Chương I: quan đIỂm tiếp cận và phưƠng pháP ĐÁnh giá hiệu quả nhà MÁy xử LÝ NƯỚc rỉ RÁc thuộc khu liên hợp xử LÝ RÁc nam sơn- sóc sơn- hà NỘI


, Vai trò của việc xử lý nước rỉ rác



tải về 0.53 Mb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu21.12.2018
Kích0.53 Mb.
1   2   3   4   5   6

2, Vai trò của việc xử lý nước rỉ rác

Hiện nay Việt Nam đang phải trực tiếp đối diện với hai vấn nạn lớn trong lĩnh vực môi trường là ô nhiễm không khí và ô nhiễm nguồn nước ở khắp nơi, đặc biệt là các thành phố lớn. Trước sự gia tăng dân số và hiện tượng dân chúng nhập cư vào các thành phố lớn một các ồ ạt để mưu sinh, do vậy mà lường rác sinh hoạt, rác công nghiệp, v.v... ngày càng nhiều, vấn đề nước rỉ rác từ rác và rác là nguyên nhân chính trong việc ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm. Tình trạng nước rỉ rác và rác thải là một trong nhiều vấn đề cấp bách cần phải giải quyết ở Việt Nam, đặc biệt là các thành phố như Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh.

Thành phố luôn bị động, vì số lượng bãi rác thì có hạn, trong khi tình trạng rác thải ngày càng tăng, các nhà máy xử lý nước rỉ rác càng tệ hơn khi khả năng không đủ đáp ứng khối lượng khổng lồ nước rỉ rác phát thải từ bãi rác. Do đó, mặc nhiên nước rỉ rác sẽ mau chóng thấm vào trong lòng đất và vào mạch nước ngầm. Vấn đề này trở nên ngày càng cấp bách nhất là trong mùa mưa.

Nhìn chung tình trạng quản lý và xử lý rác ở thành phố Hà nội cũng như các thành phố khác là chưa được quan tâm đúng mức, các hóa chất độc hại vẫn còn tồn đọng trong nước rỉ rác và xâm nhập vào nguồn nước tạo nên ô nhiễm môi trường nước xung quanh. Để có một khái niệm về vấn đề xử lý nguồn nước rỉ rác từ rác, một phương pháp đã được hầu hết các quốc gia phương Tây áp dụng. Đó là phương pháp vi sinh biomass, phương pháp này dựa theo nguyên tắc dung vi sinh vật hiện có trong nước rỉ, kết hợp cùng than hoạt tính, và bồn xử lý phải được bơm không khí liên tục để kích thíc tăng trưởng các vi sinh vật trên. Với phương pháp này, vi sinh vật và than hoạt tính sẽ phân hủy các chất hữu cơ nhẹ và hấp thụ kim loại độc có trong nước rỉ rác. Sau khi đã qua xử lý, nước rỉ rác có thể phát thải vào tự nhiên và không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.



III, Áp dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích trong đánh giá hiệu quả nhà máy xử lý nước rỉ rác

1, Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích ( CBA- Cost Benefit Analysis)

1.1) Khái niệm

CBA đã xuất hiện từ lâu trong cuộc sống của con người nhưng nó vẫn chưa được biết đến với cái tên như bây giờ. CBA được đưa ra vào khoảng thế kỷ XIX và phải đến gần 100 năm sau mới thực sự phổ biến và được đưa vào sử dụng. Có nhiều khái niệm về phân tích chi phí, tuy nhiên ta có thể hiểu theo khái niệm của tác giả Trần Võ Hùng Sơn trong quyển Nhập môn phân tích - chi phí lợi ích:

Phân tích chi phí - lợi ích là một phương pháp để đánh giá sự mong muốn tương đối giữa các phương án cạnh tranh nhau khi sự lựa chọn được đo lường bằng giá trị kinh tế tạo ra cho xã hội”.

Phân tích chi phí- lợi ích là một kỹ thuật phân tích để đi đến quyết định xem đây có nên tiến hành các dự án đã triển khai hay không hay hiện tại có nên cho triển khai các dự án được đề xuất hay không. Phân tích lợi ích chi phí cũng được dùng để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau. Người ta tiến hành CBA thông qua việc gắn giá trị tiền tệ cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của dự án. Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra. Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn, dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai.

Những dự án mà phân tích CBA xếp vào loại đáng được triển khai là những dự án cho đầu ra có giá trị lớn hơn đầu vào đã sử dụng. Trong trường hợp phải chọn một dự án trong số nhiều dự án được đề xuất, CBA sẽ giúp chọn được dự án đem lại lợi ích ròng lớn nhất. Cũng có thể dùng CBA để đánh giá mức độ nhạy cảm của các đầu ra trong dự án đối với rủi ro và bất chắc.

Mặc dù ý tưởng thì đơn giản song trong thực tế sẽ có nhiều khó khăn để có thể tiến hành được một CBA có chất lượng. Chỉ đơn giản là việc xác định đâu là chi phí, đâu là lợi ích cũng đã đòi hỏi chúng ta phải cân nhắc kỹ lưỡng. Cũng có thể có nhiều ý kiến khác nhau xoay quanh vấn đề này. Trong khi một số đầu vào, đầu ra có thể có các mức giá phổ biến và ổn định thì một số khác lại có mức giá biến đổi trong quá trình triển khai dự án. Và có thể có một số đầu vào, đầu ra không được đưa ra buôn bán trên thị trường. Điều này khiến cho chúng ta cần phải đưa ra những phương pháp định giá khác nhau.

CBA mặc định rằng tất cả các mặt hàng đều có một giá trị tiền tệ nhất định. Điều này là cần thiết trong việc so sánh giữa đầu vào và đầu ra để quyết định xem liệu một dự án có khả thi về mặt kinh tế hay không. Trong khi chúng ta có những kỹ năng thích hợp để quy ra tiền với phần lớn các mặt hàng thì chúng ta khó có thể làm như vậy với một số mặt hàng nhất định. Ví dụ như không khí trong lành và sức khỏe tốt đều rất đáng quý song sẽ là một thách thức lớn để có thể xác định chính xác lợi ích ròng của một chương trình mang lại không khí trong lành và sức khỏe tốt cho mọi người. Tuy nhiên, ta có thể xác định được một khoảng chi phí nào đó mà nếu chi phí của chương trình nằm trong khoảng đó thì chương trình là có giá trị và ngược lại.

Cần phải nhận thấy một điều rằng người ta đưa các quyết định liên quan đến các dự án không chỉ đơn thuần dựa trên cơ sở CBA. Các tính toán chính trị và xã hội nằm ngoài CBA có thể có tầm quan trọng ít nhất là ngang bằng với các lợi ích kinh tế trong việc quyết định có nên triển khai dự án hay không. Điều này đúng nhất là trong trường hợp đưa ra các quyết định công. Lúc đó, các tài nguyên thường được phân bổ dựa trên các lý do khác chứ không phải là hiệu quả kinh tế. Những vấn đề công bằng, bình đẳng trong các trường hợp này có thể sẽ thế chỗ cho thậm chí là những nguồn lợi ròng lớn về kinh tế. Nhưng ít nhất cũng có thể hy vọng rằng một CBA có thể tác động tới quyết định của một người còn đang do dự hay có thể đưa chúng ta đến với lựa chọn tối ưu giữa các dự án có tác động chính trị, xã hội tương tự như nhau.



1.2) Nguyên tắc lựa chọn trong CBA

Do CBA xem xét các tác động trên phạm vi toàn xã hội cho nên các lợi ích hay chi phí mà nó quan tâm trên phạm vi toàn xã hội. Một tác động được coi là có ích khi nó làm tăng sự ưa thích của bất kỳ thành viên nào trong xã hội mà không làm cho ai đó trong xã hội bị thiệt hại hơn trạng thái ban đầu. Một tác động được coi là thiệt hại nếu nó làm bất kỳ một người nào trong xã hội phải chịu thiệt hại hơn mức nguyên trạng ban đầu. Trong CBA người ta đưa ra quyết định lựa chọn dựa trên lợi ích ròng của toàn xã hội.

Bản chất CBA là phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Vấn đề quan trọng nhất trong thực hiện chính sách đó là hiệu quả phân bổ nguồn lực, việc phân bổ nguồn lực đó phải đảm bảo được nguyên tắc các bên đều có lợi “win-win”

Nguyên tắc dựa vào hiệu quả cải thiện pareto thực tế: Một phương án được coi là cải thiện Pareto thực tế khi phương án đó có thể tạo ra một thay đổi thực tế làm cho ít nhất một người được lợi mà không làm bất kỳ ai khác bị thiệt hại. Tuy nhiên trong thực tế có những phương án mà không đảm bảo được điều này. Nhưng nếu lợi ích ròng xã hội vẫn dương thì đó vẫn là phương án mong muốn.

Nguyên tắc dựa vào cải thiện pareto tiềm năng: Theo tiêu chí của Hicks và Kaldor đưa ra, một phương án chỉ chấp nhận khi và chỉ khi những người được lợi có thể bồi thường đầy đủ cho những người bị thua thiệt nhưng vẫn đảm bảo “giàu” lên, nghĩa là lợi ích ròng xã hội dương.

Trong việc phân bổ nguồn lực liên quan đến thực hiện chính sách phát triển, đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách luôn phải dựa vào hiệu quả pareto để áp dụng vào những vấn đề cụ thể theo mối quan hệ phù hợp với bối cảnh thị trường. Đảm bảo nguyên tắc khi phát triển dự án không ai được nghèo đi, có ít nhất một người giàu lên.

Tuy nhiên bên cạnh những tiêu chí mà Kaldor- Hicks đưa ra thì người ta cũng đưa ra một số lý lẽ sau:

+ Thứ nhất: Nếu đạt mục tiêu Kaldor - Hicks thì xét về mặt xã hội sẽ tối đa được tổng lợi ích xã hội, nếu tổng lợi ích tăng lên thì gián tiếp giúp được người nghèo( đối tượng dễ bị tổn thương) và hiệu quả dự án sẽ cao hơn.

+ Thứ hai: Có thể các chính sách khác nhau sẽ tác động tới các luồng chi phí, lợi ích khác nhau. Tuy nhiên nếu nguyên tắc áp dụng hiệu quả pareto tiềm năng là quan điểm sáng suốt của chính phủ thì kết quả cuối cùng lợi ích và chi phí tích hợp lại có tính bình quân tức là mọi người đều được hưởng lợi.

+ Thứ ba: Trong việc thực hiện, quy tắc pareto tiềm năng cũng có thể có những mâu thuẫn trong hệ thống chính trị. Nếu điều này xảy ra thì chi phí sẽ dồn về một nhóm nào đó, chứ không phải toàn xã hội. Điều này dẫn đến tính thuyết phục xã hội bị hạn chế

+ Thứ tư : Khi tiến hành phân tích hiệu quả pareto tiềm năng người ta hướng tới phân bổ của cải hoặc các đối tượng liên quan phải đảm bảo tính bình đẳng cao hơn, dẫn đến cải thiện vấn đề thực thi chính sách.

Ngoài vấn đề hiệu quả pareto thì trong CBA còn đề cập đến Chi phí cơ hội và vấn đề bằng lòng chi trả v.v...



1.3) Mục đích

Phục vụ lựa chọn chính sách để đi đến một quyết định trong các phương án đưa ra, các nhà đầu tư và chính phủ sẽ chọn phương án nào là tối ưu nhất xét trên quan điểm kinh tế. Việc sử dụng CBA, Kinh nghiệm thực tiễn của các nước phát triến cho thấy đối với một chương trình dự án hay một chính sách nào đó thể hiện trong CBA, người ta chia làm 3 giai đoạn: Trước khi thực hiện dự án - Trong quá trình thực hiện dự án - Sau khi kết thúc dự án. Việc vận dụng CBA tốt sẽ giúp cho xã hội tránh được những lãng phí rủi ro và các thiệt hại kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.



1.4) Các khái niện liên quan

+ Chi phí cơ hội.

Chi phí cơ hội là sự lựa chọn có giá trị cao nhất bị bỏ qua khi đưa ra quyết định lựa chọn phương án hay là là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn phương án khác. Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn. Trong sản xuất, đó là số lượng các hàng hóa khác cần phải hy sinh để có thêm một đơn vị hàng hóa nào đó. Mỗi một hoạt động đều có một chi phí cơ hội. Ví dụ, khi một người nào đó đầu tư 10.000 USD vào chứng khoán thì chính người đó đã bỏ lỡ cơ hội được hưởng lãi nếu gửi 10.000 USD vào ngân hàng như một khoàn tiền tiết kiệm. Chi phí cơ hội của dự án đầu tư 10.000 USD vào chứng khoán bằng khoản lãi tiết kiệm đáng ra có thể có được. Chi phí cơ hội không chỉ là việc mất tiền bạc hay chi phí về tài chính, nó còn bao gồm cả những thứ khác như: mất thời gian, ý thích, hoặc những lợi nhuận khác. Do tính trừu tượng và tương đối của nó, cũng như việc nó chưa xảy ra nên ci phí cơ hội thường không xuất hiện trong các báo cáo của bộ phận tài chính, kế toán. Tuy nhiên, đây luôn là vấn đề các nhà quản lý phải cân nhắc khi đưa ra một quyết định. Gần như mỗi phương án sẽ liên quan đến ít nhất một chi phí cơ hội.

Chi phí cơ hội là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. việc tính toán các chi phí cơ hội trong quá trình thực hiện CBA chính là thể hiện tính xã hội của chi phí, bởi vì với phương án đã chọn, xã hội mất đi cơ hội có được các lợi ích khác nếu dành nguồn lực đó để thực hiện các phương án khác. Hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại nhiều tranh cãi về cách tính toán chi phí cơ hội. Có quan điểm cho rằng chi phí cơ hội được tính bằng toàn bộ chi phí của các phương án bị bỏ qua, quan điểm khác thì cho rằng nó chỉ là phần lợi ích bị mất đi, hay phần chênh lệch giữa phương án được thực hiện với phương án có khả năng sinh lợi lớn nhất bị bỏ qua. Tuy nhiên cách hiểu thứ hai được nhiều ý kiến ủng hộ hơn và có vẻ cũng đúng với thực tế hơn, vì một phương án chr được thực hiện khi nó mang lại lợi ích lớn hơn các phương án khác. Tổng lợi ích của phương án bị bỏ qua là chi phí cơ hội của việc lựa chọn phương án nào đó, dường như là cường điệu hóa chi phí thực mà phương án đó phải gánh chịu. Từ sự nhìn nhận như vậy ta có:

Chi phí cơ hội = Lợi ích của phương án có khả năng sinh lợi lớn nhất đã bị bỏ qua khi đưa ra quyết định lựa chọn một phương án

+ Các loại giá được tính toán trên trong chi phí - lợi ích

Giá thị trường (market price): Là giá thực tế tồn tại của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường mà tại đó người mua và người bán quyết định trao đổi cho nhau dựa trên quan hệ cung cầu. Các nhà phân tích tài chính thường sử dụng trực tiếp các loại giá này trong phân tích , tính toán. Tuy nhiên nhiều trường hợp trong thị trường không hoàn hảo thì giá này cũng chỉ mang giá trị gần đúng mà thôi. Giá thị trường không phản ánh đúng giá trị chi phí- lợi ích thực tế của hàng hóa vì loại giá này chứa đựng những bóp méo về thuế, tỉ giá hối đoái, lãi suất, mức lương tối thiểu… Vì vậy, về nguyên tắc, loại giá này không sử dụng trong tính toán các chi phí lợi ích liên quan đến xã hội, nếu có phải điều chỉnh và loại trừ yếu tố phi thị trường kể trên.

Giá bóng (giá mờ): Là loại giá phản ánh chi phí kinh tế thực của hàng hóa và dịch vụ sau khi đã điều chỉnh những bóp méo trong mức lương, lãi xuất, tỉ giá hối đoái, thuế quan, v.v... Đây là loại giá không tồn tại trên thị trường trao đổi hàng hóa thông thường mà nó có thể xác định thông qua giá thị trường, điều chỉnh giá thị trường để làm nó phản ánh đúng hơn các chi phí xã hội. Chính vì đặc điểm này mà giá mờ được sử dụng trong phân tích kinh tế. Tuy nhiên việc xác định giá mờ là không đơn giản, nó phụ thuộc vào khả năng của người phân tích trong việc nhận định và đánh giá các chi phí thực của xã hội. Khi giá mờ không thể xác định hay xác định không đủ độ tin cậy, người ta sử dụng giá thị trường để thay thế. Mặc dù nó sẽ làm các kết quả thiếu chính xác nhưng về cơ bản phân tích đó vẫn mang nhiều ý nghĩa vì tính xã hội của nó.

+ Chi phí lợi ích trong thời kỳ khác nhau, cơ chế chiết khấu.

Chiết khấu là một vấn đề hết sức qua trọng, đặc biệt xét trong bối cảnh kinh tế thị trường có nhiều biến động về giá cả và lạm phát. Trong phân tích chi phí lợi ích thì tỷ lệ chiết khấu là chi phí cơ hội của tiền đối với xã hội

Lãi kép, chiết khấu 2 thời kỳ: Trong khuôn khổ giới hạn (có thể là 2 năm) để minh họa cho vấn đề này xem xét trường hợp sau. Giả sử bạn là người kinh doanh đang chờ cơ hội để mua và nhập rượu vang cho dịp tết và theo dự tính nếu bạn đầu tư hiện nay là 1000$ và sau một năm bạn có thể bán được 11000$, biết rằng bạn có thể vay tiền từ ngân hàng với lãi suất 8%. Bạn có nên đầu tư không?

Lãi kép và chiết khấu trong nhiều năm: FV = X (1+i)n

X: số tiền đầu tư ban đầu, i: lãi suất (chiết khấu)

+ Đồng tiền thực tế và đồng tiền danh nghĩa.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường vấn đề tiền tệ cần được xem xét giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, đặc biệt là khu vực tư nhân. Trong đó có một vấn đề mà doanh nghiệp qua tâm đó chính là giá trị thực của đồng tiền. VD: Ở Việt Nam, một số dự án trong thời gian qua họ đã thắng thầu trong việc xây dựng các con cầu, nhưng khi có lạm phát cao nên họ đã dừng làm mặc dù giá thầu vẫn thế, quyết định tài chính vẫn như cũ . Để giả quyết vấn đề này phải có cơ chế điều chỉnh đồng tiền thực tế, thực tế này cũng đã xảy ra ở các nước phát triển, kinh tế ổn định, kinh nghiệm lâu đời về phát triển kinh tế thị trường.

Nếu chi phí và lợi ích được đo bằng đồng tiền danh nghĩa thì nhà phân tích phải sử dụng một tỷ suất chiết khấu danh nghĩa. Nếu chi phí và lợi ích đo bằng đồng tiền thực tế thì phải sử dụng xuất chiết khấu thực tế. Từ đó để đảm bảo tính chính xác hơn đưa về cùng một giá trị so sánh, thường người ta quy đổi về một năm cơ sở nào đó. Trong trường hợp vốn đầu tư của một dự án được sử dụng từ nhiều nguồn có lãi suất khác nhau thì tỉ suất chiết khấu sẽ bằng lãi suất bình quân gia quyền của các nguồn vốn đó: r =

Vj : số vốn từ nguồn thứ j

rj : lãi suất của nguồn thứ j

m : số nguồn cung cấp vốn cho dự án

+ Việc xác lập thời gian trong chi phí lợi ích : Rất quan trọng bởi vì nó phản ánh kết quả cuối cùng và từ kết quả đó có quyết định chính xác. Kết quả NPV hoàn toàn khác nhau, trong thực tế của hoạt động kinh tế khi chúng ta đầu tư vào dự án trong nhiều trường hợp nếu tính thời gian hoàn vốn thì dự án đã kết thúc thì dự án vẫn sinh lời. Chính vì vậy, CBA đưa yếu tố giá trị cuối cùng vào tính toán.



1.5) Các bước tiến hành CBA

Để thực hiện CBA người ta tuân thủ theo trình tự các bước nhất định, tùy theo cách phân chia, các tác giả có thể phân ra các bước khác nhau. Trong đó có những phương án 3 bước, 4 bước, 8 bước, v.v... Tuy nhiên xét về cơ bản nội dung giống nhau, trong khuôn khổ của ngành chúng ta nghiên cứu 9 bước.



Bước 1: Quyết định lợi ích của ai và chi phí của ai

Chúng ta phải có nhìn nhận ban đầu trước khi phân tích đối với một dự án hay chương trình. Đó là ai sẽ được lợi ích, ai chịu chi phí khi thực hiện dự án hay chương trình đó. Bởi vì từ việc nhận thức đó chúng ta sẽ có quan điểm trong phân tích



Bước 2: Lựa chọn danh mục các dự án thay thế

Trong thực tế có nhiều giải pháp đưa ra, các giải pháp này có thể thay thế cho nhau, để làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách lựa chọn phương án nào tối ưu. Trong thực tế bất kỳ một phương án nào đưa ra luôn luôn có một phương án thay thế. Tất cả các phương án thay thế đó sẽ liên quan chặt chẽ tới dòng tiền trong phân tích chi phí lợi ích và điều đó cũng có nghĩa là người phân tích có những lựa chọn phù hợp để đưa vào tính toán và từ đó để khái quát toàn bộ người ta rút ra một công thức : Trong mối quan hệ giữa quy mô dự án và các giải pháp nếu có n quy mô, chochúng ta có k giá trị thì có kn giải pháp lựa chọn.

Trong trường hợp thực tế mà người ta chỉ đánh giá một dự án như biến thời gian, sản lượng để chúng ta có phân bổ hiệu quả trong đó tăng quy mô sản lượng thì sẽ tác động tới chi phí và lợi ích. Mà mục đích của chúng ta là lãi ròng cao nhất nên người làm phân tích phải biết được quy luật biến thiên của đồng tiền để có sự lựa chọn thích hợp. để mô phỏng vấn đề này chúng ta xem đồ thị sau:

Bước 3: Liệt kê các ảnh hưởng (tiềm năng) và các chỉ số đo lường

Dựa vào các chỉ số đo lường ở bước 2 người ta tiến hành xem xét đánh giá những ảnh hưởng xảy ra cho từng giải pháp đó. Đồng thời xem xét những chỉ số nào cần đưa vào để tính toán, xác định. Chính vì vậy ở bước này có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó liên quan trực tiếp đến kết quả sau này. Việc phân tích và liệt kê những ảnh hưởng tiềm năng sẽ giúp cho chúng ta nhìn nhận trước khả năng có thể xảy ra và đi đến những quyết định phù hợp trong vận hành dự án trong tương lai. Tuy nhiên vấn đề cơ bản trong phân tích tiềm năng là chúng ta phải lựa chọn những chỉ số liên quan đến đo lường dự án.



Bước 4: Dự đoán những ảnh hưởng về lượng suốt quá trình thực hiện dự án

Trong bước này về mặt lý thuyết người ta thường xây dựng các mô hình hay đường biến thiên của chi phí - lợi ích theo thứ tự qua các năm. Bởi lẽ bất cứ một dự án nào cũng có một thời hạn nhất định, chính mặt thời gian giúp cho xác định các mô hình biến thiên.

Về mặt thực tiễn : Đối với những dự đoán về ảnh hưởng lượng hóa trong suốt quá trình dự án trong thực tiễn, người phân tích phải thường xuyên cập nhật hay có những yêu cầu về cập nhật sẽ xảy ra qua các năm để bổ xung cho nguyên lý lý thuyết đã đề ra. Bởi vì làm vấn đề này chúng ta cần phải chính xác hóa các dòng chi phí lợi ích. Mặt khác trong thực tế còn có biến động của yếu tố ngoại cảnh khác như yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội.

Bước 5: Lượng hóa bằng tiền

Ở bước này trên cơ sở phân tích các yếu tố, các chỉ tiêu về lượng thực tiễn hay tiềm năng, ở các bước trên, chúng ta phải quy đổi ra bằng tiền. Vấn đề quan trọng để quy ra bằng tiền là xác định được giá của một đơn vị đã lượng hóa ở trên, trong đó có hai loại giá mà chúng ta cần phải tính đến đó là giá thị trường và không có giá trên thị trường (giá bóng hay còn gọi là giá mờ). Tuy nhiên, ngoài hai phương pháp tính toán trên, trong thực tiễn của việc thực hiện CBA cũng có những vấn đề rất khó lượng hóa được bằng tiền, thì vấn đề đó người ta để riêng một khoản mục để nhà hoạch định xem xét.



Bước 6: Quy đổi giá trị đồng tiền đã tính toán

Ở bước này sau khi đã xác lập được giá trị của tiền tệ để có kết quả chính xác người ta phải quy đổi các giá trị đồng tiền đó, việc quy đổi đó thường quy về năm thời điểm tính toán.



Bước 7: Tính toán các chỉ tiêu

Trong đó có ba chỉ tiêu quan trọng đó là: Giá trị hiện tại ròng (NPV); tỷ lệ lợi ích trên chi phí ( BCR ); Hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR)



- Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng (NPV- Net Present Value)

Giá trị hiện tại ròng là hiệu số giữa chi phí và lợi ích sau khi đã chiết khấu về giá trị hiện tại. NPV =

Một phương án có lợi khi NPV cho giá trị dương. Trong trường hợp các phương án khác nhau đều thu được NPV dương thì những dự án nào có NPV lớn nhất sẽ là phương án được lựa chọn.

Ưu điểm : Kết quả tính toán của chỉ tiêu này cho phép xác định được chính xác sau thời gian hoạt động của dự án đầu tư thì chủ đầu tư có thể thu được mức lợi nhuận bằng tiền là bao nhiêu tại thời điểm hiện tại trước khi đầu tư.

Nhược điểm: Không phản ứng đúng thời điểm chi trên thực tế và cũng chỉ cho biết khả năng sinh lợi tuyệt đối của các dự án mà không đánh giá được mức lợi nhuận đó có tương quan thế nào với vốn bỏ ra. Chính vì vậy để có một cách nhìn toàn diện về dự án thì cần thiết phải xem xét thêm các chỉ tiêu khác.

- Tỉ số lợi ích chi phí (BCR- Benefit Cost Ratio)

Là tỉ lệ giữa tổng giá trị hiện tại của lợi ích so với tổng giá trị hiện tại của chi phí

BCR =

Ý nghĩa: BCR cho biết tổng các khoản thu của dự án có đủ để bù đắp các chi phí phải bỏ ra hay không, dự án có khả năng sinh lợi hay không. Chỉ tiêu này thường được sử dụng để phân tích các dự án công cộng.Giải pháp được lựa chọn khi

BCR 1 và giải pháp nào có BCR cao nhất sẽ được ưu tiên.

Ưu điểm: Chỉ tiêu này cho biết một cách tương đối về lợi ích và chi phí của dự án, lợi ích mà dự án mang lại bằng bao nhiêu lần chi phí bỏ ra.

Nhược điểm: Dự án có BCR lớn nhất chưa chắc đã có NPV lớn nhất, do vậy mà khó trong việc kết hợp 2 phương pháp để lựa chọn

- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR- Internal Rate of Return)

Là một trong những chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong đánh giá sự đáng giá về mặt tài chính của các dự án đầu tư độc lập. Về mặt toán học, IRR là giá trị của tỉ lệ chiết khấu khi NPV = 0



IRR = r1+

IRR cho biết mỗi dự án đem lại cho chủ đầu tư một tỉ lệ lợi nhuận là bao nhiêu phần trăm. Một phương án chỉ đáng mong muốn nếu nó mang lại tỉ lệ lợi nhuận lớn hơn so với mức lãi suất mà nhà đầu tư phải trả trên thị trường vốn vay (rgiới hạn). Phương án được chọn nếu IRR> rgiới hạn và thứ tự ưu tiên cho những phương án có IRR lớn hơn.

Ưu điểm: Cho biết một cách rõ rang dự án có khả năng sinh lãi bao nhiêu phần trăm mỗi năm, hay là mức độ thu hội vốn nhanh hay chậm. Nó thuận lợi cho việc đánh các dự án độc lập. Thông thường khi đã đạt được hai chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu này cũng thỏa mãn.



Bước 8: Phân tích độ nhạy

Yếu tố qua trọng để đưa vào phân tích là r, nó phản ánh tính khả thi của dự án. Đặc biệt là mối quan hệ giữa r và NPV, nhất là trong bối cảnh về giá, điều chỉnh thường xuyên của lãi suất ngân hàng. Nếu chúng ta không tiến hành phân tích độ nhạy thì không ứng phó kịp với những biến động của tương lai khi có biến đổi về giá, lạm phát trong tương lai dẫn đến khả năng thực thi của dự án giảm.



Bước 9: Đề xuất các phương án

Trên cơ sở các chỉ tiêu đã phân tích tính toán ở bước 7, kết hợp với bước 8, người phân tích lựa chọn các phương án. Về nguyên tắc các phương án được lựa chọn theo tính khả thi cao nhất mang lại NPV cao nhất thì chúng ta sẽ ưu tiên, thứ tự sắp xếp giảm dần để cho người hoanh định chính sách lựa chọn, quyết định nên lựa chọn phương án nào.






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương