Phụ lục II tóm tắt tiểu sử danh nhân và Ý nghĩA ĐỊa danh
attachments -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh bình thuậN Độc lập Tự do Hạnh phúc
attachments -> Uỷ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh yên báI Độc lập Tự do Hạnh phúc
attachments -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam thành phố HỒ chí minh độc lập Tự do Hạnh phúc
attachments -> Báo cáo sơ kết tình hình, kết quả công tác phòng, chống tội phạm; phòng, chống ma túy; phòng, chống tội phạm mua bán người
attachments -> 12 QĐ ubnd dinh muc phan bo chi Yen Bai 2017 (Chính thức). doc
attachments -> Phụ lục 1 khái quáT ĐẶC ĐIỂm tình hìNH
attachments -> Trường tiểu học
attachments -> Bộ CÔng an cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc

tải về 311.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương