Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc



tải về 0.5 Mb.
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích0.5 Mb.

UỶ BAN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 88/BC-UBND

Hải An, ngày 01 tháng 8 năm 2011

BÁO CÁO

Sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tăng ờng sự lãnh đạo của Đng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”

Thực hiện Kế hoạch số 33/KH-BCĐ ngày 16/6/2011 của Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng thành phố Hải Phòng về việc sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; UBND quận báo cáo kết quả thực hiện như sau:



I. TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 3 (KHÓA X)

A. Đặc diểm tình hình:

Quận Hải An có 8 đơn vị hành chính cấp phường với tổng diện tích đất tự nhiên là 10.492ha, với dân số hiện tại trên 81.000 người, là một quận có nhiều lợi thế về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên ưu đãi để thúc đấy phát triển kinh tế, bên cạnh đó được sự quan tâm của Trung ương, Thành phố, do vậy trên địa bàn quận có dự án lớn được được đầu tư và khai thác như: Dự án khu phi thuế quan Đình Vũ; Khu công nghiệp Đình Vũ; Dự án Khu đô thị mới Ngã năm - Sân bay Cát Bi; Dự án Trung tâm hành chính quận; Dự án Khu đô thị mới nối đường Lạch tray - Hồ sen - Cầu rào 2; …vv. Việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng đã tác động trực tiếp đến tập quán, cuộc sống, quyền lợi, việc làm của nhiều cá nhân, tổ chức có đất bị thu hồi nên đã nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu nại, tố cáo cần phải tập trung giải quyết.

Tuy nhiên do sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết và đúng định hướng của Đảng bộ quận là “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; tập trung phát triển hạ tầng giao thông, đô thị, khu công nghiệp; khai thác lợi thế cảng, biển; xây dựng quận Hải An phát triển nhanh, bền vững” nên tình hình khiếu kiện, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, thất thoát tài sản công và tội phạm… trên địa bàn quận đã được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi. Toàn quận tập trung cao độ để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng phát triển đô thị văn minh, hiện đại; cải cách hành chính…

Trên cơ sở Kế hoạch công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí UBND quận đã chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí nhằm làm trong sạch và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân, góp phần ổn định tình hình chính trị ở địa phương. Bước đầu đã đạt được kết quả khả quan và từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lãng phí.



B. Kết quả đã đt được

1. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, tổ chức đảng trong việc thực hiện công tác phòng chống tham nhũng trong thời gian qua:

Sau khi Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và các văn bản hướng dẫn được ban hành, UBND Quận đã tổ chức hội nghị triển khai đến Thủ trưởng các phòng ban, Chủ tịch UBND phường. Trên cơ sở đó, Thủ trưởng các phòng ban, Chủ tịch UBND các phường phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức hội nghị phổ biến cho đông đảo cán bộ và nhân dân. Cùng với việc triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí UBND quận đã tổ chức triển khai kịp thời, có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Thành phố về công tác phòng, chống tham nhũng như: Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; Quyết định số 746/QĐ-UBND ngày 12/4/2006 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành chương trình hành động thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng; Quyết định số 748/QĐ-UBND ngày 12/4/2006 của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành chương trình hành động của UBND thành phố Hải Phòng về việc ban hành chương trình hành động của UBND thành phố về thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí. Để cụ thể hóa, đưa các văn bản của Trung ương, Thành phố vào thực tiễn, Quận ủy Hải An đã ban hành Kế hoạch số 14-KH/QU ngày 08/12/2006 của Ban Thường vụ Quận ủy về tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X; Quyết định số 84-QĐ/QU ngày 08/12/2006 của Ban Thường vụ Quận ủy về việc phân công triển khai thực hiện Chương trình hành động của Quận ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị Quyết 10-NQ/QU ngày 20/12/2006 của Ban Chấp hành Đảng bộ quận về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X. Ủy ban nhân dân quận Hải An đã ra các Quyết định số: 1398/QĐ-UBND ngày 29/4/2006 ban hành chương trình hành động thực hiện luật PCTN; Quyết định số 1397/QĐ-UBND ngày 29/4/2006 ban hành chương trình hành động của UBND quận Hải An về thực hành tiết kiệm chống lãng phí và chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị xây dựng chương trình kế hoạch của địa phương, đơn vị. Đồng thời, tổ chức triển khai công tác phòng chống tham nhũng thông qua các buổi sinh họat chính trị, các buổi họp giao ban và các buổi họp cán bộ chủ chốt... Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các đơn vị đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đó chú ý quan tâm đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí theo Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Nhìn chung, cấp uỷ Đảng, chính quyền đã có nhiều cố gắng trong chỉ đạo thực hiện, luôn xác định nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí là góp phần ổn định tình hình chính trị, KT-XH địa phương.



2. Việc thực hiện các chủ trương, giải pháp:

2.1. Công tác tuyên truyền, giáo dục và truyền thông về PCTN

- Ngoài việc triển khai tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống tham nhũng, tiết kiệm, chống lãng phí, UBND quận đã đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, quán triệt, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng như: Luật Khiếu nại tố cáo, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,... thông qua các hình thức như: tuyên truyền, phổ biến trực tiếp; thông qua bản tin tư pháp, Đài phát thanh của quận và các phường... để mọi người dân hiểu, chấp hành pháp luật và tham gia tích cực trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

- Tăng cường chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần 3 (khóa X) nhằm phát huy có hiệu quả vai trò quản lý Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân và trách nhiệm của cán bộ, công chức. Thực hiện tốt việc công khai tài chính, thu chi ngân sách ở địa phương, đơn vị. Phát huy có hiệu quả vai trò các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân trong công tác hòa giải các tranh chấp khiếu kiện nhỏ trong nhân dân, đấu tranh phòng chống tội phạm, chống tham nhũng, tiến tới xã hội hóa công tác này.

- Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng, qua đó nhằm phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm, đồng thời góp phần làm gương để hạn chế các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực xảy ra. Trong thời gian qua, UBND quận đã thực hiện tốt việc tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, trong đó UBND quận đã tập trung giải quyết cơ bản các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, đảm bảo giữ vững kỷ cương pháp luật. Duy trì việc tiếp dân định kỳ, qua đó các ý kiến phản ảnh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân được tiếp thu và từng bước giải quyết.

- Thực hiện Kế hoạch tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, Quận đã tổ chức 28 buổi tập huấn Luật khiếu nại, tố cáo; Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí và Luật phòng chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành; tuyên truyền lồng ghép: 48 buổi, thu hút tổng cộng là: 11.607 lượt người tham dự.

- Giai đoạn 2006 – 6/2011 UBND quận đã tổ chức tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, lãng phí qua Đài phát thanh của quận là 350 tin và 80 bài.

- Theo chỉ đạo của UBND quận: Phòng Tư pháp quận phối hợp VP UBND quận và Hội đồng PBGDPL quận có trách nhiệm rà soát, tham mưu giúp UBND quận ban hành các văn bản liên quan về lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, trong 5 năm quận đã ban hành: 5 kế hoạch Thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng; 4 thông báo về kê khai tài sản, thu nhập đến các địa phương, đơn vị, phòng, ban liên quan thuộc quận.

- Do sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Quận ủy và UBND quận kết hợp với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp nên nhận thức của cán bộ, nhân dân trong toàn quận về chấp hành pháp luật Phòng, chống tham nhũng có nhiều chuyển biến tích cực.



2.2. Công tác cán bộ phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí:

2.2.1 Công khai dân chủ trong công tác cán bộ

Trong thực hiện công khai, dân chủ tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức luôn bám sát các nội dung, yêu cầu của các văn bản của cấp trên, đồng thời đã phối hợp chặt chẽ với các Ban của Đảng, đoàn thể và các đơn vị sử dụng lao động để thực hiện việc tuyển dụng, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo theo đúng theo quy trình.

Trong việc tuyển dụng viên chức đã thực hiện nghiêm túc theo tinh thần của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước; Nghị định 121/2006/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP; Quyết định số 1254/2007/QĐ-UBND Ban hành Quy định về tuyển dụng viên chức sự nghiệp nhà nước tại thành phố Hải Phòng và các văn bản có liên quan. Hàng năm, căn cứ số chỉ tiêu biên chế được UBND thành phố giao, UBND quận lập kế hoạch tuyển dụng để trình Sở Nội vụ phê duyệt. Sau khi được phê duyệt kế hoạch, đã tiến hành thông báo công khai về điều kiện, tiêu chuẩn, chỉ tiêu, chuyên ngành tuyển dụng để tiếp nhận hồ sơ và tổ chức xét tuyển.

Trong giai đoạn 2006 – 6/2011, UBND quận tổ chức xét tuyển dụng 42 viên chức giáo dục; 13viên chức ở các đơn vị trực thuộc; đồng thời đã tiếp nhận và bố trí 32 công chức vào công tác ở các phòng, ban chuyên môn cấp quận. Bên cạnh đó, đã quyết định nâng lương theo định kỳ 226 trường hợp; nâng lương trước thời hạn 16 trường hợp và chuyển ngạch 18 trường hợp. Việc tuyển dụng, sử dụng và bố trí cán bộ, công chức cấp phường cũng được triển khai thực hiện nghiêm túc và đảm bảo đúng quy định của Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003; 92/2009/NĐ-CP ngày 22/9/2009 của Chính phủ. Căn cứ định biên, tiêu chuẩn của từng loại cán bộ, công chức, UBND quận đã sắp xếp, bố trí cán bộ theo đúng chức danh quy định, đảm bảo các lĩnh vực đều có phân công người phụ trách, không bỏ sót. Đến nay, đã bố trí 73 cán bộ chuyên trách, 102 công chức và 440 cán bộ không chuyên trách tại các phường. Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở từng bước được đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng được nâng cao nhằm đáp ứng với yêu cầu của công việc. Nhiều đơn vị, đội ngũ cán bộ, công chức đã phát huy tốt vai trò, chức trách của mình và hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

Thực hiện Quyết định số 27/2004/QĐ-UB ngày 19/02/2003 của Uỷ ban nhân dân thành phố về việc ban hành tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức danh Trưởng phòng, Phó trưởng phòng.

Quyết định 1816/2009/QĐ-UBND ngày 14/9/2009 của UBND thành phố Hải Phòng. Từ 2006 -6/2011, đã bổ nhiệm mới 11 Trưởng phòng, 19 Phó trưởng phòng và tương đương, bổ nhiệm lại 04 Trưởng phòng, 03 Phó trưởng phòng; bổ nhiệm mới 07 Giám đốc, 09 Phó Giám đốc và cho thôi giữ chức 02 Giám đốc trực thuộc Phòng; Đã bổ nhiệm mới 34 Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng; bổ nhiệm lại 18 Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng; điều động và luân chuyển 4 Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường học thuộc phòng Giáo dục và Đào tạo quận.

Để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, UBND quận thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Trong 5 năm qua, đã cử 205 lượt cán bộ, công chức, viên chức đi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; 181 cán bộ, công chức, viên được đào tạo tin học; 72 cán bộ, công chức, viên chức được cử đi tham gia các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị; 116 cán bộ, công chức, viên chức được cử đi tham gia các lớp quản lý nhà nước.

2.2.2 Thực hiện chuyển đổi vị trí công tác

Căn cứ các quy định tại Nghị định 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ về việc quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức. Trong 2 năm Quận đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác: 92 người; số đơn vị lập danh sách vị trí công tác phải chuyển đổi là: 240 đơn vị.



2.2.3. Xử lý trách nhiệm của ngưi đng đu cơ quan tổ chức khi để xảy ra tham nhũng.

Việc thụ lý hồ sơ để xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức được tiến hành nghiêm túc, kịp thời và đảm bảo đúng theo quy định. Trong giai đoạn 2006- 6/2011, UBND quận đã xem xét xử lý 01 công chức cấp quận, 04 công chức cấp phường.



2.2.4.Việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch tài sản:

Thực hiện Kế hoạch số 7188/KH-UBND ngày 05/12/2007 của UBND thành phố về việc triển khai Nghị định số 37/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ về minh bạch tài sản và thu nhập, UBND quận đã xây dựng kế hoạch triển khai và giao trách nhiệm cho Thanh tra quận tổ chức hội nghị triển khai đến các đối tượng là Thủ trưởng các cơ quan, ban ngành, đoàn thể cấp quận, phường và Hiệu trưởng các trường học trên địa bàn để tổ chức thực hiện việc kê khai đảm bảo đúng thời gian, quy trình và đối tượng theo quy định.



a. Công tác chỉ đạo triển khai thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập

- Thực hiện chỉ đạo của BCĐ về PCTN thành phố và Thanh tra TP, UBND quận Hải An đã chỉ đạo bằng các Thông báo số: 1083/TB-UBND ngày 30/11/2009; Thông báo số 175/TB-UBND ngày 12/03/2010; Thông báo số: 1083/TB-UBND ngày 30/11/2010 đến phòng, ban, đơn vị liên quan; UBND các phường thuộc quận nghiêm chỉnh chấp hành việc kê khai minh bạch tài sản, thu nhập

- Công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện theo chức năng nhiệm vụ quyền hạn quy định tại Thông tư 01/2010/TT-TTCP ngày 22/01/2010 về sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 13 tháng 11 năm 2007 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ về Minh bạch tài sản, thu nhập; UBND quận giao Thanh tra quận là cơ quan có nhiệm vụ tham mưu tổng hợp kết quả kê khai minh bạch tài sản, thu nhập của toàn quận và báo cáo theo quy định.

b. Kết quả kê khai, xác minh tài sản, thu nhập

Thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương và Thành phố về công tác kê khai thu nhập, tài sản, Ủy ban nhân dân quận đã quán triệt, chỉ đạo các đơn vị triển khai hướng dẫn, phát tờ khai đến từng đối tượng (thuộc diện phải kê khai) tại cơ quan đơn vị quản lý. Lập danh sách chi tiết theo dõi đối tượng phải kê khai, nắm chắc số lượng, thực hiện lưu trữ hồ sơ kê khai theo đúng quy định hiện hành đảm bảo tuyệt đối an toàn, bí mật, thuận tiện cho công tác xác minh khi có yêu cầu.

Kết quả kê khai cụ thể như sau:

+ Năm 2007: Tổng số đơn vị phải kê khai: 57; Đã kê khai: 57; Số đối tượng phải kê khai: 211; Đã kê khai: 211 (= 100%)

+ Năm 2008: Tổng số đơn vị phải kê khai: 59; Đã kê khai: 59; Số đối tượng phải kê khai: 248; Đã kê khai: 248 (= 100%)

+ Năm 2009: Tổng số đơn vị phải kê khai: 61 đơn vị; Đã kê khai: 61; Số đối tượng phải kê khai: 246; Đã kê khai: 246 (= 100%)

+ Năm 2010: Tổng số đơn vị phải kê khai: 58 đơn vị; Đã kê khai: 58; Số đối tượng phải kê khai: 248; Đã kê khai: 248 (= 100%)

c. Đánh giá kết quả kê khai, xác minh tài sản, thu nhập

Qua công tác kê khai tài sản, thu nhập đã đạt một số kết quả nhất định sau:

- Quận ủy; UBND quận luôn bám sát sự chỉ đạo của Trung ương, của Thành phố trong tổ chức thực hiện kê khai tài sản, thu nhập và cụ thể hóa bằng các văn bản chỉ đạo tới từng cơ quan, đơn vị, kết quả:

- 100% các đơn vị và cá nhân phải kê khai đã nghiêm túc thực hiện kê khai đúng, đầy đủ theo quy định.

- Việc theo dõi, quản lý, đôn đốc kê khai và lưu trữ thường xuyên được lãnh đạo quận quan tâm chỉ đạo.

2.2.5. Xây dựng và thực hiện quy tắc ứng xử của đảng viên, cán bộ, công chức trong đó có việc tặng quà, nhận quà, từ chối nhận quà và nộp lại quà tặng.

- Thực hiện Quyết định số 3203/2004/QĐ-UBND ngày 03/12/2004 của UBND thành phố Hải Phòng về việc thực hiện một số biện pháp để ngăn chặn, tiến tới chấm dứt tệ gây phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực trong cán bộ, công chức cơ quan hành chính nhà nước tại thành phố Hải Phòng. UBND quận đã chỉ đạo triển khai ký cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu giữa trưởng các phòng, ban với chủ tịch UBND quận và giữa cán bộ, công chức với trưởng phòng, ban. Kết quả đến thời điểm kiểm tra 100% các cán bộ, công chức đã ký cam kết.

- Để công tác phòng chống tham nhũng và thực hiện nghiêm túc Quyết định số 3203/QĐ-UB của UBND Thành phố về chống phiền hà sách nhiễu đối với nhân dân, hàng năm UBND quận đã chỉ đạo triển khai tập huấn, tuyên truyền pháp lệnh công chức cho cán bộ công chức, viên chức của quận; UBND quận đã ban hành quyết định số 1970/QĐ-UBND ngày 17/7/2006 V/v sử dụng thẻ cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan QLNN, đơn vị sự nghiệp thuộc UBND quận. Tuyên truyền, phổ biến Quy chế dân chủ trong cơ quan hành chính nhà nước. Ban chỉ đạo cải cách hành chính quận đã triển khai việc ký cam kết không gây phiền hà, sách nhiễu đến các trưởng, phòng, ban QLNN và chủ tịch UBND các phường thuộc quận.

2.3. Việc tự chủ về tài chính, biên chế, thực hiện trả lương qua tài khoản

- Việc cấp vốn ngân sách nhà nước: được công khai bằng kế hoạch cấp vốn cho các mục tiêu kinh tế, xã hội của quận ngay từ đầu năm dương lịch để các cấp, các ngành giám sát, thực hiện, tránh những tiêu cực nảy sinh trong công tác quản lí, cấp vốn ngân sách NN; các phòng, ban QLNN, các đơn vị sự nghiệp công khai minh bạch trong hoạt động thu, chi tài chính của đơn vị.

- Thực hiện chỉ đạo của UBND thành phố, UBND quận đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thuộc UBND quận thực hiện đổi mới phương thức trả lương bằng hình thức trả lương qua tài khoản. Đến nay, đã có 100% cơ quan, ban ngành, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn đã thực hiện.

2.4. Công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn v

Tại các cơ quan, đơn vị đã thực hiện việc công khai, minh bạch ở tất cả các hoạt động của từng cơ quan, đơn vị như: công khai minh bạch trong mua sắm trang thiết bị và xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư xây dựng, tài chính và ngân sách, việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân, việc quản lý và sử dụng các khoản viện trợ, trình tự thủ tục giải quyết công việc,... (trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ); thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, UBND quận đã xây dựng đề án và chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận, các đơn vị sự nghiệp triển khại thực hiện. Đến nay, tất cả các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp đều tổ chức thực hiện nghiêm túc.

Việc tổ chức thực hiện công khai, minh bạch của các cơ quan, đơn vị đã thực sự mang lại hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong giải quyết công việc của các cơ quan, đơn vị đã góp phần tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng.

- Ủy ban nhân dân quận dự toán thu chi ngân sách địa phương, báo cáo UBND thành phố trình HĐND thành phố quyết định. Chỉ đạo phòng Tài chính-Kế hoạch thông báo hướng dẫn cụ thể chi tiết về dự toán ngân sách đến từng cơ quan, UBND các phường để chủ động tổ chức thực hiện theo Luật ngân sách. Đã thực hiện đúng quy chế kiểm tra, thông báo dự toán để các đơn vị dự toán ngân sách thực hiện việc chi ngân sách theo dự toán được duyệt, đảm bảo nguyên tắc quản lý tài chính và theo Luật ngân sách quy định.

- Trên cơ sở dự toán ngân sách được phân bổ, hầu hết các cơ quan, các phường đã chi sử dụng ngân sách theo đúng chế độ, định mức, tiêu chuẩn quy định. Hàng năm, đã tổ chức thẩm định quyết toán ngân sách đối với các đơn vị dự toán ngân sách thuộc quận quản lý và các phường.

- Trong hoạt động mua sắm, quản lý sử dụng tài sản công, đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, các phường tổ chức thực hiện theo quy định. Đối với hàng hoá mua sắm mới thực hiện việc chào hàng cạnh tranh, đấu giá hàng hoá; đối với tài sản thanh lý thì tổ chức đấu giá để nộp vào ngân sách; tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ở, khu dân cư quy hoạch để tăng thu cho ngân sách địa phương, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo đúng quy định hiện hành của nhà nước.

- Vể kiểm tra chế độ, định mức, xử phạt vi phạm về chế độ định mức do phòng Tài chính – Kế hoạch quận thực hiện, kết quả cụ thể như sau:

Số đơn vị được kiểm tra về thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn: 20 đơn vị

Số đơn vị vi phạm: 0 đơn vị

2.5. Hoàn thiện và thực hiện các quy định về quản lý kinh tế, xã hội phục vụ công tác PCTN, lãng phí trong các hoạt động.

2.5.1. Việc cải cách hành chính

- Thực hiện cơ chế một cửa trong các lĩnh vực công chứng, chứng thực hành chính, cấp giấy phép kinh doanh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, chứng nhận về chính sách lao động thương binh xã hội và giải quyết việc làm… Đây là những lĩnh vực dễ gây phiền hà, sách nhiễu và tiêu cực. Từ khi bộ phận một cửa tại quận và các phường đi vào hoạt động đến nay góp phần cho việc thực hiện cải cách hành chính của quận đạt được kết quả khả quan, nhất định, nhân dân đồng tình, ủng hộ.

- Các phòng ban chức năng quản lý nhà nước quận và UBND các phường tiến hành kiểm tra, rà soát các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực thuộc ngành, địa phương quản lí để phát hiện và tham mưu đề xuất với cơ quan có thẩm quyền kịp thời loại bỏ các văn bản, thủ tục đã lạc hậu, rườm rà không còn phù hợp với quy định hiện hành và tình hình thực tế để thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010.

- Việc thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính được ban hành theo các quyết định số: 1207/QĐ-UBND ngày 29/6/2009; 1208/QĐ-UBND ngày 29/6/2009 của UBND thành phố Hải Phòng tính đến ngày 30/5/2011 đã đạt được kết quả như sau:

* Quận đã triển khai thực hiện tiếp nhận và giải quyết hồ sơ áp dụng theo bộ thủ tục hành chính dùng chung tại: 12 lĩnh vực (từ 2006 đến tháng 6/2011), kết quả:

+ Tiếp nhận 8.308 hồ sơ

+ Đã giải quyết: 8.237 hồ sơ

+ Chưa giải quyết: 71 hồ sơ

* Phường đã triển khai tiếp nhận và giải quyết hồ sơ áp dụng theo bộ thủ tục hành chính dùng chung tại: 11 lĩnh vực (từ 2006 đến tháng 6/2011), kết quả:

+ Tiếp nhận 34.723 hồ sơ

+ Đã giải quyết: 34.688 hồ sơ

+ Chưa giải quyết: 35 hồ sơ



2.5.2. Công tác phòng ngừa trong quản lý đu tư xây dựng:

Trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện đúng theo trình tự thủ tục quy định các văn bản pháp luật về xây dựng từ khâu chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn kết thúc đầu tác

- Công tác chuẩn bị đầu tư: Các dự án được lập được căn cứ trên cơ sở quy hoạch và quyết định phê duyệt đầu tư. Các quyết định phê duyệt dự án đều được căn cứ trên cơ sở thẩm tra hồ sơ dự toán thiết kế công trình. Quá trình đấu thầu và lựa chọn nhà thầu căn cứ luật đầu thầu và các Nghị định của Chính phủ quy định. Quá trình đấu thầu được thực hiện theo đúng trình tự từ khâu thông báo mời thầu, bán hồ sơ mời thầu và xét thầu được thực hiện rộng rãi, công khai và dân chủ. Trong quá trình chấm, xét thầu căn cứ theo các tiêu chí của hồ sơ mời thầu của gói thầu để đánh giá và áp dụng đúng theo luật đấu thầu, Nghị định 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008; 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng để lựa chọn nhà thầu đề nghị trúng thầu. Các công trình chỉ định thầu được thực hiện đối với các công trình theo quy định của luật đấu thầu. Quá trình chỉ định thầu được thực hiện theo các bước trình tự quy định.

- Về công tác giải phóng mặt bằng căn cứ vào quy mô công trình và quyết định đầu tư để thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, đền bù hợp lý. Thực hiện theo đúng thủ tục và trình tự quy định từ khâu chiết tính khối lượng đền bù, lập phương án GPMB, áp giá đền bù, thông báo đền bù và chi trả đền bù.

- Công tác tư vấn giám sát: Căn cứ các Nghị định 209/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình và Nghị định 49/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 209/2004/NĐ-CP, công tác tư vấn giám sát được thực hiện nghiêm ngặt, đảm bảo quá trình thi công và khối lượng thi công đúng theo dự toán thiết kế đã được phê duyệt. Đồng thời làm cơ sở cho quá trình nghiệm thu và đưa công trình vào sử dụng đảm bảo chất lượng.

- Công tác nghiệm thu: Căn cứ quá trình thi công và tư vấn giám sát, tùy theo quy mô công trình, công tác nghiệm thu cũng được thực hiện theo trình tự, từ công tác nghiệm thu từng hạng mục công việc và giai đoạn thi công đến nghiệm thu tổng thể làm căn cứ để giải ngân vốn cho nhà thầu và thanh quyết toán vốn nghiệm thu công trình.

- Công tác kết thúc đầu tư đưa công trình vào sử dụng: Công trình được bàn giao cho đơn vị quản lý và đưa vào sử dụng khi đã được nghiệm thu hoàn thành, thực hiện công tác bảo hành công trình theo quy định. Căn cứ các hồ sơ từ quá trình lập dự án đến hồ sơ nghiệm thu hoàn thành công trình, hồ sơ hoàn công để lập báo cáo quyết toán vốn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2.5.3. Công tác quản lý đt đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Đã thực hiện nghiêm túc chủ trương cải cách hành chính trong việc công khai trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ như:

Thực hiện công khai hoá về trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết các thủ tục về đất đai; công khai các khoản thu về phí, lệ phí, các khoản thu về tiền sử dụng đất.

Xác định việc giải quyết các thủ tục hành chính về đất đai cho nhân dân là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, do đó đã tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn đến cụ thể, chi tiết, nhiệt tình cho nhân dân lập thủ tục, không gây phiền hà, sách nhiễu và thường xuyên kiểm tra, đốn đốc cơ sở thực hiện một cách nghiêm túc.



2.6. Việc phát hiện và xử lí hành vi tham nhũng:

2.6.1. Công tác giải quyết đơn tố cáo hành vi tham nhũng:

Từ năm 2006-6/2011 UBND quận Hải An đã nhận, thụ lý giải quyết: 5 đơn thư tố cáo có dấu hiệu liên quan đến tham nhũng.

Tuy nhiên qua kiểm tra, xác minh chưa phát hiện thấy hành vi tham ô, tham nhũng.

Sau kết quả thanh tra, kiểm tra Quận ủy; UBND quận đã tiến hành các bước để xử lý các vi phạm về đất đai, kinh tế, cụ thể: đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách với tổng số tiền là 476.505.000 đồng; Xử lý kỷ luật cán bộ, công chức vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.



2.6.2. Điều tra, truy tố, xử lý các hành vi tham nhũng:

- Các hành vi có dấu hiệu tham nhũng được phát hiện qua hoạt động thanh tra, kiểm tra đã được UBND quận chuyển các cơ quan chức năng tập trung điều tra để xử lý theo pháp luật đó là 01 vụ việc xử lý đơn tố cáo của bà Hoàng Mai Phương - trú tại Quán Toan, Hồng Bàng, Hải Phòng. Tố cáo ông Đoàn Văn Mong – Nguyên trưởng phòng Nội Vụ quận. UBND quận đã chỉ đạo Công an quận điều tra, làm rõ, báo cáo quận xử lý theo thẩm quyền.

- Bên cạnh đó, UBND quận đã chỉ đạo Thanh tra quận tổ chức nhiều cuộc thanh tra trên các lĩnh vực quản lý ngân sách tại các phường và quản lý kinh tế xây dựng cơ bản, đất đai…... Tuy chưa phát hiện hành vi tham nhũng nhưng cũng đã phát hiện một số sai sót, tồn tại, khuyết điểm trong công tác quản lý và đã có kiến nghị các đơn vị được thanh tra khắc phục, sửa chữa để đảm bảo đúng quy định của Pháp luật.

3. Những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

3.1. Những hạn chế, yếu kém

1. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở một số địa phương, đơn vị còn nhiều hạn chế. Nhiều cơ quan, đơn vị và người đứng đầu chưa coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của cơ quan, đơn vị; chưa tập trung chỉ đạo và chưa có kế hoạch hành động cụ thể, vì vậy không phát huy hết tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức và nhân dân trong việc phát hiện những sai phạm của tổ chức, cá nhân và kể cả phát hiện tội phạm. Hầu hết các vụ việc tham nhũng là do các cơ quan chức năng và nhân dân phát hiện.

2. Việc chuyển đổi vị trí công tác ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tuy đã có kết quả cụ thể nhất định song còn nhiều hạn chế về tính chuyên sâu trong công tác chuyên môn. Một số lãnh đạo không muốn xáo trộn cán bộ chuyên môn đã có văn bản đề nghị tạm hoãn hoặc không chuyển đổi.

3. Tại một số đơn vị chưa hiểu đủ, hiểu đúng về chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền đối với công tác đôn đốc kê khai, xác minh, lưu trữ, báo cáo và nộp bản kê khai còn chậm về thời gian chưa đảm bảo đúng yêu cầu, quy định đặt ra.

4. Các bộ phận phòng chống tham nhũng, lãng phí của các cơ quan, đơn vị và các phường họat động chưa thực sự hiệu quả, chưa có kế hoạch cụ thể, phù hợp với địa phương, đơn vị. Chưa thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo một cách thường xuyên theo quy chế.

5. Công tác thanh tra, kiểm tra tại cơ sở, đơn vị thực hiện vẫn còn mang tính hình thức, chưa coi công tác này là trách nhiệm, nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị, địa phương mình nên vẫn để xảy ra vi phạm.

6. Chưa phát huy hết vai trò của các đoàn thể và nhân dân trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí. Việc kết hợp công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí với công tác thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và công tác phòng chống tội phạm còn một số hạn chế nhất định.

3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:

1. Chống tham nhũng là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước nhưng lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa quán triệt sâu sắc đến cán bộ, đảng viên để nâng cao nhận thức nhằm đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

2. Sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường phần nào đã làm tha hóa về đạo đức, lối sống của một số đảng viên, cán bộ, công chức, từ đó dẫn đến nảy sinh các việc làm tiêu cực, vi phạm pháp luật.

3. Việc quản lý và giám sát kinh tế tài chính ở một số đơn vị, địa phương còn lỏng lẻo, nhất là người đứng đầu đơn vị đây là điều kiện dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng.

4. Việc công khai minh bạch trong hoạt động của các đơn vị, tổ chức chưa thật sự sâu sắc, hiệu quả, mang nặng tính hình thức dẫn đến làm giảm khả năng giám sát của quần chúng nhân dân.

5. Hạn chế trong công tác thống kê số liệu, báo cáo PCTN, kê khai, minh bạch tài sản thu nhập là do các đơn vị, tổ chức không có cán bộ chuyên trách, đa phần là kiêm nhiệm.



3.3. Bài học kinh nghiệm

Cần lãm rõ ràng hơn, xử lý triệt để sau thanh tra để vừa mang tính răn đe vừa mang tính phòng ngừa, đồng thời nâng cao nhận thức, tạo niềm tin trong quần chúng nhân dân.

Kinh nghiệm cho thấy minh bạch triệt để đối với công tác thanh tra kinh tế xã hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tạo ra hiệu quả rất lớn về xã hội trong chiến lược toàn dân phòng chống tham nhũng.

Tăng cường tuyên truyền phổ biến sâu về pháp luật phòng, chống tham nhũng. Xử phạt nghiêm minh triệt để đối với một số nơi một số địa phương có vi phạm

Tăng cường minh bạch hóa nhiệm vụ, kế hoạch công tác, quy trình thủ tục giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị để cán bộ và nhân dân giám sát thực hiện, đẩy lùi, thu hẹp phạm vi hoạt động tham nhũng, lãng phí.

4. Đánh giá chung

- Việc thực hiện nghiêm túc quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức đã tạo được niềm tin cho người dân khi đến với các cơ quan công quyền của quận, nâng cao ý thức trách nhiệm của lãnh đạo, cán bộ, công chức góp phần xây dựng nền hành chính trong sạch, lành mạnh, loại bỏ những tiêu cực của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ.

- Trong giai đoạn 2006 - 6/2011, tình hình kinh tế - xã hội của thành phố nói chung và của quận nói riêng có những bước phát triển đáng kể, tốc độ đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Cũng chính tốc độ phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hoá mà mặt trái của nó là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, ... phát sinh theo. Song nhờ sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Quận ủy; UBND quận Hải An chỉ đạo gắn việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X vào chương trình kế hoạch hoạt động của mình trong từng giai đoạn, từng năm, đề ra chương trình, kế hoạch; gắn việc thực hiện nghị quyết trên trong chương trình hành động cụ thể trên các lĩnh vực công tác: QLNN; QLXH; phòng chống tham nhũng, cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân dân của Quận nên công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng trên địa bàn Quận đã đạt được kết quả khả quan và từng bước hạn chế, ngăn chặn tình trạng tham nhũng.

Mặt khác, căn cứ vào chương trình kế hoạch về công tác chống tham nhũng, lãng phí, buôn lậu, gian lận thương mại hàng năm, UBND quận đã chỉ đạo các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể quần chúng tổ chức triển khai thực hiện pháp luật phòng chống tham nhũng và đã đạt được một số kết quả nhất định, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vụ việc tiêu cực, lãng phí, phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế, tài chính, đất đai, xây dựng cơ bản, quản lý xã hội để chủ động các biện pháp khắc phục.



II. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội của quận, trong thời gian tới cần phải tập trung làm tốt những nội dung sau:

1. Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục khó khăn và các tồn tại, kiên quyết xử lý khi phát hiện các hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để tham nhũng, quyết tâm thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí trên địa bàn quận.

2. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền, quán triệt Luật phòng chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Khiếu nại, tố cáo;… Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tham nhũng cho tất cả các cán bộ, đảng viên và nhân dân; biểu dương, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích, khắc phục tình trạng khen thưởng theo hình thức, cơ cấu.

3. Tăng cường chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa X). Thực hiện tốt quy chế chi tiêu nội bộ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Thực hiện tốt việc công khai tài chính, thu chi ngân sách ở phường; phát huy có hiệu quả vai trò các đoàn thể nhân dân, thanh tra nhân dân trong công tác hòa giải các tranh chấp, khiếu kiện trong nhân dân, đấu tranh phòng chống tội phạm, chống tham nhũng, buôn lậu.

4. Xây dựng và triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, chú trọng các đơn vị có nhiều công trình xây dựng cơ bản, vốn đầu tư lớn, quản lý chặt chẽ đất công, nguồn vốn vay xoá đói giảm nghèo, việc thu, sử dụng phí và lệ phí ở các phường, cơ quan, đơn vị... Tập trung chỉ đạo giải quyết có kết quả khiếu nại, tố cáo của công dân. Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên các lĩnh vực, chú trọng trong lĩnh vực nhà đất, cấp phép xây dựng từ quận đến phường.

5. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật để tăng cường kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời phương thức, thủ đoạn họat động của các đối tượng phạm pháp. Chú ý nắm chắc diễn biến trên các lĩnh vực trọng điểm như đất đai, đền bù giải toả, xây dựng cơ bản, ... Tổ chức quản lý chặt chẽ và bảo vệ tốt tài sản của Nhà nước, chú trọng các nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các dự án đầu tư, kiên quyết thu hồi công nợ, chấn chỉnh ngay những việc làm sai trong quản lý ngân sách và quản lý đất đai trên địa bàn quận (nếu có).

6. Tiếp tục giải quyết dứt điểm những kết luận thanh tra, nếu vụ việc có dấu hiệu phạm tội, đề nghị chuyển cơ quan điều tra khởi tố, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

7. Tăng cường công tác kiểm tra chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm, chống tham nhũng buôn lậu của các đơn vị cơ sở.

III. CÁC KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:

Đề nghị Ban chỉ đạo về phòng chống tham nhũng thành phố và các ngành chức năng thành phố thường xuyên tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để hướng dẫn, chỉ đạo quận triển khai thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng hàng năm.

Trên đây là báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa X) khối Ủy ban nhân dân quận giai đoạn 2006-6/2011, UBND quận báo cáo và kính đề nghị Quận ủy, Ban chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng thành phố tiếp tục quan tâm chỉ đạo để công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ngày một tốt hơn, nhằm góp phần đảm bảo tình hình an ninh chính trị, phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn.


Nơi nhận:

- BCĐ PCTN TP;

- Thường trực Quận ủy;

- CT, PCT UBND quận;



- Lưu VT.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

Phạm Văn Hưởng


THỐNG KÊ MỘT SỐ KẾT QUẢ CÔNG TÁC

PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

(Kèm theo báo cáo số 88/BC-UBND ngày 01/8/2011)


STT

NỘI DUNG

ĐƠN VỊ TÍNH

SỐ LIỆU

I

Lãnh đạo chỉ đạo công tác PCTN

 

 

1

Ban hành văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN

 

8

II

Quán triệt, tuyên truyền, truyền thông, tập huấn về PCTN

 

 

1

Số cuộc tuyên truyền, quán triệt, tập huấn về PCTN

 

30

2

Số lượt cán bộ, công chức, viên chức tham dự

 

5.000

3

Số lượt người dân, người lao động được tuyên truyền, quán triệt về PCTN

 

4.500

4

Số tin, bài về PCTN, LP đã phát

 

430

III

Rà soát ban hành văn bản về PCTN

 

 

1

Số lượng văn bản được rà soát

 

8

2

Số lượng văn bản được sửa đổi bổ sung

 

0

3

Số lượng văn bản được hủy bỏ, thay thế

 

0

4

Số lượng văn bản được ban hành mới

 

8

5

Số lượng các văn bản được kiến nghị cấp có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ

 

0

IV

Thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng

 

 

1

Số cơ quan, tổ chức, đơn vị (gọi chung là đơn vị) được kiểm tra về công khai, minh bạch trong hoạt động

 

58

2

Số đơn vị được phát hiện vi phạm

 

0

3

Số đơn vị được kiểm tra về quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp

 

99

4

Số đơn vị vi phạm

 

0

5

Số đơn vị được kiểm tra về thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn

 

20

6

Số đơn vị vi phạm

 

0

7

Số đơn vị trực thuộc đã lập danh sách vị trí công tác phải chuyển đổi theo nghị định 158/2007/NĐ-CP

lượt đơn vị

240

8

Số người đã chuyển đổi vị trí công tác để phòng ngừa tham nhũng

 

92

9

Số người nộp lại quà tặng

 

0

10

Số người bị phát hiện vi phạm quy định về nhận quà, tặng quà

 

0

11

Số người được kiểm tra, xác minh về kê khai tài sản, thu nhập

 

0

12

Số người bị phát hiện vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập

 

0

V

Công tác kiểm tra, thanh tra nhằm phát hiện tham nhũng

 

 

1

Số cuộc thanh tra, kiểm tra kinh tế - xã hội đã được tiến hành

 

37

2

Số cuộc thanh tra, kiểm tra về PCTN

 

4

3

Giá trị thiệt hại được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra

 

476.505

4

Giá trị tài sản tham nhũng được phát hiện qua thanh tra, kiểm tra

 

0

5

Diện tích đất đai bị vi phạm được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra

 

193

6

Số đối tượng có hành vi tham nhũng được phát hiện qua công tác thanh tra, kiểm tra

 

8

7

Số đối tham nhũng bị xử lý hành chính

 

7

8

Số đối tượng có hành vi tham nhũng được chuyển cho các cơ quan pháp luật điều tra, xử lý theo quy đình của Bộ luật Hình sự

 

1

VI

Công tác điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng

 

 

1

Số bị can/ số vụ án tham nhũng đã bị khởi tố, điều tra

 

0

2

Số bị can/ vụ án tham nhũng đã được tòa án xét xử

 

0

3

Số bị cáo/ vụ án tham nhũng đã được Tòa án xét xử

 

0

4

Giá trị tài sản được phát hiện qua công tác điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng

 

0

5

Giá trị tài sản tham nhũng được thu hồi

 

0

6

Diện tích đất đai bị vi phạm được phát hiện qua công tác điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng

 

0

7

Diện tích đất đai bị tham nhũng được thu hồi

 

0

8

Số người đứng đầu bị xử lý do để xảy ra tham nhũng trong đơn vị

 

0





Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương