Cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập – Tự do –Hạnh phúc    thuyết minh dự ÁN ĐẦu tư trồng cây dưỢc liệU



trang2/11
Chuyển đổi dữ liệu22.12.2018
Kích1 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Kết luận: Mặc dù hiện tại nền kinh tế chung đang gặp nhiều khó khăn, bất ổn về thời tiết nhưng lương thực và sức khỏe luôn là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, hai lĩnh vực này luôn nằm trong chính sách phát triển đất nước của Chính phủ. Vì vậy, dự án Trồng cây dược liệu kết hợp trồng các loại rau sạch ngắn ngày tại huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh phù hợp với môi trường vĩ mô và mục tiêu phát triển của đất nước. Đây là căn cứ để xác định tính cấp thiết của dự án nhằm bảo đảm an ninh lương thực, an ninh y tế.
II.1.2. Ngành dược liệu

     Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 10,350 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2,000 loài tảo. Kết quả điều tra, cả nước ghi nhận được 3,948 loài thực vật và nấm lớn có thể sử dụng làm thuốc, trong đó có hàng chục loại có giá trị chữa bệnh cao.

Tổng sản lượng dược liệu ở Việt Nam hằng năm ước tính khoảng từ 3 - 5 nghìn tấn. Một số dược liệu quý đã được thế giới công nhận và có tiềm năng phát triển rất lớn như: hồi, trinh nữ hoàng cung, quế, atisô, sâm Ngọc Linh, tràm, thanh hao hoa vàng, hoa hòe...Tuy nhiên, trong một thời gian dài, do thiếu sự khảo sát đánh giá, điều tra và bảo vệ nên vùng phân bố tự nhiên của nhiều loại cây thuốc bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác một cách cạn kiệt. Nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú nay đã hoàn toàn bị phá bỏ như khu vực núi Hàm Rồng (Sa Pa, Lào Cai); cao nguyên An Khê (thuộc hai tỉnh Gia Lai và Bình Ðịnh)..., thậm chí nhiều loại có nguy cơ tuyệt chủng. Hiện nay có 144 loài cây thuốc diện quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn: sâm Ngọc Linh (một trong bốn loại sâm giá trị nhất thế giới), sâm Vũ Diệp, tam thất hoang, đảng sâm, ba kích, thanh mộc hương, bách hợp.

Mặc dù là một đất nước có nguồn dược liệu phong phú nhưng ngành dược liệu của nước ta chưa phát triển vì chúng ta chưa có ngành công nghiệp về dược liệu mạnh để có thể sơ chế, chế biến, bảo quản tốt. Nguồn dược liệu kém chất lượng khiến nhu cầu tiêu thụ giảm làm nông dân và doanh nghiệp kinh doanh dược liệu đều gặp khó khăn. Ngoài ra, nguồn dược liệu chất lượng kém từ biên giới nhập khẩu không kiểm soát có giá rẻ hơn trong nước cũng làm cho nông dân và doanh nghiệp kinh doanh dược liệu khốn khó... Hơn nữa, mặc dù nhiều địa phương có đầy đủ các điều kiện để trồng trọt dược liệu có giá trị cao, nhưng do cách làm manh mún, tự phát, thiếu liên kết và thị trường dược liệu không ổn định nên việc phát triển các vùng dược liệu hiện nay không thuận lợi.

Để vực dậy ngành dược liệu, Chính phủ, Bộ Y tế đã có nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ ngành dược liệu trong nước. Bản thân các doanh nghiệp dược liệu đã và đang thực hiện quản lý chất lượng sản xuất dược liệu theo tiêu chuẩn thực hành nuôi trồng, thu hái và sản xuất tốt. Hiện cả nước có hơn 300 cơ sở sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước, trong đó có 10 cơ sở sản xuất đông dược đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (GMP - WHO). Hơn 1,000 số đăng ký thuốc từ dược liệu còn hiệu lực. Bên cạnh thuốc cao đơn, hoàn, tán cổ truyền, thuốc đông dược sản xuất trong nước hiện khá phổ biến dưới các dạng bào chế như viên nang cứng, nang mềm, cao dán thấm qua da.

Trong nước cũng đã có một số cơ sở trồng trọt dược liệu đạt tiêu chuẩn VietGAP, nhiều đơn vị đang triển khai áp dụng nguyên tắc "thực hành tốt trồng trọt, thu hái cây thuốc". Bên cạnh đó, cũng có những cơ sở chế biến thực hiện việc thu mua dược liệu, lo đầu ra cho các hộ trồng trọt, kết hợp các hoạt động tập huấn quy trình kỹ thuật, cung cấp giống cây trồng, phân bón cho nhà nông, hình thành các vùng dược liệu trọng điểm... Giải pháp gắn kết chặt chẽ giữa 3 nhà: nhà nông – nhà doanh nghiệp – nhà khoa học là giải pháp cần thiết để lấy lại niềm tự hào cho thuốc Nam đất Việt. 



Kết luận: Nước ta có nguồn dược liệu vô cùng phong phú, nhưng bản thân ngành dược liệu chưa phát triển đúng với tiềm năng. Vì nhận thức được tầm quan trọng của nguyên liệu đầu vào để đảm bảo tạo được viên thuốc an toàn, chất lượng, hiệu quả bảo vệ sức khỏe con người, Công ty Cổ phần Thương mại Xây dựng Mỹ Khánh chúng tôi xác định đây chính là yếu tố xác định sự cần thiết đầu tư dự án.
II.1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

Rau là thực phẩm quan trọng thường xuyên và không thể thiếu hàng ngày của con người, đặc biệt đối với những dân tộc châu Á trong đó có Việt Nam. Việt Nam là nước có điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng khá thuận lợi cho việc sản xuất các loại rau, hoa, quả để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.

Nhiều mô hình sản xuất rau hiện nay đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị thu nhập đạt 400 – 500 triệu VND/ha/năm và cao hơn. Tuy nhiên sản xuất rau, nhất là rau an toàn ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn và bất cập: công tác quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức; việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trong sản xuất chưa được hỗ trợ giải quyết thỏa đáng; thị trường, xúc tiến thương mại, khuyến khích hỗ trợ hoạt động xuất khẩu chưa được quan tâm đúng mức. Đặc biệt là chất lượng RAT khi phân tích vẫn còn dư lượng Nitrate, thuốc trừ sâu và các vi sinh vật gây hại còn khá cao. Việc quản lý, sản xuất RAT cần phải được quan tâm đặc biệt và cũng là những vấn đề cần được giải quyết ngay trong thời gian hiện nay và những năm tiếp theo.

Theo số liệu từ các Sở NN & PTNT năm 2012 diện tích trồng rau cả nước ước đạt khoảng  823,728 ha (tăng 103.7% so với năm 2011), năng suất ước đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14.0 triệu tấn (tăng 106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357.5 nghìn ha, năng suất ước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5.7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt 466.2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 8.3 triệu tấn.



Bảng 1: Diện tích gieo trồng rau năm 2011-2012Các tỉnh

 

Năm 2011

Ước năm 2012

Cả nước

794,243

823,728

Miền Bắc

302,808

357,551

ĐBSH

127,808

159,7690

Đông Bắc

90,293

94,167

Tây Bắc

21,897

9,161

Bắc Trung Bộ

84.667

94,454

Miền Nam

491,435

466,177

DH Nam Trung Bộ

62,651

64,809

Tây Nguyên

123,859

87,361

 Đông Nam Bộ

83,105

67,768

 ĐBSCL

221,819

246,240

 

Qua tập hợp báo cáo của 46 Sở Nông nghiệp và PTNT đến hết tháng  9/2012:

- Số diện tích đã được Sở Nông nghiệp và PTNT cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn theo quy định tại Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/ 10/ 2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT Quy định quản lý sản xuất, kinh doanh rau, quả và chè an toàn là 6,310.9 ha.
- Số diện tích rau sản xuất theo hướng an toàn (nông dân đã áp dụng quy trình sản xuất an toàn nhưng chưa được chứng nhận) là 16.796,71 ha.

- Số diện tích đã được 20 tỉnh quy hoạch sản xuất rau an toàn  là 7,996.035 ha.

Cũng qua tập hợp báo cáo của 46 Sở Nông nghiệp và PTNT và 12 tổ chức chứng nhận VietGAP  đến hết tháng  9/2012 số diện tích rau được cấp Giấy chứng nhận VietGAP và các GAP khác (GlobalGAP, MetroGAP) là 491.19ha.

Trong năm 2012, Cục Trồng trọt thành lập 3 Đoàn kiểm tra điều kiện sản xuất rau đảm bảo an toàn thực phẩm tại 22 tỉnh, thành phố (An Giang, Sóc Trăng, Bình Định, Gia Lai, Ninh Thuận, Tây Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ninh, Phú Thọ, Hòa Bình, Lạng Sơn, Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La, Hà Giang).



Tình hình chung về tiêu thụ rau an toàn cho thấy:

+ Về hình thức tiêu thụ

Sản xuất rau nói chung, rau an toàn nói riêng được tiêu thụ theo một số hình thức chính như sau:



Người sản xuất sau khi thu hoạch, tự mang đi tiêu thụ tại các chợ.

- Bán buôn cả ruộng: tư thương chủ động đến thu hoạch và mang đi tiêu thụ tại các chợ đầu mối. Hình thức này người sản xuất bán cho tư thương thấp hơn giá bán lẻ tại chợ 20 - 30% .

- Bán buôn cho người thu gom: một số chủ đại lý trong vùng đứng ra thu gom sản phẩm sau thu hoạch để tiêu thụ ở đại phương và các tỉnh lân cận.

Ngoài ra một số tỉnh còn có hình thức tiêu thụ như:

- Tiêu thụ rau thông qua ký kết hợp đồng: Các Hợp tác xã, doanh nghiệp, tổ liên kết … ký hợp đồng thu mua rau để tiêu thụ tại các siêu thị, cửa hàng.

- Tiêu thụ thông qua các mối tiêu thụ ổn định: bếp ăn công nghiệp, bếp ăn nhà trẻ, trường học,...



+ Về công tác quản lý rau an toàn tại chợ đầu mối

Hiện nay theo báo cáo có 10/32 tỉnh có chợ đầu mối tiêu thụ rau, rau an toàn (Quảng Trị, Bình Dương, Bà Rịa- Vũng Tàu, Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Hồ Chí Minh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bạc Liêu).

Sở Nông nghiệp và PTNT một số tỉnh, thành (Hồ Chí Minh, Hà Nội,…) hàng năm phối hợp với Ban quản lý các chợ đầu mối tổ chức các đợt  kiểm tra, lấy mẫu rau để kiểm tra chất luợng. Nếu phát hiện mẫu có dư lượng thuốc BVTV hoặc hàm lượng Nitrat vượt ngưỡng theo quy định sẽ ra văn bản thông báo để Ban quản lý chợ có biện pháp quản lý tốt hơn nguồn gốc rau.

Tuy nhiên công tác quản lý chất lượng rau tại các chợ được triển khai nhưng chưa phổ biến, chưa được chú trọng trên cả nước, chủ yếu là các tư thương tự tìm nguồn hàng, thu mua ở các nơi khác về tiêu thụ. Bên cạnh đó, việc sản xuất rau an toàn cũng mới bắt đầu bằng việc chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sản lượng rau được sản xuất từ các vùng này chưa tạo thành khối lượng hàng hoá lớn.



+ Về Giá cả

Một số nơi rau an toàn có giá cao hơn giá rau thông thường từ 10-20% nên đem lại thu nhập cao cho người dân và cao hơn nhiều lần sản xuất lúa, ngô và một số cây ngắn ngày khác (một số vùng sản xuất rau an toàn tập trung, tổng thu trung bình từ 400-500 triệu đồng/ha/năm, cao đạt 700-800 triệu đồng/ha/năm ...).


Những khó khăn trong sản xuất rau an toàn:

Tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, giống rau sản xuất chủ yếu là giống F1 nhập nội, trình độ sản xuất thấp còn khá phổ biến; nhận thức và ý thức trách nhiệm của số đông người sản xuất về  rau an toàn còn chưa cao, vẫn còn tình trạng số mẫu rau có dư lượng thuốc BVTV,  nitrate, kim loại nặng, trong khi chưa có quy định về hàm lượng Nitrate trong rau của Bộ Y tế để tham chiếu xử lý.

- Một số địa phương đã xây dựng, phê duyệt đề án, kế hoạch phát triển sản xuất rau an toàn tuy nhiên không có kinh phí để triển khai. Do đó, công tác quy hoạch, xác định các vùng sản xuất rau an toàn đủ điều kiện còn chậm.

- Lực lượng quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát chưa đủ mạnh, còn dàn trải, phân công trách nhiệm còn chồng chéo giữa các Bộ ngành, giữa các đơn vị trong Bộ; các văn bản quy phạm pháp luật chưa ổn định. Công tác thông tin, tuyên truyền chưa thực sự sâu rộng; công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm còn rất hạn chế.

- Nhiều mô hình, nhiều địa phương đã đầu tư kinh phí sản xuất rau an toàn nhưng chưa gắn kết được khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ, sự liên kết hợp tác giữa người sản xuất, thương nhân, dịch vụ cùng với nhà khoa học, chính sách của nhà nước chưa chặt chẽ và chưa hình thành chuỗi để nâng cao giá trị của rau an toàn; sản phẩm tiêu thụ với giá không cao hơn sản phẩm thường, người tiêu dùng chưa thật sự tin tưởng vào rau an toàn.

- Số đông người tiêu dùng chưa hiểu biết đầy đủ về ATTP, thói quen mua bán tự do còn phổ biến, trong khi việc sản xuất rau an toàn chưa được người dân áp dụng trên đại trà, chủ yếu được thực hiện thông qua các chương trình, dự án của Trung ương, tỉnh. Do vậy chưa hình thành thị trường tiêu thụ rau an toàn riêng biệt, sản phẩm rau an toàn vẫn được tiêu thụ cùng với các loại rau khác, thiếu thông tin về các sản phẩm rau an toàn, quản lý nhà nước chưa giúp người tiêu dùng phân biệt được sản phẩm an toàn và chưa an toàn trên thị trường do rau an toàn chưa được xử lý đầy đủ các khâu sơ chế, đóng gói và in mã vạch theo đúng quy định nên khi bày bán trên thị trường chưa có khác biệt so với các sản phẩm rau thông thường.

Phần lớn giá bán các sản phẩm rau an toàn và rau thông thường chưa có sự khác biệt nhiều và thường không ổn định, giá thường cao vào đầu và cuối vụ sản xuất (cao gấp 1.5 - 2 lần) so với giá bán giữa vụ.

Kết luận: Trồng rau an toàn không chỉ giảm chi phí sản xuất do hạn chế sử dụng phân bón hóa học mà còn bảo đảm sức khỏe người trồng cũng như người tiêu dùng, bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng và môi sinh; Công ty Cổ phần Thương mại Xây dựng Mỹ Khánh chúng tôi xác định đây chính là yếu tố xác định sự cần thiết đầu tư dự án.
II.2. Các điều kiện và cơ sở của dự án

II.2.1. Chính sách phát triển của Chính phủ

Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm được ban hành rất nhiều. Trong 5 năm 2004-2008 có hơn 1.267 văn bản quy phạm pháp luật ban hành để quản chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. (Trong đó, các cơ quan Trung ương ban hành 337 văn bản, các cơ quan địa phương ban hành

930 văn bản.)

- Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm, đ. được Ủy ban Thường vụ QH khóa XI thông qua ngày 26-7-2003 do Chủ tịch nước k. Lệnh công bố ngày 7-8-2003, có hiệu lực từ ngày 1-11-2003. Pháp lệnh gồm 7 chương, 54 điều nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mcon người, duy tr. và phát triển n.i giống; tăng cường hiệu lực quản l. nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm;

Những văn bản quan trọng liên quan đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn:

- Quyết định số 149/2007/QĐ-TTg ngày 10-9-2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương tr.nh mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2006 – 2010 với chủ trương x. hội hóa chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Quyết định số 147/2008/Q Đ-TTg ngày 17 tháng 11 năm 2008 của Thủ tướng chính

phủ về việc Phê duyệt hành động quốc gia đẩy nhanh thực hiện cam kết với Hiệp định về vệ

sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS) đáp ứng nghĩa vụ thành viên WTO

- Quyết định số 107/2008/QĐ-TTg ngày 30tháng 7 năm 2008 về: Một số chính sách

hỗ trợ phát triển sản xuất, chế biến, tiêu thụ rau, quả, chè an toàn đến năm 2015

- Quyết định số 59/2006/QĐ-BNN ngày 2/8/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về

việc “Bổ sung một số loại thuốc bảo vệ thực vật vào danh mục thuốc BVTV được phép sử

dụng ở Việt Nam”

- Quyết định số 59/2006/QĐ-BNN ngày 2/8/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về

việc “Ban hành Quy định về quản l. thuốc BVTV”

- Quyết định số 04/QĐ-BNN ngày 19/1/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về “Quy

định về quản l. sản xuất và chứng nhận RAT” trong đó có quy định về thủ tục chứng nhận

điều kiện sản xuất rau an toàn và thủ tục cấp giấy chứng nhận RAT.

- Quyết định số 106/ 2007/QĐ-BNN ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và PTNT về quy định quản l., sản xuất và kinh doanh rau an toàn;


    • Môi trường thực hiện dự án

Hình: Vị trí tỉnh Hòa Bình


Tỉnh Tây Ninh có lợi thế lớn so với các tỉnh khác trong khu vực để sản xuất rau an toàn, đó là quỹ đất của tỉnh còn khá nhiều để phát triển mô hình rau an toàn theo hướng sản xuất hàng hoá. Hiện, trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn ha đất chuyên canh trồng rau, lớn nhất là ở huyện Trảng Bàng, tiếp đó là các huyện: Dương Minh Châu, Bến Cầu và Tân Biên. Hầu hết các vùng chuyên canh ở 9 huyện, thị xã của Tây Ninh đều đạt tiêu chí về sản xuất rau an toàn. Tuy nhiên, diện tích và sản lượng của loại cây trồng này còn hạn chế, do chưa có quy hoạch nên việc công nhận rau an toàn đang gặp khó khăn. Từ năm 2009 đến nay, với nguồn kinh phí của nhà nước, tại Tây Ninh đã thành lập được các mô hình sản xuất rau an toàn tại thị xã Tây Ninh, huyện Châu Thành, huyện Gò Dầu, huyện Hòa Thành và huyện Dương Minh Châu. Các cơ sở này đã được chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, hiện tại đang theo dõi, kiểm tra để chứng nhận sản xuất theo quy trình.

Kết luận: Tóm lại, tỉnh Hòa Bình hội tụ những điều kiện về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội để dự án Trồng cây dược liệu kết hợp chăn nuôi thả gia súc được hình thành.


  • Thị trường

+ Đầu vào

1. Viện Dược liệu - Bộ Y tế

Địa chỉ: 3B Quang Trung, Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội

Điện thoại: (84-4) 8252644

Fax: (84-4) 9349072

Emai: htqt-imm@hn.vnn.vn,


2. Trung tâm Tài nguyên thực vật Việt Nam

Địa chỉ: An Khánh - Hoài Đức - Hà Nội

Điện thọai: (04) 33845802

E-Mail: pgrvietnam@gmail.com / pgrc@hn.vnn.vn


Viện Dược liệu và Trung tâm Tài nguyên thực vật Việt Nam là 2 nơi được Công ty Dophuco lựa chọn để làm thị trường đầu vào, cung cấp nguồn giống cây trồng dược liệu cho dự án của chúng tôi. 2 cơ quan đầu ngành này có chức năng:

- Cung cấp nguồn giống, cây trồng dược liệu.

- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về các nguồn gen có khả năng mở rộng sản xuất,
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, tư vấn các vấn đề liên quan đến tài nguyên di truyền thực vật.

+ Đầu ra

Thuốc từ dược liệu thu được trong suốt quá trình hoạt động của dự án (đầu vào của dự án) ngoài việc cung cấp cho chính công ty chủ quản là Dophuco, còn phục vụ cho các cửa hàng dược liệu, công ty dược liệu cũng như các quầy thuốc ở Miền Bắc và Miền Nam.

Kết luận: Dự án có thuận lợi về thị trường cung cấp nguồn giống cây trồng cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm.
II.2. Kết luận về sự cần thiết đầu tư

Đã từ lâu, vấn đề ổn định chất lượng dược liệu, bán thành phẩm Đông dược (ví dụ như cao dược liệu) cũng như các loại thuốc thành phẩm từ dược liệu ở Việt Nam đã và đang được các nhà khoa học, các cơ sở sản xuất thuốc trong ngành Dược tìm cách giải quyết nhưng vẫn chưa có giải pháp thỏa đáng. Cho đến nay, thị trường dược liệu ở Việt Nam vẫn trong tình trạng thả nổi, thiếu sự quản lý của các cơ quan y tế (về chủng loại, chất lượng, tính chuẩn xác, quy trình chế biến, cách bảo quản, …) và cơ quan quản lý thị trường (về giá cả).

Cũng như thuốc Tân dược, để thuốc Đông dược có hiệu lực, an toàn và chất lượng ổn định thì toàn bộ quy trình sản xuất phải được tiêu chuẩn hóa. Trong đó, tiêu chuẩn hóa nguyên liệu đầu vào là khâu cơ bản nhất. Riêng đối với dược liệu có nguồn gốc thực vật thì việc tiêu chuẩn hóa phải bắt đầu từ quy trình trồng trọt và thu hái cây thuốc hoang dã trong tự nhiên. Hiện nay, các dây chuyền sản xuất thuốc nói chung, trong đó có thuốc Đông dược ở Việt Nam đang được xây dựng, hoặc từng bước nâng cấp để đạt tiêu chuẩn “Thực hành tốt sản xuất thuốc – GMP”. Đây là một yêu cầu cần thiết để có thuốc tốt. Riêng đối với thuốc Đông dược, nếu nguyên liệu đầu vào không ổn định về chất lượng thì thành phẩm thuốc (đầu ra) cũng không đạt yêu cầu về chất lượng, cho dù thuốc đó được sản xuất ở nhà máy đạt tiêu chuẩn GMP theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Đó chính là nguyên nhân khiến cho chất lượng của nhiều loại thuốc Đông dược ở Việt Nam hiện nay thất thường, kể cả chất lượng của các gói thuốc thang ở các cơ sở khám, chữa bệnh và kinh doanh thuốc Đông y. Đặc biệt, trước xu thế hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới, các xí nghiệp Dược của nước ngoài sẽ đưa sản phẩm của họ vào Việt Nam, và ngược lại, chúng ta cũng cần đưa dược liệu và thuốc Đông dược của Việt Nam ra thị trường nước ngoài. Để cho thuốc của ta giữ được thương hiệu và cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài (thậm chí ngay trên thị trường trong nước) thì quá trình trồng trọt, thu hái nguyên liệu làm thuốc không thể coi nhẹ việc tiêu chuẩn hóa. Điều này có nghĩa là phải tạo ra nguồn dược liệu có hàm lượng hoạt chất cao theo tiêu chuẩn của GACP.

Nhận thấy nhu cầu của xã hội, sau khi nghiên cứu và nắm vững các yếu tố kinh tế và kỹ thuật trong lĩnh vực dược liệu, công ty TNHH Dophuco chúng tôi quyết định đầu tư xây dựng dự án Trồng cây dược liệu kết hợp chăn nuôi thả gia súc tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, một nơi có khí hậu ôn hòa, nguồn nước dồi dào và đất đai màu mỡ trên vùng núi cao Tây Bắc. Vùng đất này hứa hẹn sẽ là trang trại lớn nhất, hiện đại nhất tỉnh Hòa Bình bằng việc áp dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất hiện nay để sản xuất những loại dược liệu quý và kết hợp cả chăn nuôi gia súc. Từ đó chúng tôi tin tưởng rằng không bao lâu nữa nhân dân trong tỉnh cũng như Việt Nam sẽ được hưởng thụ các loại thuốc dược liệu và các sản phẩm từ thịt mà dự án đem lại với chất lượng và giá cả cạnh tranh.

Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người, rau cung cấp nhiều Vitamin, chất khoáng, chất xơ và rau có tính dược liệu cao mà các thực phẩm khác không thể thay thế được. Rau được sử dụng hàng ngày với số lượng lớn, vấn đề kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được mọi người quan tâm nhằm đảm bảo dinh dưỡng, tránh các vụ ngộ độc do các sản phẩm rau mang lại.

Sản xuất rau ở Việt Nam tạo nhiều việc làm và thu nhập cao cho người sản xuất so với một số cây trồng hàng năm khác. Cùng với nhu cầu tiêu dùng về các sản phẩm rau ngày càng cao kéo theo sản xuất rau trong những năm vừa qua tăng lên cả vệ số lượng, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Việt Nam có khả năng sản xuất rau quanh năm với số lượng, chủng loại rau rất phong phú đa dạng 60-80 loại rau trong vụ đông xuân, 20-30 loại rau trong vụ hè thu.đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Để nâng cao thu nhập cho người sản xuất và các tác nhân trong chuỗi gia trị rau ở Việt Nam, việc xác định các loại rau chủ yếu cung cấp cho thị trường nội địa và xuất khẩu và mối liên kết của thị trường với các khách hàng tiềm năng với đảm bảo về chất lượng, VSATTP làcần thiết.

Với niềm tin sản phẩm do chúng tôi tạo ra sẽ được người tiêu dùng trong nước ưa chuộng, với niềm tự hào sẽ góp phần tăng giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp, tăng thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân và tạo việc làm cho lao động tại địa phương, chúng tôi tin rằng dự án đầu tư Trồng cây dược liệu kết hợp chăn nuôi thả gia súc là sự đầu tư cần thiết trong giai đoạn hiện nay.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương