Cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập – Tự do – Hạnh phúc


III. Những quy định của Luật chưa phù hợp, cần sửa đổi



tải về 0.64 Mb.
trang4/7
Chuyển đổi dữ liệu10.11.2017
Kích0.64 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

III. Những quy định của Luật chưa phù hợp, cần sửa đổi

1. Về giải thích từ ngữ


Một số từ ngữ sử dụng trong Luật còn thiếu, chưa đầy đủ, chưa rõ nghĩa cần chỉnh sửa, bổ sung (như: bổ sung khái niệm “Đề - pô”, “Nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu”; “Kết cấu hạ tầng đường sắt trực tiếp liên quan đến chạy tàu”; “Kết cấu hạ tầng đường sắt không trực tiếp liên quan đến chạy tàu”. Làm rõ nghĩa khái niệm “nút giao khác mức”, “Công trình đường sắt”; “Đường ngang”; “Nút giao cùng mức đường sắt”).

2. Về các hành vi bị nghiêm cấm


- Tại khoản 18 Điều 12 của Luật Đường sắt 2005 quy định “Nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu trong khi làm nhiệm vụ có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở” là không hợp lý, không đảm bảo an toàn chạy tàu.

- Thực tế khi nồng độ cồn “40 miligam/1lít khí thở”, con người đã ở trạng thái say xỉn. Luật Giao thông đường bộ quy định: người điều khiển phương tiện với nồng độ cồn “0,25 miligam/1 lít khí thở” là đã vi phạm. Mặt khác trong Luật chưa quy định về việc cấm sử dụng các chất kích thích khác theo quy định của pháp luật khi đang làm nhiệm vụ.

- Trên thế giới đa số các Luật Giao thông đều quy định cấm sử dụng chất kích thích hoặc có nồng độ cồn khi đang làm nhiệm vụ.

- Vì vậy đề xuất quy định cấm nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu trong khi làm nhiệm vụ mà sử dụng chất kích thích hoặc có nồng độ cồn trong máu hoặc trong khí thở.


3. Quản lý kết cấu hạ tầng đường sắt

3.1. Quản lý đất dành cho đường sắt


3.1.1. Về các chủ thể được giao quản lý đất dành cho đường sắt

a) Theo quy định tại Luật Đường sắt 2005, các chủ thể được giao quản lý đất dành cho đường sắt bao gồm:

- Ủy ban nhân dân các cấp: Quản lý đất dành cho đường sắt đã được quy hoạch (điểm b, khoản 3, Điều 17); tổ chức phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi xâm phạm kết cấu hạ tầng đường sắt (khoản 3, Điều 36).

- Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt: Chỉ được giao bảo vệ công trình đường sắt (khoản 1, Điều 36).

- Các Bộ, ngành: Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải quản lý khai thác tài nguyên thuộc phạm vi đất dành cho đướng sắt (khoản 4, Điều 7); Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công An, Bộ Quốc phòng tổ chức bảo vệ công trình đường sắt đặc biệt quan trọng (khoản 5, Điều 36).

b) Tồn tại, bất cập và nguyên nhân

Theo quy định của Luật Đường sắt 2005 mới chỉ giao cho Ủy ban nhân dân các cấp quản lý đất theo quy hoạch. Đối với đất dành cho đường sắt chưa giao cho chủ thể cụ thể để quản lý. Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt được nhà nước giao tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt nhưng lại không được giao nghĩa vụ phải quản lý đất dành cho đường sắt (là một phần thuộc kết cấu hạ tầng đường sắt).

Trong tương lai khi thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về XHH đầu tư kết cấu hạ tầng đường sắt sẽ xuất hiện nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng đường sắt. Nếu để cho doanh nghiệp là chủ quản lý, sử dụng, khai thác đất dành cho đường sắt như hiện nay sẽ cản trở lớn đối với việc kêu gọi XHH đầu tư, không đảm bảo cạnh tranh bình đẳng đối với các doanh nghiệp khi tham gia đầu tư.

c) Quy định tại một số luật trong nước và kinh nghiệm quốc tế

Theo Hiến pháp 2013 (Điều 53) quy định: tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Đối với kết cấu hạ tầng đường sắt và đất dành cho đường sắt thì Bộ GTVT thay mặt Nhà nước là chủ sở hữu, quản lý, sử dụng khối tài sản này.

Đất dành cho xây dựng công trình đường sắt là đất công trình công cộng theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 10 của Luật Đất đai 2013.

- Hiện nay, đối với lĩnh vực Hàng không, Luật Đất đai 2013 (Điều 156) đã quy định việc giao đất cho cơ quan quản lý nhà nước quản lý đất dành cho cảng, sân bay hàng không.

Trong lĩnh vực đường bộ đã quy định nội dung quản lý, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, trong đó có nội dung quản lý nhà nước về tài sản này.

Theo kinh nghiệm các nước trên thế giới: Tại điều 12 của Luật Đường sắt Mông Cổ quy định về quyền của cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ đại diện cho nhà nước liên quan đến sử dụng tài sản nhà nước.

d) Đề xuất

Từ thực tiễn và để giải quyết các tồn tại, bất cập nêu trên, đề xuất bổ sung mới nội dung quy định trong Dự thảo Luật Đường sắt như sau:

- Cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức quản lý, sử dụng đất dành cho đường sắt tại ga và được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt có trách nhiệm trực tiếp sử dụng, khai thác đất dành cho đường sắt khi được cơ quan quản lý nhà nước giao.

- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý đất dành cho đường sắt theo quy hoạch. Có trách nhiệm chủ trì bảo vệ, ngăn chặn các hành vi vi phạm đất dành cho đường sắt, đất tại các tuyến, ga đường sắt đang khai thác.

Việc giao quyền quản lý, sử dụng đất cho cơ quan quản lý nhà nước sẽ đạt được mục tiêu sau:

- Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai 2013.

- Cơ quan quản lý nhà nước sẽ thống nhất quản lý quy hoạch đất dành cho đường sắt đồng bộ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Doanh nghiệp có nghĩa vụ khai thác, kinh doanh đất dành cho đường sắt theo đúng quy hoạch.

- Đảm bảo tính cạnh tranh, bình đẳng cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư tham gia XHH đầu tư.

- Việc quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đường sắt, doanh nghiệp và ủy ban nhân dân các cấp đối với đất dành cho đường sắt theo quy hoạch sẽ giúp cho việc khai thác hiệu quả quỹ đất; hạn chế được việc sử dụng đất không đúng mục đích, lấn chiếm đất.

4.1.2. Về việc sử dụng đất dành cho đường sắt

a) Theo quy định tại Luật Đường sắt 2005

- Đất dành cho đường sắt phải sử dụng đúng mục đích (khoản 2, Điều 17).

- Đất trong hành lang an toàn giao thông đường sắt chỉ được phép trồng cây thấp dưới 1,5 m và phải trồng cách mép chân nền đường đắp ít nhất 2 m, cách mép đỉnh mái đường đào ít nhất 5 m hoặc cách mép ngoài rãnh thoát nước dọc của đường, rãnh thoát nước đỉnh ít nhất 3 m (khoản 3, Điều 35).

- Khi bắt buộc phải xây dựng công trình trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt phải được cấp phép theo quy định của Bộ trưởng Bộ GTVT (khoản 1, Điều 33).

b) Tồn tại, bất cập và nguyên nhân

Với quy định nêu trên, dẫn đến:

- Gây lãng phí đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt. Trong khi đó, thực tế có thể kinh doanh đất trong phạm vi này như: chôn cáp quang đi ngầm, cắm biển quảng cáo tại những vị trí không ảnh hưởng đến an toàn chạy tàu… phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt.

- Luật Đường sắt 2005 quy định về phạm vi bảo vệ công trình đường sắt bị trùng lặp với một phần hành lang an toàn giao thông đường sắt.

- Mặt khác, Luật đường sắt 2005 chưa quy định tại các ga đường sắt, ngoài việc xây dựng các công trình trực tiếp phục vụ chạy tàu thì được phép xây dựng trung tâm thương mại tích hợp với nhà ga để khai thác tối đa đất dành cho đường sắt tại ga, thu hút các nhà đầu tư tham gia đầu tư kinh doanh khai thác chung với nhà ga này, giảm ngân sách cho nhà nước.

c) Kinh nghiệm tại một số nước trên thế giới

Thực tế hiện nay tại các ga lớn trên đường sắt như một số nước: Hàn Quốc, Nhật Bản… đều có các tổ hợp trung tâm thương mại xây dựng cùng với nhà ga.

d) Đề xuất trong Dự thảo như sau

- Từ thực tiễn và để giải quyết các tồn tại, bất cập nêu trên, đề xuất bổ sung mới nội dung quy định trong Dự thảo Luật Đường sắt như sau:

- Cho phép xây dựng các công trình trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường sắt mà không ảnh hưởng đến an toàn giao thông vận tải đường sắt như đã phân tích để khắc phục tồn tại trên.

- Cho phép xây dựng các trung tâm thương mại tại các nhà ga.

- Cho phép các công trình thiết yếu phục vụ an ninh quốc phòng, kinh tế xã hội trong phạm vi đất dành cho đường sắt.

Quy định bổ sung đối với trường hợp xây dựng các công trình trong phạm vi đất dành cho đường sắt như đề xuất trên sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư đầu tư vào các khu ga, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và tăng thu cho ngân sách nhà nước.

3.1.3 Quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt, bảo trì công trình đường sắt

a) Hiện trạng, tồn tại bất cập

- Luật Đường sắt 2005 chưa quy định rõ ràng các chủ thể trong công tác quản lý nhà nước về tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt và chủ thể trực tiếp quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt.

- Tại các ga đường sắt, doanh nghiệp được cấp quyền sử dụng đất.

- Hiện nay, Tổng công ty ĐSVN đang thực hiện tái cơ cấu, cổ phần hóa các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. Trong tương lai gần sẽ tiếp tục thực hiện thoái vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp này để tăng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đồng thời,sẽ có nhiều nhà đầu tư ngoài nhà nước tham gia vào lĩnh vực quản lý, bảo trì, kinh doanh đường sắt. Việc tách bạch vai trò, chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt là vấn đề cấp thiết.

b) Tham khảo một số Luật và các lĩnh vực giao thông khác

- Theo đạo luật khung về phát triển công nghiệp Hàn Quốc (2009) có các Điều: 19, 20, 26, 27quy định về chủ thể xây dựng và quản lý các công trình đường sắt; bảo dưỡng và sửa chữa, duy trì các điều kiện thích hợp cho các điều kiện thích hợp cho các thiết bị/công trình đường sắt là Bộ trưởng Bộ Đất đai, Giao thông và Hàng hải.

- Theo Luật Đường sắt Mông Cổ (2007) tại Điều 12 quy định: Cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về vận tải đường sắt thực hiện nhiệm vụ đại diện nhà nước theo quy định của pháp luật và các điều ước quốc tế trong các hoạt động liên quan đến việc sử dụng tài sản nhà nước trong lĩnh vực vận tải đường sắt .

- Theo Điều 6 của Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp (2014) quy định về hình thức đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp thì vốn nhà nước đầu tư để hình thành tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt không thuộc trường hợp này. Do đó, vốn nhà nước đầu tư để hình thành tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt không giao cho doanh nghiệp quản lý.

- Theo Điều 200 và 201 Bộ Luật Dân sự không quy định giao tài sản KCHTĐS cho doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ quản lý, bảo trì, khai thác.

- Theo quy định tại Điều 4 của Luật Đất đai “đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.

- Trong lĩnh vực hàng không dân dụng:

+ Tại Điều 59, 60 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam có quy định “cơ quản lý nhà nước (Cảng vụ hàng không) quản lý tài sản kết cấu hạ tầng tại các Cảng hàng không”;

+ Điều 156 Luật Đất đai 2013 quy định “Cảng vụ hàng không có trách nhiệm quản lý đất dành cho hàng không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch cảng hàng không. Doanh nghiệp chỉ sử dụng, khai thác đất dành cho hàng không khi được Cảng vụ hàng không giao hoặc cho thuê đất”.

+ Do trong lĩnh vực hàng không hiện nay không dùng ngân sách nhà nước để bảo trì mà doanh nghiệp tự bỏ vốn để bảo trì đặc biệt tại đường băng. Vì vậy, Cảng vụ hàng không thực hiện quản lý nhà nước như kiểm tra, giám sát định kỳ bảo trì, tiêu chuẩn, chất lượng hạ tầng sau bảo trì.

- Trong lĩnh vực đường bộ:

+ Tài sản hạ tầng đường bộ do nhà nước đầu tư đã được giao cho Bộ GTVT, Ủy ban nhân dân các cấp quản lý;

+ Vốn bảo trì KCHT đường bộ do nhà nước đầu tư hiện nay do Tổng cục Đường bộ Việt Nam là đơn vị trực tiếp quản lý. Doanh nghiệp trực tiếp thực hiện bảo trì theo hợp đồng với Tổng cục Đường bộ Việt Nam;

+ Có hai Tổng công ty 100% vốn nhà nước được giao nhiệm vụ đầu tư, kinh doanh khai thác KCHT đường bộ là Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và Tổng công ty Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cửu Long. Các đơn vị này được trực tiếp vay vốn để đầu tư và khai thác KCHT đường bộ. Những tài sản này thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp có toàn quyền quản lý khai thác.

- Trong lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa:

+ Đối với kết cấu hạ tầng đường sắt được đầu tư bằng ngân sách nhà nước được giao cho Cục Hàng hải Việt Nam, Cục Đường thủy nội địa Việt Nam trực tiếp tổ chức quản lý, bảo trì KCHT: quản lý vốn, tổ chức lựa chọn nhà thầu thực hiện bảo trì, kiểm tra, giám sát công tác bảo trì của các nhà thầu theo hợp đồng;

+ Đối với kết cấu hạ tầng đường sắt do các nhà đầu tư, doanh nghiệp đầu tư thì công tác quản lý, bảo trì do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện. Khi đó, cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra sự phù hợp với tiêu chuẩn, chất lượng công trình sau bảo trì.

c) Đề xuất phương án giải quyết



* Quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt:

- Về chủ thể quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt do Nhà nước đầu tư:

- Bộ Giao thông vận tải thực hiện chức năng chủ sở hữu, tổ chức quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng chủ sở hữu, tổ chức quản lý tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt đô thị.

- Chủ thể trực tiếp sử dụng, khai thác, kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt: Doanh nghiệp kinh doanh kết cấu hạ tầng đường sắt được giao, cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt do nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức, cá nhân tự quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt do mình đầu tư theo quy định của pháp luật.

- Giao Chính phủ quy định quản lý, sử dụng tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt do nhà nước đầu tư.

* Bảo trì công trình đường sắt:

- Bảo trì công trình đường sắt do Nhà nước đầu tư:

+ Bộ Giao thông vận tải: Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động bảo trì công trình đường sắt quốc gia; Quy định việc bảo trì công trình đường sắt quốc gia, đường sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia;

+ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các hoạt động bảo trì công trình đường sắt đô thị; Quy định việc bảo trì công trình đường sắt đô thị;

+ Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đường sắt có trách nhiệm trực tiếp tổ chức bảo trì kết cấu hạ tầng đường sắt.

+ Doanh nghiệp trực tiếp thực hiện bảo trì công trình đường sắt theo hợp đồng với cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành.

- Tổ chức, cá nhân tự bảo trì công trình đường sắt do mình đầu tư theo quy định của pháp luật.

4. Đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường sắt


- Đối với UBND các cấp: Tại khoản 3, Điều 7; khoản 3, Điều 8; khoản 2, Điều 10 và Điều 82 của Luật ĐS 2005 đều quy định trách nhiệm trong việc đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường sắt nhưng không quy định trách nhiệm cho cấp cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

- Đối với doanh nghiệp: Tại khoản 1, Điều 10; Điều 80 đã quy định trách nhiệm của Doanh nghiệp kinh doanh đường sắt chủ trì phối hợp với các cơ quan công an trong việc đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường sắt.

- Đối với các Bộ, ngành: Tại Điều 7, Điều 10, Điều 81 đều giao cho các Bộ: Công An, Giao thông vận tải, Tài nguyên và Môi trường, Giáo dục và Đào tạo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có trách nhiệm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường sắt; tại Điều 9 quy định Thanh tra đường sắt thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, đảm bảo an toàn giao thông đường sắt.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương