Chương I: quan đIỂm tiếp cận và phưƠng pháP ĐÁnh giá hiệu quả nhà MÁy xử LÝ NƯỚc rỉ RÁc thuộc khu liên hợp xử LÝ RÁc nam sơn- sóc sơn- hà NỘI



tải về 0.53 Mb.
trang6/6
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích0.53 Mb.
1   2   3   4   5   6

2, Lợi ích

2.1) Lợi ích về tài chính

Là một phần doanh thu từ việc xử lý rác hợp vệ sinh, một phần từ ngân sách của chính phủ và các tổ chức môi trường phi chính phủ. Ở đây sẽ là một phần của lợi ích thu được từ việc thu lệ phí đối với công tác vệ sinh môi trường. Như ta biết thì phí vệ sinh là 3000đ/người/tháng

Một năm sẽ là: 36000đ

Dân số nội thành Hà Nội hiện nay: 1.709.300 người (theo số liệu của Hà Nội cũ). Tỷ lệ thu phí: 70%

Vậy doanh thu sẽ là: B = 36000 x 1.709.300 x 0,7=43.074,36106 VND

Doanh thu của nhà máy xử lý nước rỉ rác được trích ra từ 1/3 doanh thu thu được từ thu phí rác thải. Vậy ta có doanh thu nhà máy là B1= 14.358,12106 VND



2.2) Lợi ích về mặt xã hội môi trường

Ngày nay vấn đề môi trường đang được coi là vấn đề sống còn của nhân loại, những cuộc họp về vấn đề môi trường ngày càng được tổ chức nhiều hơn, với sự tham gia nhiệt tình từ nhiều quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy mà những vấn đề lợi ích về môi trường cũng như những thiệt hại do môi trường gây ra có thể cảm nhận một cách rõ rệt. Thực trạng nước rỉ rác tại bãi rác Nam Sơn đã phần nào được giải quyết khi mà nhà máy xử lý nước rỉ rác nam sơn đi vào hoạt động. Thực tế cho thấy công nghệ xử lý này là giải pháp mang lại hiệu quả cao, phù hợp với nước đang phát triển như chúng ta.

a) Lợi ích có thể định lượng được

- Lợi ích thu được do giảm chi phí khám chữa bệnh: Một thực tế điển hình là thôn Lương Đình (xã Bắc Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) vẻn vẹn 270 hộ dân thì hơn một nửa số phụ nữ mắc các bệnh u vú, u tử cung. Đàn ông thì mắc ung thư vòm họng, sỏi thận, sỏi mật... Theo người dân, họ nhiễm bệnh là do phải chịu cảnh ô nhiễm môi trường từ bãi rác Nam Sơn. Xã Bắc Sơn có 14000 người, số người đi bới rác tại bãi rác Nam Sơn lên tới 850 người. Theo thống kê thì có khoảng 25% người mắc một số bệnh nói trên, sau khi nhà máy xử lý nước rỉ rác đi vào hoạt động thì giảm được 20%. Chi phí khám chữa bình quân một người trong năm là 1.500.000 VND. Vậy ta có lợi ích thu được do giảm chi phí phải phải khám chữa bệnh (B1): 140000,250,21.500.000 = 1.050.000.000 VND = 1,050 triệu VND

- Lợi ích thu được vì giảm được thiệt hại về thu nhập do phải nghỉ việc đi khám và điều trị bệnh

Nhìn chung đời sống của nhân dân trong xã còn thấp, số hộ đói, nghèo


208.000đồng/khẩu/tháng (số liệu thống kê năm 2005), tương đương 7.500 VND/ người/ ngày. Trung bình số ngày nghỉ của một người đi chữa trị là 7 ngày. Vậy ta có phần lợi ích thu được do giảm được mức thiệt hại đến thu nhập(B2): 7.5007140000,250,2 = 36.750.000 VND

- Môi trường được cải thiện, khuấy động phong trào sinh hoạt văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần, mức dân trí từ đó cũng được phát triển, người dân ở đây sẽ thực hiện tốt hơn các biện pháp sinh đẻ kế hoạch đồng thời hạn chế các tệ nạn xã hội. Tất cả những điều đó giúp cho năng suất lao động đạt ở mức cao hơn, cụ thể ở đây (chủ yếu là cây lương thực ) tăng lên so với trước là 0,5 tấn /1ha. Tổng diện tích trồng cây lương thực của 3 xã thuộc dự án vào khoảng (253 x3) 759ha. Vậy tổng sản lượng tăng lên trong một năm (gồm cả 2 vụ) sẽ là : 0,5 x759 x2=759ha

Giả sử giá lúa trên thị trường: 2 triệu. Ta tính được doanh thu (B3): 759 x 2 = 1518 (triệu VND)

b) Lợi ích khó có thể định lượng được

Nhà máy xử lý nước rỉ rác vận hành theo cơ chế kết hợp công nghệ sinh học và hóa học, để phù hợp với sự thay đổi thành phần và hợp chất của nước thải đầu vào, đảm bảo có thể xử lý một cách  tiết kiệm nhất. Hệ thống hồ chứa và xử lý nước rác vận hành liên tục, nơi bắt đầu xử lý thì nước có màu đen, chuyển sang bể khử trùng thì nước có màu vàng nhạt... Nhờ có bể khử trùng đặt ở gần cuối hệ thống xử lý, nên không có ruồi, muỗi bay xung quanh khu vực nhà máy. Toàn bộ quá trình xử lý đều được quạt gió kết hợp với công nghệ khử mùi để làm giảm đến mức thấp nhất mùi hôi trong quá trình xử lý nước. Chính vì vậy làm cho nguy cơ ô nhiễm nước mặt và nước ngầm do nước rỉ rác gây ra là không còn nữa, môi trường trở nên tốt hơn, do vậy mà nhân dân trong vùng tránh được bệnh tật do bãi rác nam sơn gây ra, công nhân trong khu liên hợp bãi rác cũng được đảm bảo về sức khỏe, tinh thần làm việc hưng phấn hơn, hiệu quả công việc đạt kết quả cao hơn. Ngoài những đối tượng kể trên thì việc lắp đặt hệ thống thu hồi nước rỉ rác để tram xử lý làm cho bãi rác trở nên an toàn hơn, giúp những người nhặt rác có hệ số rủi ro thấp hơn vì do ô nhiễm khi đi bới rác, kiếm được một khoản tiền khá lớn đủ nuôi sống gia đình họ.

Đối với những người gián tiếp chịu ảnh hưởng do ô nhiễm nước rỉ rác gây ra: Có thể nói tổng quát là hoạt động xử lý nước rỉ rác đem lại lợi ích cho toàn bộ dân cư Hà Nội. Hà nội là trung tâm kinh tế của cả nước, với một lượng dân cư lớn vào loại nhất nhì nước, do vậy mà tình trạng rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, rác thải công nghiệp đang ở mức báo động. Nhiều khu chôn rác đã quá tải hoặc bị đóng cửa do ô nhiễm… Khi mà nhà máy xử lý nước rỉ rác vận hành thì có thể giúp việc tái sử dụng bãi rác, giảm thiểu được bãi chôn lấp. Hệ thống nước ngầm được đảm bảo, các dịch bệnh liên quan đến nguồn nước sẽ giảm một cách đáng kể.

Lợi ích về mặt môi trường : Hoạt động của nhà máy xử lý nước rỉ rác đem lại một lợi ích không hề nhỏ. Đó là tránh được những hậu quả, tác hại tới các thành phần môi trường, đặc biệt là môi trường nước. Trước đây khi chưa có nhà máy thì tình trạng ô nhiễm do nước rỉ rác gây ra là đáng kể, mùi hôi thối, ô nhiễm không khí nghiêm trọng đã làm chonhân dân bức xúc, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của công nhân trong nhà máy và dân cư địa phương.

Như vậy việc vận hành nhà máy xử lý nước rỉ rác là một việc cần thiết, một sự áp dụng tiến bộ một cách đúng đắn và khoa học. Nó tạo rất nhiều lợi ích môi trường- xã hội mà chúng ta khó có thể kể ra và định lượng hết được.



II, Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của nhà máy xử lý nước rỉ rác Nam Sơn thuộc khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn

1, Đánh giá hiệu quả tài chính

- Do dự án được tài trợ và được xây dựng từ ngân sách chính phủ nên phần chi phí xây dựng ở đây tạm thời không cần xem xét tới. Xét trên khía cạnh tài chính, riêng trong năm 2005 sau khi vận hành thì chênh lệch lợi ích và chi phí của nhà máy là: B1- (Cvh+ Cql + Ckh) = A

14.358,12-( 4.384,3225106 + 5.972,683106 + 1.329,6992106 )­

= 2.671,4953106 VND

Trong trường hợp này ta xét dự án có thu chi đều đặn qua các năm, giả sử tỉ lệ chiết khấu là r = 15%. Năm gốc là năm 2005, nhà máy có tuổi thọ là 20 năm.

Ta có:


NPV = -Cdt + A

Cdt: vốn đầu tư ban đầu

A : Lợi ích ròng qua thời gian

r : tỉ lệ chiết khấu

t: tuổi thọ của dự án

Thay số vào ta có:

NPV = -18.890,4732106 + 2.671,4953106

NPV = -2.168,698587 106 VND

Ta thấy NPV < 0, xét về mặt tài chính thì dự án nhà máy xử lý nước rỉ rác là không hiệu quả khi đem lại giá trị hiện tại ròng âm. Tuy vậy đây là nhà máy hoạt động vì cộng đồng nên nó sẽ có hiệu quả về mặt xã hội môi trường, cụ thể ta xem xét phần tính toán hiệu quả xã hội môi trường ở phần tiếp theo.



2, Đánh giá hiệu quả xã hội - môi trường

Như ta biết hoạt động của nhà máy xử lý nước rỉ rác Nam Sơn mang lại nhiều lợi ích về môi trường và xã hội. Vì vậy hiệu quả xã hội - môi trường của nó chắc chắn lớn và không thể tính được hết. Khi chưa có nhà máy thì vấn đề nước rỉ rác vẫn là vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết, khi mà lượng rác thải ngày càng nhiều, nó sẽ sinh ra một lượng nước rỉ rác ngày càng lớn, đặc biệt là vào mùa mưa. Gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, ảnh hưởng tới sức khỏe của nhân dân cũng như công nhân trong nhà máy. Chi phí của việc khác phục những ảnh hưởng này cũng như những tác động của nó gây ra sẽ là rất lớn. Công nghệ xử lý nước rỉ rác được áp dụng và triển khai ở khu liên hợp xử lý nước rỉ rác là một giải pháp thích hợp nhất vào thời điểm hiện nay, phù hợp với nước đang phát triển như Việt Nam. Nước rỉ rác sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn xả nước thải đầu ra TCVN 5945-1995.

- Ta có lợi ích xã hội - môi trường (EB): EB = B1+B2+B3

EB = 1.050 + 36,75+1518 = 2.604,75 triệu VND

Lợi ích ròng qua thời gian khi tính tới lợi ích xã hội - môi trường (A1)

A1= A+ EB = 2.671,4953106 + 2.604,75106 = 5.276,2453 106

NPVe = -Cdt + A1= -18.890,4732106 + 5.276,2453106

NPVe = 14.135,29507 106 VND

Ta thấy NPVe > 0, Vậy xét trên khía cạnh xã hội môi trường thì dự án xây dựng và vận hành nhà máy xử lý nước rỉ rác là đem lại hiệu quả. Trên đây mới chỉ là một số lợi ích xã hội môi trường được kể ra, còn nhiều lợi ích nữa chưa được tính toán do khó bóc tách được. Môi trường – xã hội được cải thiện từ khi nhà máy xử lý nước rỉ rác Nam Sơn đi vào hoạt động.



3, Hiệu quả về quản lý

Nhà máy ra đời là một trong những nỗ lực quản lý nhằm phòng ngừa ô nhiễm nguồn nước mặt cũng như nguồn nước ngầm cho khu vực xung quanh bãi rác. Mục tiêu ở đây là giải quyết được toàn bộ lượng nước rỉ rác ở khu vực bãi rác Nam Sơn và điều đó đã được giải quyết khi nhà máy đi vào hoạt động. Tổng lưu lượng đầu vào cho quá trình xử lý là 800 m3/ ngày, lưu lượng đầu ra là 600 m3/ ngày, nhà máy xử lý được khoảng 200.000 m3/ năm. Nhà máy là một trong những bộ phận của khu liên hợp xử lý rác sạch Nam sơn, đáp ứng được nhu cầu về xử lý nước rỉ rác hiện nay tại bãi rác này.Việc đưa vào sử dụng nhà máy xử lý nước thải số 1 sẽ giải quyết cơ bản tình trạng tồn đọng và lưu chứa một lượng lớn nước rác. Đặc biệt nhà máy này còn có thể xử lý được các loại nước rác khác nhau trong mùa mưa và mùa khô với chi phí hợp lý. Công nghệ xử lý nước rác này hoàn toàn có thể áp dụng xây dựng các trạm xử lý nước rác tại thành phố và các tỉnh trong cả nước nói chung. Đồng thời có thể áp dụng mô hình này xây dựng các trạm xử lý nước thải cục bộ cho các khu dân cư của Hà Nội góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho thành phố.


Tiểu kết chương III:

Chương III, là quá trình định lượng nhưng chi phí và lợi ích có thể hoặc dễ dàng tính toán được. Định tính những chi phí, lợi ích bí ẩn đi hoặc khó nhìn thấy được. Từ quá trình định lượng cũng như định tính những chi phí và lợi ích trong quá trình xây dựng, quá trình hoạt động ta sẽ tính toán được giá trị hiện tại ròng xét trên phương diện đánh giá hiệu quả tài chính (NPV = NPV = -2.168,698587 106 VND) và giá trị hiện tại ròng xét trên phương diện kinh tế, hiệu quả xã hội môi trường (NPVe = 14.135,29507 106 VND). Đây chính là cơ sở để chúng ta đưa ra được tính hiệu quả hoạt động của nhà máy. Từ đó rút ra những nhận xét, những kiến nghị và những biện pháp trong chương tiếp theo.


CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
Chuyên đề đã cho ta thấy được một phần nào đó tính hiệu quả của nhà máy, dù mới ở mức rất hạn hẹp, thiếu về thông tin, chỉ dừng lại ở việc tính toán đơn giản. Nhưng dẫu sao đây cũng là cơ sở để chúng ta rút ra được nhũng nội dung đã giải quyết được trong vấn để xử lý nước rỉ rác và những vấn đề còn tồn tại cần phải tiếp tục nghiên cứu. Cụ thể:

Những nội dung đã giải quyết được như:

 Cho chúng ta một cách nhìn cách đánh giá khách quan về các dự án liên quan đến vấn đề môi trường. Mặc dù theo lý thuyết thì việc tính toán NPV<0 thì dự án sẽ không khả thi nhưng đó mới chỉ dừng lại ở việc xét trên phương diện hiệu quả tài chính. Tuy nhiên nếu xét trên phương diện kinh tế bao gồm cả xã hội và môi trường thì lại khác. Một dự án có NPV<0 xét trên hiệu quả tài chính nhưng lại có NPVe > 0 xét trên cơ sở phân tích kinh tế. Khi đó dự án mà các nhà đầu tư tư nhân thấy không khả thi thì lại có rất nhiều lợi ích cho xã hội và môi trường và khi thực hiện nó họ sẽ thu về được mức lợi ích ròng cao hơn.Cụ thể trong chuyên đề có NPV< 0, NPVe> 0 dự án vẫn khả thi.

 Chuyên để đã đưa ra được những chi phí và lợi ích không thể hoặc khó lượng hóa được, tuy nhiên đó mới dừng ở việc định tính là nhiều.

Những vấn đề còn tiếp tục phải nghiên cứu:

 Chuyên đề cần phải có được nhiều cách tính khác nhau để có thể so sánh với nhau nhằm đưa ra một sự đánh giá hiệu quả nhất.

 Cố gắng lượng hóa được những chi phí-lợi ích không thể hoặc khó lượng hóa được một cách chính xác và có cơ sở thực tiễn, nhằm đưa ra một con số đánh giá đạt được mức độ tin cậy cao nhất.

 Cần phải phân tích độ nhạy trong chiết khấu, nhằm tính toán hiệu quả dự án sao cho thích ứng với sự biến đổi của thị trường như lạm phát, khủng hoảng kinh tế.

Sau đây chúng ta sẽ đưa ra một số giải pháp liên quan đến hoạt động của nhà máy cũng như một số kiến nghị để cho nhà máy hoạt động tốt hơn, quá trình quản lý rác thải ở Hà Nội đạt hiệu quả cao nhất.

I) Cơ sở đề xuất các giải pháp


  • Từ quy trình hoạt động của nhà máy, những phân tích chi phí hiệu quả hoạt động của nhà máy. Chúng ta có thể rút ra những mặt được và mặt chưa được của nhà máy.

  • Từ những quan trắc, khảo sát của những nhà khoa học, tổ chức môi trường.

  • Dựa vào tình hình thực tế hiện nay ở khu vực xung quanh khu liên hợp xử lý nước rỉ rác Nam Sơn.

  • Từ sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ môi trường hiện nay và cách thức quản lý, sử lý rác thải của các nước phát triển trên thế giới.

II, Các giải pháp lựa chọn liên quan đến hoạt động của nhà máy

- Tiếp tục đầu tư, nghiên cứu những công nghệ, giải pháp hợp lý cho việc sử lý rác thải nói chung và xử lý nước rỉ rác nói riêng.

- Cần phải có biện pháp xử lý lượng bùn cặn sau khi xử lý nước rỉ rác, nếu không việc xử lý nước rỉ rác sẽ không được hiệu quả cao nhất

- Nước rỉ rác có nguồn gốc phát sinh từ bãi rác, nơi chứa đựng một lượng rác khổng lồ từ Hà Nội. Chính vì vậy quan tâm đến vấn đề quản lý, thu gom và xử lý rác thải cũng chính là một biện pháp hiệu quả ngoài việc đầu tư xử lý nước rỉ rác. Nó sẽ là biện pháp kết hợp đồng bộ với quá trình xử lý.

* Các giải pháp về mặt quản lý

Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân phải được ưu tiên hàng đầu. Cần huy động những thế mạnh sẵn có ở các cấp địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ như hội Phụ nữ, hội Người Cao tuổi, hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên, hội thanh niên xung kích, hội thiếu niên nhi đồng... Cần có những hoạt động mang tính mở rộng cả về tuyên truyền lẫn pháp lý với sự tham gia của tất cả các tổ chức kinh tế - xã hội trên địa bàn Thành phố nhằm tăng cường công tác bảo bệ môi trường sao cho biến nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giảm thiểu rác thải không chỉ là trách nhiệm của riêng Công ty Môi trường Hà Nội.

Phải phân cấp trách nhiệm trong vấn đề quản lý rác thải nói riêng và công tác giữ gìn môi trường nói chung. Việc đưa công tác quản lý môi trường về từng Quận, Huyện và phân cấp xuống đến Phường, Tổ dân phố sẽ có hiệu quả hơn nhiều do các cán bộ phụ trách nắm rõ và hiểu rõ địa bàn của mình. Thành phố cần sớm có những chỉ thị cụ thể về trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương mà cụ thể từ quận đến các phường xã về vấn đề này (cần có cán bộ phụ trách môi trường ở từng Phường).

Tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ. Không những chỉ các cán bộ công nhân viên có liên quan trực tiếp đến công tác thu gom xử lý rác thải được đào tạo mà ngay cả các cán bộ Phường, Quận cũng cần phải được đào tạo những khái niệm cơ bản và những kiến thức về công tác bảo vệ môi trường. Đưa công tác đào tạo các cán bộ chính quyền địa phương này thành công việc thường xuyên của Thành phố.

Thành phố cần có các quy hoạch và chính sách ưu tiên dài hạn đối với các doanh nghiệp và đội ngũ lao động hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: tái chế v.v không để phát triển một cách tự phát, manh mún như hiện nay. Đặc biệt cần có những chính sách ưu tiên cho các tổ chức làm công tác dịch vụ vệ sinh môi trường để các tổ chức tư nhân cũng được hưởng các hình thức ưu tiên như các tổ chức Nhà nước.

* Các giải pháp về công nghệ:

Triển khai công tác phân loại phế thải ngay từ nguồn. Nghiên cứu áp dụng các loại túi có màu khác nhau để phân loại phế thải theo 3 loại: rác thải hữu cơ, rác thải có thể tái sử dụng: các đồ kim loại, nilon, nhựa ... và rác thải không thể tái sử dụng.

Giới thiệu và dần dần áp dụng công nghệ tái chế chất thải như: các công nghệ đóng rắn các bã thải, bùn thải công nghiệp thành vật liệu xây dựng như gạch lát vỉa hè, công viên, kè các ao hồ, đê, cống thoát nước, tường bao bãi rác; công nghệ sản xuất các vật liệu nén ép từ nilon phế thải, vật liệu xây dựng "xốp" từ rác đã phân huỷ, sản xuất năng lượng "sạch" chế biến từ rác phân huỷ để sử dụng đun nấu cho các gia đình tương lai v.v...

* Các giải pháp về tài chính

Ưu tiên các dự án về nâng cao ý thức cộng đồng của nhân dân, các công tác tuyên truyền, giáo dục đến từng tổ dân phố, từng phường; các phong trào gìn giữ vệ sinh môi trường trong toàn Thành phố; các dự án về quản lý môi trường cấp Phường, xã.

Ưu tiên đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm phát triển công nghệ tái chế chất thải và công nghệ thu gom chất thải cho hợp lý.

Cần có một khoản tiền dưới hình thức một "Quỹ môi trường" hoặc có các tổ chức cho vay ưu đãi với các doanh nghiệp tham gia vào công tác làm sạch môi trường như: dịch vụ thu gom, dịch vụ tái chế chất thải, dịch vụ xử lý chất thải nguy hại, và các loại hình dịch vụ vệ sinh khác...

Hình thành ngân sách quản lý môi trường ở cấp địa phương như Quận, Huyện... để các địa phương có kinh phí hoạt động trong lĩnh vực quản lý môi trường (Nguồn tài chính có thể trích một phần từ ngân sách địa phương và từ nguồn doanh thu của Công ty dịch vụ Môi trường Thủ đô).

Tóm lại, tư tưởng nhất quán chi phối các biện pháp nêu trên là ngày càng nhấn mạnh vai trò của nhân dân và các cơ sở chính quyền địa phương cũng như của việc áp dụng các công nghệ hiện đại và các chế tài nghiêm khắc hơn trong việc xử lý rác thải và công tác bảo vệ môi trường của Thành phố Hà nội, nhằm đưa Thủ đô trở thành "Thành phố môi trường" đầu tiên của nước ta trong những năm tới.



III, Các kiến nghị

- Để cho vấn đề rác thải cũng như phế phẩm từ rác là nước rỉ rác được xử lý triệt để, cần phải có sự chung sức của toàn dân, của các cấp, các ngành và các tổ chức môi trường.

- Chính phủ cần phải có cơ chế luật pháp, các chế tài đầy đủ và đi sát với những vấn đề rác thải, môi trường thực tế hiện nay cũng như phải có những hoạch định tính toán cho tương lai.

- Thường xuyên hợp tác với các tổ chức môi trường trên thế giới, cập nhật, tự nghiên cứu những công nghệ cho việc xử lý rác thải nói chung và nước rỉ rác nói riêng.

- Đào tạo đội ngũ các nhà kinh tế, kỹ thuật, sinh thái về môi trường. Chính đội ngũ này sẽ là những người trực tiếp đưa ra những quy hoạch cũng như biện pháp giải quyết những vấn đề môi trường hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. J.Bremmer, Báo Cáo Khả Thi Dự Án Thu Gas Và Sử Lý Nước Rỉ Rác- Khu Liên Hợp Xử Lý Rác Nam Sơn - Sóc Sơn - Hà Nội, Công Ty Năng Lượng & Khí Hậu Grontmij, Tháng 8 Năm 2004

2. PGS.TS Nguyễn Thế Chinh(2003), Đánh giá tác động môi trường và phân tích kinh tế của những tác động môi trường, Kinh Tế & Quản Lý Môi Trường, NXB Thống Kê, Hà Nội

3. Trần Võ Hùng Sơn (Chủ Biên), Nhập Môn Phân Tích Chi Phí - Lợi Ích, NXB Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - 2003


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC 4

I, Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế 4

II, Tác hại của rác thải và vai trò của việc xử lý nước rỉ rác 8

III, Áp dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích trong đánh giá hiệu quả nhà máy xử lý nước rỉ rác 13

CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH XỬ LÝ, QUẢN LÝ RÁC Ở HÀ NỘI VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC THUỘC KHU LIÊN HỢP XỬ LÝ RÁC NAM SƠN 23

I, Tình hình xử lý rác và quản lý rác ở Hà Nội 23

II, Hiện trạng môi trường tại khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn 25

III, Đặc điểm nước rỉ rác và các phương pháp xử lý nước rỉ rác 31

IV, Mô tả quy trình xử lý và Tổng quát về các hệ thống xử lý 35

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC NAM SƠN THUỘC KHU LIÊN HỢP XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC NAM SƠN 42

I, Xác định chi phí lợi ích của nhà máy xử lý nước rỉ rác thuộc khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn 42

II, Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường của nhà máy xử lý nước rỉ rác Nam Sơn thuộc khu liên hợp xử lý rác Nam Sơn 48

CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 51

I, Cơ sở đề xuất các giải pháp 51

II, Các giải pháp lựa chọn liên quan đến hoạt động của nhà máy 52

III, Các kiến nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55









Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương