ĐẶc san tuyên truyền pháp luật số 01/2011 chủ ĐỀ pháp luật về BẦu cử ĐẠi biểu quốc hội và BẦu cử ĐẠi biểu hộI ĐỒng nhân dâN



tải về 0.7 Mb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu14.11.2017
Kích0.7 Mb.
#1767
  1   2   3   4

HỘI ĐỒNG PHỐI HỢP CÔNG TÁC

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ

ĐẶC SAN

TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

Số 01/2011


CHỦ Đ

PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ

BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Biên soạn và chịu trách nhiệm nội dung:

Trần Văn Tám - V trưởng Vụ Công tác đại biểu, Văn phòng Quốc hội

HÀ NỘI - NĂM 2011
CHUYÊN Đ

BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Kể từ ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà (06/01/1946) để bầu ra Quốc hội, đến nay Quốc hội đã trải qua 12 khoá với hơn 65 năm. Cùng với sự phát triển của Nhà nước, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng một Nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ngày 22 tháng 5 năm 2011, nhân dân cả nước sẽ đi bầu cử đại biểu Quốc hội Khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 -2016. Đây là dịp để chúng ta tiếp tục củng cố, xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, để mọi tổ chức, cá nhân thực hiện quyền dân chủ, thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và đất nước. Chuyên đề này được biên soạn với mục đích góp phần vào việc tuyên truyền, giúp cán bộ, nhân dân nhận thức một cách sâu sắc về vai trò, vị trí của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong hệ thống chính trị, những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giúp nắm rõ được các quy định của pháp luật về bầu cử, nhất là những điểm mới của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, qua đó để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ bầu cử để chọn được những người có đức, có tài, “vì lợi nước, quên lợi nhà; vì lợi chung, quên lợi riêng”.



Phần thứ nhất

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG


  1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

  1. Vị trí, vai trò của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp

1.1 .Vị trí, vai trò của Quốc hội

Vị trí, vai trò của Quốc hội được xác định bởi vị trí, tính chất và nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội. Theo đó, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

a) Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân

Quốc hội là cơ quan được nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Bầu cử đại biểu Quốc hội là quyền và trách nhiệm của nhân dân với “lá phiếu” của mình sáng suốt, lựa chọn những người có đức, có tài, “ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho nhân dân”. Tính đại diện còn thể hiện trong cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội. Quốc hội là Quốc hội của nhân dân, vì vậy trong Quốc hội quy tụ những con người ưu tú nhất, đại diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội, đại diện cho các vùng, miền của đất nước. Quốc hội là hiện thân của tình thần đoàn kết toàn dân tộc, là một khối thống nhất trên dưới một lòng của nhân dân, là biểu trưng của trí tuệ Việt Nam. Các đại biểu với tâm huyết của mình, với trí tuệ của mình sẽ mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ, chèo lái con thuyền đưa đất nước ta phát triển theo ý Đảng, lòng dân, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự là của nhân dân, vì nhân dân. Tất cả nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội đều phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân và dân tộc, nói nên tiếng nói của nhân dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như vấn đề về chủ quyền quốc gia, về biên giới, lãnh thổ quốc gia, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyết định xây dựng những công trình trọng điểm quốc gia…

b) Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân

Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất do nhân dân trao cho Quốc hội. Trên cơ sở đó, Quốc hội thay mặt nhân dân phân công các cơ quan nhà nước các nhiệm vụ và giao quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện các công việc quản lý xã hội, quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục…và các cơ quan này phải báo cáo công tác trước Quốc hội. Quốc hội có quyền chất vấn Thủ trưởng các cơ quan, yêu cầu giải trình những vấn đề mà nhân dân quan tâm…qua đây, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao mà nhân dân giao cho. Thông qua hoạt động này, Quốc hội đánh giá những việc đã làm được, chưa làm được của các cơ quan nhà nước, có biện pháp để khắc phục hoặc ngăn ngừa những vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước…

Và chỉ có Quốc hội mới có quyền biến ý chí của nhân dân thành ý chí của nhà nước thông qua việc xây dựng Hiến pháp, các văn bản pháp luật mang tính bắt buộc, tính cưỡng chế không chỉ đối với các cơ quan nhà nước mà còn đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Pháp luật chính là công cụ để quản lý xã hội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, là kỷ cương, phép nước.

1.2. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp

Theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương. Theo đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.

Giống như Quốc hội, Hội đồng nhân dân về bản chất đều là cơ quan dân cử, là cơ quan quyền lực nhà nước nhưng mức độ và phạm vi tác động có sự khác nhau. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương bị hạn chế bởi địa giới hành chính cho nên cơ cấu, thành phần là do cử tri ở địa phương bầu nên trên cơ sở quy định của pháp luật.


  1. Khái quát về cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2004-2011

2.1 Khái quát về cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động của Quốc hội khoá XII

Quốc hội khóa XII (nhiệm kỳ 2007 – 2011) có 493 đại biểu Quốc hội là kết quả của cuộc bầu cử ngày 20 tháng 5 năm 2007, thể hiện tinh thần dân chủ, là sự kết tinh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Về cơ cấu, Quốc hội khóa XII có 31,3% đại biểu Quốc hội ở các cơ quan Trung ương; có 68,87% đại biểu Quốc hội ở địa phương; có 17,65 đại biểu là người dân tộc thiểu số; có 25,76% đại biểu là phụ nữ; có 8,72% đại biểu là người ngoài đảng; có 13,79 đại biểu là người trẻ tuổi; có 27,59% đại biểu là đại biểu Quốc hội khóa XI tái cử; có 3,20% là đại biểu đại diện cho các khối doanh nghiệp; có 29,41% đại biểu hoạt động chuyên trách tại các cơ quan của Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội, có 95,99% đại biểu Quốc hội có trình độ đại học và trên đại học; có 0,20% đại biểu là người tự ứng cử.

Về tổ chức, lãnh đạo Quốc hội khóa XII gồm có Chủ tịch, 04 Phó Chủ tịch. Các cơ quan của Quốc hội khóa XII có Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, cụ thể là:

- Ủy ban thường vụ Quốc hội có 18 thành viên, trong đó đồng chí Chủ tịch Quốc hội là Chủ tịch, 04 đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Thủ trưởng các Ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân; chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội; trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội; quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội tham dự. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết phải được công bố chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc hội xem xét lại.

- Hội đồng dân tộc của Quốc hội có 39 thành viên, gồm Chủ tịch, 8 Phó Chủ tịch và 30 Ủy viên;

- Ủy ban pháp luật của Quốc hội có 35 thành viên, gồm Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm và 30 Ủy viên;

- Ủy ban tư pháp của Quốc hội có 34 thành viên, gồm Chủ nhiệm và 4 Phó Chủ nhiệm 29 Ủy viên;

- Ủy ban kinh tế của Quốc hội có 36 thành viên, gồm Chủ nhiệm và 4 Phó Chủ nhiệm và 31 Ủy viên;

- Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội có 35 thành viên, gồm Chủ nhiệm và 4 Phó Chủ nhiệm và 30 Ủy viên;

- Ủy ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội có 34 thành viên, gồm Chủ nhiệm và 2 Phó Chủ nhiệm và 31 Ủy viên;

- Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội có 39 thành viên, gồm Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm và 34 Ủy viên;

- Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội có 40 thành viên, gồm Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm và 35 Ủy viên;

- Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội có 37 thành viên gồm Chủ nhiệm, 4 Phó Chủ nhiệm và 32 Ủy viên;

- Ủy ban đối ngoại của Quốc hội có 30 thành viên, gồm Chủ nhiệm, 3 Phó Chủ nhiệm và 26 Ủy viên.

Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội thành lập, các cơ quan này được Quốc hội giao nhiệm vụ và quyền hạn để giúp Quốc hội thực hiện các chức năng thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh; giám sát việc thực hiện pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội thuộc lĩnh vực được phân công.

Hằng năm, các cơ quan của Quốc hội có trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội.

Về cơ chế hoạt động: Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ; làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.

Hiệu quả hoạt động của Quốc hội được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp của Quốc hội, hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội.



2.2. Khái quát về cơ cấu, tổ chức và cơ chế hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2011

Trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 ngày 25 tháng 4 năm 2004, cử tri cả nước đã bầu được 306.126 đại biểu ở cả 3 cấp (cấp tỉnh có 3.852 đại biểu, cấp huyện có 23.462 đại biểu, cấp xã có 278.812 đại biểu). Trong nhiệm kỳ có 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã tổ chức bầu bổ sung 13 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 192 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, 1.788 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.

So với nhiệm kỳ 1999 - 2004, số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp tăng 63.460 đại biểu. Cơ cấu, thành phần đại biểu tương đối hợp lý, chú trọng tỷ lệ đại biểu nữ, người ngoài đảng, trẻ tuổi. Chất lượng đại biểu được nâng lên một bước cả về trình độ, năng lực, uy tín, phẩm chất chính trị. Đây là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, phát huy dân chủ đại diện, thực hiện các quan điểm của đảng và nhà nước về bình đẳng giới, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ.

Về cơ cấu tổ chức Thường trực Hội đồng nhân dân có sự đổi mới. Thường trực HĐND cấp tỉnh và cấp huyện có thêm chức danh Uỷ viên thường trực. Thường trực HĐND cấp xã được thành lập gồm Chủ tịch và Phó Chủ tịch. Hầu hết HĐND cấp tỉnh và cấp huyện có Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực hoạt động chuyên trách, HĐND cấp xã có Phó Chủ tịch hoạt động chuyên trách. Việc bổ sung chức danh và tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách là điều kiện thuận lợi để bảo đảm tính thường xuyên, liên tục trong hoạt động của Thường trực HĐND nói riêng và của HĐND nói chung trong thời gian giữa hai kỳ họp, thực hiện nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số.

Công tác nhân sự ở đầu nhiệm kỳ đã được quan tâm, hầu hết Chủ tịch HĐND là Bí thư, Phó Bí thư thường trực. Việc bố trí cán bộ chủ chốt của Đảng giữ các chức vụ lãnh đạo HĐND cũng đã tăng cường được sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động của HĐND, nâng cao được vai trò, vị thế, quan hệ công tác và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của HĐND các cấp.

Cơ cấu, tổ chức các ban của HĐND được kiện toàn một bước. Theo báo cáo của HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì có 38 tỉnh, thành phố thành lập 03 ban; 25 tỉnh thành lập 04 ban. Mỗi ban có từ 05 đến 13 thành viên trong đó có 01 Trưởng ban và 01 Phó trưởng ban, nhưng cũng có tỉnh bố trí 02 - 03 Phó trưởng ban. Theo số liệu thống kê giữa nhiệm kỳ, HĐND cấp tỉnh có 48,20% Trưởng ban và 44,48% Phó trưởng ban hoạt động chuyên trách. HĐND cấp huyện có 02 ban, nhưng số lãnh đạo ban hoạt động chuyên trách rất ít, chỉ có khoảng 7,5% số lượng các ban có Trưởng hoặc Phó trưởng ban hoạt động chuyên trách. HĐND cấp xã không thành lập ban.

So với nhiệm kỳ trước đây, số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách ở các ban của HĐND cấp tỉnh tăng lên đáng kể. Các thành viên của các ban nói chung có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với lĩnh vực hoạt động, phần nào đã đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi nâng cao hiệu quả hoạt động thẩm tra, giám sát của ban.



Tổ chức của Tổ đại biểu HĐND là mô hình phù hợp với tình hình tổ chức và hoạt động của HĐND ở nước ta, trong điều kiện đa số các đại biểu hoạt động kiêm nhiệm. Theo quy định hiện hành, thì các đại biểu HĐND được bầu ở một hoặc nhiều đơn vị bầu cử hợp thành Tổ đại biểu HĐND. Tổ đại biểu đã góp phần gắn kết hoạt động của từng đại biểu riêng lẻ trong việc thực hiện các nhiệm vụ tiếp dân, nghiên cứu pháp luật, nghiên cứu tài liệu, tiếp xúc cử tri, thu thập ý kiến và nguyện vọng của cử tri, báo cáo cử tri về kết quả kỳ họp. Thông thường, Tổ đại biểu được chia theo đơn vị hành chính cấp dưới. Đối với cấp xã thì chia theo đơn vị tổ chức dân cư là thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.
3. Vấn đ đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

3.1. Một số hạn chế về tổ chức, hoạt động của Quốc hội khoá XII

Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội đã có nhiều đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đã đóng góp to lớn vào những thành tựu chung của đất nước.

Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, tổ chức và hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, còn tồn tại một số nhược điểm, hạn chế.

Tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội đã có nhiều đổi mới, cải tiến, nhưng so với yêu cầu thì vẫn chưa thật sự có những bứt phá mạnh mẽ. Cơ cấu đại biểu Quốc hội hiện nay chưa có nhiều thay đổi so với nhiệm kỳ Quốc hội các khóa trước. Một số đại biểu Quốc hội chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đại biểu. Còn có sự khác nhau về chế độ, chính sách giữa đại biểu Quốc hội chuyên trách ở trung ương và địa phương. Địa vị pháp lý của từng Tiểu ban trong Hội đồng, Ủy ban chưa được quy định rõ trong luật. Việc chia Tiểu ban nhằm phát huy hiệu quả hoạt động chuyên sâu, tuy nhiên, trên thực tế, nhiều Tiểu ban hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Do đó, phải có cơ chế rõ ràng và thống nhất hoạt động của Tiểu ban trong thời gian tới.

Về hoạt động lập pháp, chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của toàn khoá và của từng năm bị thay đổi nhiều do Quốc hội chưa thực sự chủ động trong hoạt động lập pháp, còn phụ thuộc vào việc trình các dự án luật của Chính phủ, nên một số dự án luật chưa được chuẩn bị kỹ, chất lượng chưa cao hoặc chuẩn bị không kịp, phải rút khỏi chương trình. Nhiều luật rất cấp thiết nhưng chậm được nghiên cứu, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế như Luật đất đai, Luật khiếu nại, tố cáo;

Tính phản biện trong hoạt động thẩm tra một số dự án của các cơ quan của Quốc hội còn chưa sâu sắc. Việc xây dựng luật chưa thực sự quan tâm đến phân tích, lựa chọn những kết quả nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực cần có luật điều chỉnh. Khả năng dự báo chưa tốt, kỹ năng đánh giá tác động của luật chưa cao, nên có những luật, bộ luật được ban hành chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, phải sớm sửa đổi, bổ sung; tình trạng luật “ống”, luật “khung” vẫn còn. Vì vây, nhiều dự án luật đã được Quốc hội thông qua, nhưng vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn mới thực hiện được trong cuộc sống và vẫn còn một số luật còn mang tính cục bộ, nặng về phục vụ ngành mà chưa thực sự phục vụ nhân dân.

Về hoạt động giám sát, quỹ thời gian dành cho hoạt động giám sát chuyên đề còn hạn chế, mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu báo cáo; công tác giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật chưa được quan tâm đúng mức; đặc biệt là việc thực hiện các kiến nghị, kết luận, đề xuất sau giám sát chưa được các cơ quan chịu sự giám sát quan tâm, thực hiện triệt để (do thiếu cơ chế, chế tài để việc thực hiện các kiến nghị được đảm bảo), ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát.

Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp chưa làm rõ được trách nhiệm của người đứng đầu; người trả lời chất vấn còn chung chung, quanh co, chưa đúng trọng tâm câu hỏi; chất vấn chỉ mới dừng lại ở một số nhóm vấn đề chứ chưa bao trùm hết được tình hình bức xúc trên thực tế. Đại biểu Quốc hội cần lựa chọn câu hỏi chất vấn trúng, ở tầm vĩ mô, đồng thời cần đưa ra các kiến nghị, giải pháp để giúp cho việc điều hành của Chính phủ. Việc tổ chức chấn vấn tại các phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng như hoạt động giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã được tiến hành hiệu quả, được sự đồng tình, ủng hộ, cần tiếp tục đẩy mạnh.

Hoạt động giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội cũng như đại biểu Quốc hội vẫn chưa có cơ chế rõ ràng, tính pháp lý không cao, lực lượng mỏng… nên rất khó thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của người đại biểu dân cử nên chưa phát huy vai trò cá nhân đại biểu Quốc hội.

Về việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, công tác chuẩn bị trước khi Quốc hội quyết định một số vấn đề quan trọng chưa thật sự chu đáo. Chất lượng quyết định còn hạn chế, thiếu cơ sở khoa học và không phản ánh đúng thực chất. Hiệu quả quyết định một số vấn đề quan trọng chưa cao. Việc cung cấp tài liệu, thông tin cho đại biểu Quốc hội liên quan đến các vấn đề quan trọng của đất nước do Quốc hội quyết định còn hạn chế, chưa đồng bộ, đầy đủ và kịp thời, gây nên tâm lý thiếu tự tin cho đại biểu trước khi biểu quyết.



3.2. Một số hạn chế về tổ chức, hoạt động của Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004 -2011

Trong nhiệm kỳ 2004-2011, Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong bối cảnh có nhiều khó khăn và thuận lợi. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hoạt động và giám sát có hiệu quả của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành tập trung, quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ, tích cực, có hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, của cộng đồng doanh nghiệp… Hội đồng nhân dân các cấp đã phát huy được sức mạnh tổng hợp cùng với cả nước từng bước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tiếp tục ổn định và phát triển. Tăng trưởng kinh tế, GDP bình quân 5 năm ước đạt trên 7%...

Hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp trong nhiệm kỳ vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, phương thức hoạt động, lề lối làm việc có nhiều đổi mới phát huy được sự chủ động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà nước ở địa phương…

Bên cạnh những thành tích đạt được, tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập.

Về cơ cấu tổ chức HĐND, chưa giải quyết được một cách căn bản mối quan hệ giữa cơ cấu và chất lượng đại biểu; giữa tính đại diện và khả năng thực hiện nhiệm vụ; trách nhiệm và mối liên hệ giữa đại biểu đối với cử tri. Tỷ lệ đại biểu ở các cơ quan hành chính vẫn khá cao, tỷ lệ đại biểu nữ, đại biểu trẻ tuổi ở một số địa phương đạt thấp;

Việc bố trí, sắp xếp đội ngũ đại biểu chuyên trách nhất là các chức danh lãnh đạo Hội đồng nhân dân ở các địa phương chưa có sự thống nhất. Một số tỉnh bố trí Chủ tịch HĐND là Uỷ viên thường vụ, Phó Chủ tịch HĐND là Uỷ viên Ban chấp hành. Hầu hết các Uỷ viên thường trực không tham gia cấp ủy cùng cấp. Công tác quy hoạch cán bộ HĐND của các cấp uỷ mới chỉ dừng lại đối với chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, chưa có quy hoạch đối với chức danh Uỷ viên thường trực và lãnh đạo các ban;

Nhân sự lãnh đạo Thường trực và các ban của HĐND không ổn định, thường hay luân chuyển. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, một số địa phương đã không bố trí đủ đại biểu hoạt động chuyên trách. Ở cuối nhiệm kỳ, có nhiều đại biểu chuyên trách đến tuổi nghỉ hưu, chuyển công tác, nhưng không tìm được người để bầu bổ sung. Thường trực HĐND cấp xã có 02 người, nhưng chỉ có Phó Chủ tịch hoạt động chuyên trách, dẫn đến tình trạng quá tải về công việc. Một số cán bộ có tâm lý không muốn làm đại biểu chuyên trách và chưa yên tâm làm công tác chuyên trách. Quá trình thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường cũng tác động lớn tới tâm tư, nguyện vọng của những người đang công tác ở HĐND nói chung và ở HĐND huyện, quận, phường nói riêng;

Việc bố trí các đại biểu là Trưởng, Phó trưởng ban Đảng kiêm nhiệm Trưởng ban của HĐND tuy có ưu điểm nhất định nhưng cũng có hạn chế là do tập trung thời gian cho công tác đảng, trong khi một số nơi chưa có cơ chế giao quyền cho Phó trưởng ban, nên có trường hợp hoạt động của Ban chưa thật chủ động và bảo đảm yêu cầu về nhiệm vụ và về tiến độ thời gian giải quyết công việc. Hoạt động của HĐND cấp xã gặp nhiều khó khăn do không có các ban chuyên môn.

Số lượng, chất lượng đại biểu tuy đã được nâng lên một bước nhưng chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ và đòi hỏi thực tế. Mối quan hệ giữa chất lượng và cơ cấu đại biểu ở một số địa phương chưa thực sự hợp lý. Tỷ lệ đại biểu ở các cơ quan hành chính vẫn tương đối cao. Hầu hết đại biểu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, số lượng các đại biểu hoạt động chuyên trách còn ít, nên chưa đóng vai trò nòng cốt, tạo sự chuyển biến sâu sắc trong hoạt động của hội đồng nhân dân. Một số bộ phận đại biểu do cơ cấu nên còn thiếu kỹ năng hoạt động. Chưa có cơ chế và phương thức để Hội đồng nhân dân và cử tri đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm cụ của mỗi đại biểu. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ thiếu thường xuyên, mới tập trung trong thời gian đầu nhiệm kỳ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo Hội đồng nhân dân thiếu tính ổn định, một bộ phận cán bộ chưa thực sự yên tâm làm công tác chuyên trách. Cơ cấu, tổ chức bộ máy chưa tương xứng với nhiệm vụ, nên hiệu quả hoạt động chưa cao.

Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động của Hội đồng nhân dân tuy đã được quan tâm, nhưng chưa đồng đều. Số lượng biên chế của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân còn ít; hoạt động của Văn phòng giúp việc vẫn còn nặng nề về hành chính, quản trị. Kinh phí hoạt động chưa bảo đảm, điều kiện cơ sở, vật chất ở một số nơi còn rất khó khăn.



Về hoạt động của HĐND: Chất lượng kỳ họp chưa thực sự đồng đều ở cả 3 cấp, kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã ở một số địa phương vùng sâu, vùng xa vẫn còn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu phát huy dân chủ ở cơ sở; thời gian tổ chức kỳ họp có nơi chưa bảo đảm quy định. Công tác chuẩn bị nội dung kỳ họp còn phụ thuộc vào nhiều cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Việc gửi tài liệu để đại biểu nghiên cứu trước kỳ họp còn chậm hoặc chưa đầy đủ, tình trạng đại biểu họp không có tài liệu ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn; việc điều hành kỳ họp có nơi, có lúc chưa thực sự tạo không khí dân chủ và phát huy được trí tuệ tập thể. Đại biểu Hội đồng nhân dân ở một số nơi chưa phát huy một các đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong các hoạt động của kỳ họp.

Về việc quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương của Hội đồng nhân dân tuy đã có những đổi mới nhưng chưa rõ nét nhất là ở Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã. Nội dung chủ yếu là quyết định kế hoạch thực hiện kinh tế - xã hội; việc quyết định về phân bổ và quyết toán ngân sách, chủ trương đầu tư và một số nội dung khác vẫn còn xu hướng cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị cấp trên vẫn còn những nghị quyết chung chung hoặc nhắc lại nội dung trong nghị quyết cấp trên, chưa sát với thực tế nên khi triển khai đại hiệu quả chưa cao; cơ chế cung cấp thông tin, tài liệu có nơi, có lúc chưa đầy đủ, thiếu cơ sở để đại biểu nghiên cứu. Thời gian thảo luận không nhiều, trong một số trường hợp ý kiến thảo luật còn thể hiện sự xuôi chiều.

Về hoạt động giám sát: số lượng, quy mô và phạm vi giám sát tuy có tăng lên nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Một bộ phận đại biểu kiêm nhiệm chưa dành thời gian thoả đáng cho hoạt động giám sát của Ban mà mình là thành viên. Công tác giám sát của HĐND cấp tỉnh đối với các cơ quan cấp dưới ở những địa phương thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường gặp nhiều khó khăn, do khối lượng công việc quá lớn mà số đại biểu chuyên trách còn ít, kinh phí ở cơ sở vẫn còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm và phương thức giám sát hợp lý;

Hoạt động chất vấn có nơi, có lúc còn chưa thực chất, các câu hỏi chất vấn thường chỉ tập trung ở một số đại biểu, nội dung chất vấn còn dàn trải, trả lời chất vấn còn chung chung, thiếu giải pháp và trách nhiệm cụ thể. Tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm trong hoạt động chất vấn vẫn còn. Ý nghĩa, tác động và hiệu quả chất vấn còn hạn chế;

Phương thức giám sát còn có điểm bất cập, giám sát ở cơ sở chủ yếu vẫn là nghe trình bày báo cáo, nên kết quả đạt được chưa cao. Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện ý kiến, kiến nghị sau giám sát và chất vấn không phải nơi nào cũng thực hiện thường xuyên và nghiêm túc. Quy định về bỏ phiếu tín nhiệm chưa có cơ chế thực hiện.

Về hoạt động tiếp xúc cử tri: Một bộ phận đại biểu chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân. Tình trạng đại biểu vắng mặt trong các cuộc tiếp xúc cử tri vẫn còn, việc tiếp công dân chủ yếu do một số đại biểu chuyên trách đảm nhiệm;

Công tác tổng hợp, phân loại, theo dõi, đôn đốc việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri, khiếu nại tố cáo của công dân ở một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức nên tỷ lệ đơn thư, ý kiến, kiến nghị được giải quyết còn ở mức thấp; tình trạng khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài, vượt cấp diễn ra ở một số nơi;

Thành phần cử tri tham gia tiếp xúc ít có sự thay đổi; các ý kiến, kiến nghị mới chỉ dừng lại ở các vấn đề cụ thể, còn ít các ý kiến về các chủ trương lớn của địa phương; thiếu cơ chế để cử tri giám sát, đánh giá hoạt động của đại biểu HĐND.

Những hạn chế nêu trên đã có ảnh hưởng và tác động nhất định đến việc khẳng định vai trò, vị trí của HĐND trong hệ thống chính trị ở địa phương, gây ra không ít khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Do có sự luân chuyển, không ổn định về nhân sự nên kinh nghiệm hoạt động chưa được kế thừa liên tục, chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao.

3.3. Yêu cầu đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong thời kỳ đổi mới

3.3.1 Yêu cầu đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong thời kỳ mới

Trong thời kỳ hiện nay, đòi hỏi Quốc hội phải tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động để làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình. Trước hết phải hoàn thiện pháp luật để bảo đảm địa vị pháp lý của Quốc hội, trong đó có vấn đề về tổ chức của Quốc hội, về hoạt động của Quốc hội…

Yêu cầu về đổi mới tổ chức của Quốc hội

Yêu cầu đổi mới tổ chức của Quốc hội gắn liền với yêu cầu hoàn thiện, củng cố và xây dựng bộ máy nhà nước thật đồng bộ, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Quốc hội; mối quan hệ giữa các cơ quan này trong việc thực hiện các chức năng của Quốc hội; cần có cơ chế xác lập mối quan hệ, sự phối hợp hoạt động giữa Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Sự phân công càng rõ, càng cụ thể thì quyền lực của nhân dân càng được thực hiện đầy đủ và có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội phải bắt nguồn từ việc nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, nhưng phải đảm bảo các thành phần, đại diện cho nhân dân cả nước trong Quốc hội, đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta trong năm 2011, là bầu được những người xứng đáng, có tâm và có tầm để làm cho Quốc hội khoá XIII thật sự là Quốc hội của trí tuệ, của tinh thần đoàn kết, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Mỗi người dân bằng trí tuệ của mình sáng suốt lựa chọn và chọn được những người mà dân tín nhiệm, có đức, có tài là nhân tố trực tiếp góp phần chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, là tiền đề để Quốc hội khóa XIII đổi mới tổ chức và hoạt động trong thời kỳ mới.

Cần phải tăng cường số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội và ở các đoàn đại biểu Quốc hội. Có thể nói, đây là lực lượng nòng cốt trong các cơ quan của Quốc hội và các đoàn đại biểu Quốc hội, với tâm huyết và trí tuệ, kinh nghiệm và thực tiễn sẽ góp phần vào việc nâng cao chất lượng và đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội;

Việc chia, tách, sáp nhập các cơ quan của Quốc hội cần phải được nghiên cứu kỹ, để có những quyết định sát thực, phù hợp với yêu cầu mới, bảo đảm để Quốc hội thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Yêu cầu đổi mới về tổ chức của Quốc hội là nhằm mục đích nâng cao vị trí, vai trò và hoạt động của Quốc hội, của đại biểu Quốc hội, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phù hợp với sự vận động và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.



Yêu cầu về nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội

Về hoạt động lập pháp, cần chủ động nâng cao chất lượng, hiệu lực của các đạo luật khi ban hành; hạn chế tình trạng luật khung, luật ống. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan trình dự án luật trong việc giải trình đến cùng ý kiến của đại biểu Quốc hội. Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội cần tích cực, chủ động nghiên cứu trình dự án luật. Có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội trình các sáng kiến pháp luật.

Sau khi Quốc hội thảo luận lần thứ 2 về dự án luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cần gửi dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu và dự thảo luật tới các vị đại biểu Quốc hội để xin ý kiến. Sau đó, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tiếp thu, chỉnh lý trình Quốc hội xem xét, thông qua; như vậy mới bảo đảm chất lượng của luật.

Cần cung cấp thêm thông tin cho các đại biểu Quốc hội khoá XIII về số lượng các luật, pháp lệnh được thông qua trong nhiệm kỳ trước để có cơ sở thảo luận, xem xét, quyết định chương trình cho khoá mới.

Về hoạt động giám sát, cần đổi mới hơn nữa và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội như mở rộng đối tượng giám sát; đổi mới cách thức tiến hành giám sát. Có cơ chế huy động các chuyên gia để nâng cao chất lượng kết quả giám sát. Có tiêu chí cụ thể đánh giá kết quả giám sát. Sau giám sát cần có sự theo dõi sát sao việc thực hiện các kiến nghị giám sát. Trong trường hợp không có sự chuyển biến, cần tái giám sát để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này. Đồng thời, cần có chế tài nghiêm khắc với những cơ quan không chấp hành ý kiến, kiến nghị sau giám sát. Tiếp tục chú trọng hơn nữa hoạt động giám sát việc trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri. Quốc hội cần dành thời gian để nghe Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội báo cáo kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát.

Hoạt động chất vấn, cần phân loại những vấn đề chất vấn tại kỳ họp Quốc hội và những vấn đề chất vấn tại Uỷ ban thường vụ Quốc hội, giải trình tại Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội. Có hình thức đánh giá việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Tiến hành chất vấn tại Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội.

Về việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, cần quy định cụ thể về tiêu chí xác định các công trình quan trọng quốc gia, để từ đó xác định chính xác tầm quan trọng của dự án do cơ quan soạn thảo trình Quốc hội; đảm bảo quy trình chuẩn bị quyết định sao cho có chất lượng cao nhất và đúng tiến độ theo quy định pháp luật. Quốc hội cần ban hành đạo luật hoặc nghị quyết quy định nguyên tắc, xác định những chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội để Quốc hội có cơ sở khi xem xét, thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năng bảo đảm sự thống nhất.

3.3.2 Yêu cầu đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân trong thời kỳ mới

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, trong thời gian tới cần quan tâm một số vấn đề sau:

Tiếp tục đổi mới và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân, nơi nào cấp ủy Đảng đề cao và nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân thì hoạt động của Hội đồng nhân dân nơi đó đạt chất lượng cao. Sự lãnh đạo của Đảng từ việc bố trí cán bộ đến định hướng hoạt động của Hội đồng nhân dân nhân dân các cấp càng sâu sát, kịp thời thì hiệu quả và chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân sẽ ngày càng được nâng lên. Trong công tác nhân sự trong cuộc bầu cử trú trọng đến chất lượng, tăng tỷ lệ đại biểu các cơ quan Đảng, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các đại biểu ngoài đảng, đại biểu hoạt động chuyên trách, bảo đảm chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân khi được bầu, nhất là thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã phải là những người có năng lực, trình độ, tâm huyết, uy tín và kinh nghiệm hoạt động.

Giải quyết tốt mối quan hệ hữu cơ giữa cơ cấu và chất lượng đại biểu, bầu ra được những đại biểu tiêu biểu, có trình độ, năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện tiên quyết, đảm bảo cho HĐND phát huy được vai trò, vị trí là cơ quan đại diện của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu, thắt chặt mối quan hệ giữa đại biểu với cử tri, chú trọng công tác bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, trình độ lý luận, kỹ năng hoạt động thông qua nhiều hình thức là công việc cần được tiến hành thường xuyên;

Coi trọng việc kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy, tăng cường đại biểu hoạt động chuyên trách làm nòng cốt thúc đẩy hoạt động của HĐND. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, HĐND một số tỉnh, thành phố có Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Uỷ viên thường trực, các Trưởng ban, Phó Trưởng ban hoạt động chuyên trách thì hoạt động của HĐND đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn;

Sớm tổng kết, đánh giá việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường, từ đó có kết luận về chủ trương đổi mới tổ chức hệ thống chính quyền địa phương để sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan, tạo hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân.

Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về hoạt động của Hội đồng nhân dân, theo đó phải xác định vị trí pháp lý của Thường trực Hội đồng nhân dân; số lượng thành viên và cơ cấu chức danh trong Thường trực Hội đồng nhân dân ở từng cấp, tổ chức các Ban Hội đồng nhân dân; tăng thêm số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách một cách hợp lý để bố trí đại biểu chuyên trách giữ các chức danh trong Thường trực và các ban của Hội đồng nhân dân; sửa đổi các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cho phù hợp với chủ trương phân cấp quản lý và tổ chức hệ thống chính quyền địa phương trong tình hình mới;

Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn giám sát, bảo đảm các điều kiện hoạt động của Hội đồng nhân dân. Theo đó phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ; thường xuyên duy trì mối quan hệ phối hợp công tác giữa HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ và Đoàn ĐBQH trong các hoạt động tiếp xúc cử tri, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri; tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND. Tăng cường trao đổi kinh nghiệm giữa Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố trong khu vực; giao ban định kỳ giữa Thường trực và các ban của HĐND cấp trên với Thường trực HĐND cấp dưới;

Cải tiến công tác chuẩn bị, đổi mới cách thức điều hành để phát huy dân chủ và trí tuệ tập thể trong các kỳ họp HĐND; tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, công khai các hoạt động của HĐND; bảo đảm cung cấp đầy đủ thông tin, tài liệu phục vụ hoạt động giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương;

Chú trọng bố trí cán bộ, chuyên viên chuyên sâu giúp việc HĐND các cấp; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Tăng cường các điều kiện bảo đảm hoạt động của HĐND như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho HĐND, cơ quan giúp việc HĐND.

Phần thứ hai

GIỚI THIỆU

LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

I. LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI


  1. Sự cần thiết ban hành luật

Bầu cử thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước ta, là phương thức để cử tri cả nước trực tiếp lựa chọn bầu những đại biểu xứng đáng đại diện cho ‎ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính vì vậy, bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là công tác được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm tổ chức bầu cử, là sự kiện chính trị quan trọng, là ngày hội của toàn dân.

Với mục đích bảo đảm sự đồng bộ, hợp lý của hệ thống chính trị; tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng trong các cơ quan nhà nước ở các cấp; tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức; phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, cử tri cả nước, tháng 01 năm 2007, tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã đề ra chủ trương tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong cùng một năm (là năm đầu của mỗi kế hoạch 5 năm). Thực hiện chủ trương này của Đảng, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 05/2007/QH12 ngày 04/8/2007 về rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII và Nghị quyết số 25/2008/QH12 ngày 15/11/2008 về kéo dài nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân. Như vậy, năm 2011, chúng ta sẽ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011); tiếp theo sẽ tiến hành bầu cử đồng thời đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016.

Trong các kỳ bầu cử gần đây, việc bầu cử đại biểu Quốc hội được thực hiện theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 và được sửa đổi, bổ sung năm 2001; việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003. Qua tổng kết, đánh giá việc thi hành các luật này cho thấy các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI, XII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009 đều được tiến hành đúng tiến độ, bảo đảm an toàn, dân chủ, tiết kiệm, đúng pháp luật. Các cuộc bầu cử đã đạt được những kết quả tích cực và thành công trên nhiều phương diện, từ công tác chuẩn bị, tổ chức triển khai thực hiện cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử.

Tuy nhiên, trong điều kiện tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng một ngày thì sẽ có một số vấn đề vướng mắc phát sinh cần phải giải quyết. Hiện nay, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có quy định khác nhau về nhiều nội dung, trong đó có vấn đề về chỉ đạo bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử, số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu, trình tự, thủ tục, thời hạn thực hiện các bước trong quy trình bầu cử. Với các quy định khác nhau như vậy, nếu vẫn tiến hành quy trình bầu cử độc lập theo từng luật thì sẽ rất phức tạp trong chỉ đạo bầu cử chung và tổ chức thực hiện, gây lãng phí về thời gian, tiền của và công sức.

Ngoài ra, thực tế cũng cho thấy bên cạnh những ưu điểm thì còn một số quy định của các luật về bầu cử có hạn chế, bất cập. Trong những hạn chế, bất cập đó có những vấn đề cần phải được nghiên cứu sâu hơn để sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện và đồng bộ với các luật khác về tổ chức bộ máy Nhà nước như các vấn đề liên quan đến quyền bầu cử, ứng cử của công dân Việt Nam ở nước ngoài, điều kiện, tiêu chuẩn đại biểu, điều kiện tự ứng cử, các bước của quy trình hiệp thương.v.v... Đồng thời, cũng có một số quy định còn hạn chế, chưa phù hợp, gây khó khăn, lúng túng cho quá trình triển khai bầu cử cần phải được sửa đổi nhằm bảo đảm thuận lợi cho công tác bầu cử.

Vì vậy, để tổ chức thực hiện cuộc bầu cử chung trong cùng một ngày có tính khả thi, bảo đảm thuận lợi, tiết kiệm thì cần phải có sự thống nhất về một số quy định giữa Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; đồng thời cần sửa đổi một số vướng mắc về tổ chức thực hiện bầu cử đã phát sinh trong các cuộc bầu cử vừa qua. Cụ thể là



1.1. Những vướng mắc khi tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng một ngày

- Hiện nay các luật về bầu cử quy định khác nhau về trách nhiệm của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ trong việc chỉ đạo đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đối với việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong điều kiện tiến hành bầu cử trong cùng một ngày thì cần có quy định bảo đảm sự chỉ đạo bầu cử chung từ trung ương đến địa phương. Việc phải thành lập nhiều tổ chức phụ trách bầu cử để thực hiện công tác bầu cử của cả đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân từng cấp sẽ gây lãng phí và khó khăn cho chính quyền địa phương trong công tác bố trí nhân sự tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử. Đây là vấn đề cần được xem xét để có thể sáp nhập một số tổ chức bầu cử khác nhau.

- Về số lượng cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội quy định từ ba trăm đến hai nghìn cử tri; Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Do tiến hành bầu cử chung trong cùng một ngày nên cần phải sửa đổi thống nhất về số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu và quy định rõ khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Tổ bầu cử được thành lập tại mỗi khu vực bỏ phiếu. Tuy nhiên, hiện nay các luật về bầu cử có quy định khác nhau về thời hạn thành lập; cơ quan chủ trì thành lập; thành phần, số lượng thành viên Tổ bầu cử. Do đó, cần phải sửa đổi các quy định này cho thống nhất để bảo đảm tại mỗi khu vực bỏ phiếu có một Tổ bầu cử thực hiện chung nhiệm vụ bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Các Ban bầu cử tại các đơn vị bầu cử vẫn được thành lập theo các luật khác nhau. Tuy nhiên, cần sửa đổi về cơ quan chủ trì thành lập Ban bầu cử nhằm bảo đảm tính thống nhất với việc sửa đổi cơ quan chủ trì thành lập tổ chức phụ trách bầu cử ở cấp tỉnh và cấp xã.

- Theo Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội; Ủy ban bầu cử in tài liệu bầu cử, thẻ cử tri và phiếu bầu. Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 thì Bộ Nội vụ giúp Chính phủ quy định mẫu phiếu bầu, mẫu thẻ cử tri và các biểu mẫu phục vụ công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chuyển tài liệu và phiếu bầu cho các Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp. Bên cạnh đó, các luật về bầu cử còn có các quy định khác nhau về thời hạn niêm yết Danh sách cử tri; thời hạn khiếu nại, tố cáo và trả lời sau khi phát hiện sai sót của danh sách cử tri; thời gian Tổ bầu cử được quyền kéo dài hơn thời điểm kết thúc cuộc bỏ phiếu; việc kiểm tra hòm phiếu; việc bỏ phiếu của cử tri; mẫu biên bản bầu cử; thẩm quyền quyết định hủy bỏ cuộc bầu cử và tiến hành việc bầu cử lại; thẩm quyền quyết định hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định… Trong điều kiện bầu cử chung thì những quy định nêu trên cần được sửa đổi thống nhất.

Ngoài ra, còn có một số quy định khác nhau giữa hai luật, nhưng việc thực hiện quy định của mỗi luật không gây khó khăn tới quy trình bầu cử chung, cụ thể là các quy định về: thời hạn chậm nhất công bố danh sách các đơn vị bầu cử; thời hạn chậm nhất để tổ chức Hội nghị hiệp thương lần hai; thời hạn xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử… Đối với những vấn đề này vẫn có thể thực hiện theo quy định của từng luật.

1.2. Những vấn đề hạn chế, vướng mắc trong các luật về bầu cử

1.2.1. Đối với Luật bầu cử đại biểu Quốc hội

Về khu vực bỏ phiếu, Điều 12 của Luật quy định mỗi khu vực bỏ phiếu có từ ba trăm đến hai nghìn cử tri. Thực tế bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII cho thấy, quy định này là chưa phù hợp với những địa phương có mật độ dân số cao, với những khu dân cư có trên hai nghìn cử tri.

Về thành phần Tổ bầu cử, Luật quy định thành viên Tổ bầu cử gồm đại diện Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và đại diện cử tri ở địa phương, với số lượng từ năm đến mười một người. Tuy nhiên, do phải thành lập nhiều Tổ bầu cử nên trên thực tế nhiều địa phương đã không có đại diện của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tham gia Tổ bầu cử. Đây là quy định cần được sửa đổi để bảo đảm tính khả thi trong việc tổ chức thực hiện.

Về giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công tác bầu cử, Luật không quy định về thẩm quyền giải quyết cho Tổ bầu cử dẫn đến các khiếu nại, tố cáo tập trung lên Ban bầu cử, gây quá tải đối với công việc của Ban bầu cử.

Về số người ứng cử tại mỗi đơn vị bầu cử, Luật quy định số người trong danh sách ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó. Quy định này đã không giải quyết được các trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng (sau khi danh sách những người ứng cử đã được công bố nhưng do có người ứng cử bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị chết hoặc vì lý do khác phải xóa tên trong danh sách). Mặt khác, đối với các đơn vị bầu cử được bầu ba người, nếu số dư chỉ có một người thì chưa thực sự bảo đảm tính dân chủ để cử tri lựa chọn. Đây cũng là vấn đề cần phải được xem xét để sửa đổi cho phù hợp.

Về thời điểm kết thúc cuộc bỏ phiếu, Luật chưa quy định điều kiện để Tổ bầu cử có thể tuyên bố kết thúc bỏ phiếu sớm tại các khu vực bỏ phiếu đã có 100% cử tri đi bỏ phiếu. Do đó đã gây lúng túng cho các Tổ bầu cử khi quyết định kết thúc cuộc bỏ phiếu sớm hơn giờ quy định để có thể thực hiện các công việc khác của công tác bầu cử.

Về thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương, Luật quy định là thời điểm sau khi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử. Tuy nhiên quy định này là không phù hợp với thực tiễn vì các tổ chức phụ trách bầu cử này vẫn phải tiếp tục hoạt động sau khi Hội đồng bầu cử công bố kết quả bầu cử trong cả nước để thực hiện một số công việc như thông báo kết quả bầu cử, quyết toán kinh phí, giải quyết các vướng mắc phát sinh về kinh phí bầu cử…

1.2.2. Đối với Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Về trách nhiệm gửi biên bản và phiếu bầu của Tổ bầu cử cho các cơ quan hữu quan, Điều 18 và Điều 59 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân quy định Tổ bầu cử phải gửi biên bản kiểm phiếu, phiếu bầu và các tài liệu khác về bầu cử tới Ban bầu cử, Ủy ban nhân dân và Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn. Trong những tài liệu đó thì phiếu bầu chỉ có một bản. Vì vậy, trong tổ chức thực hiện, Tổ bầu cử lúng túng không biết chuyển phiếu bầu cho cơ quan nào. Đây là quy định cần phải được sửa đổi lại cho rõ ràng.

Về thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 22) việc thực hiện cũng gặp những vướng mắc tương tự như đối với thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội và vì vậy cũng cần phải sửa đổi cho phù hợp.

Điều 54 của Luật chưa quy định rõ Hội đồng bầu cử phải trình cơ quan có thẩm quyền nào xem xét, quyết định việc hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm, gây khó khăn trong thực hiện.

Những lý do nêu trên cho thấy việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân là cần thiết nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành thuận lợi, tiết kiệm, an toàn, dân chủ và đúng pháp luật.


  1. Quan điểm chỉ đạo xây dựng luật

Góp phần bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và là ngày hội của toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kế thừa và phát huy những ưu điểm, những quy định vẫn còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, khắc phục được những hạn chế, bất cập trong những quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề vướng mắc thật sự cấp bách của các luật về bầu cử do tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong cùng một ngày và trong điều kiện thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại một số địa phương. Đối với những vấn đề khác thì cần tiếp tục nghiên cứu để tiến hành sửa đổi một cách cơ bản các luật về bầu cử trong thời gian tới.


  1. Bố cục và nội dung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân

Luật có cấu trúc nội dung của một luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật với 4 điều, bao gồm Điều 1 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Điều 2 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; Điều 3 quy định về việc đổi tên gọi các tổ chức phụ trách bầu cử; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành. Các nội dung sửa đổi đã khắc phục được các hạn chế, bất cập trong quá trình bầu cử như đã trình bày ở trên. Cụ thể về các nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Sửa đi quy định về Hội đồng bầu cử ở trung ương theo hướng bên cạnh một số nhiệm vụ, quyền hạn riêng đối với bầu cử đại biểu Quốc hội thì tổ chức này còn có các nhiệm vụ, quyền hạn chung đối với cả bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, như: lãnh đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các quy định của pháp luật về bầu cử; chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử, công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trong cuộc bầu cử. Đồng thời, sửa đổi quy định về trách nhiệm chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử của Chính phủ đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cho phù hợp. (sửa đổi, bổ sung Điều 14 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và các điều 15, 15a và 44 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Sửa đi các quy định về thành lập các Tổ chức phụ trách bầu cử:

Thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh để thay thế và thực hiện chung nhiệm vụ, quyền hạn của cả Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Theo đó, các quy định về Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và quy định về Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã được sửa đổi thống nhất về tên gọi, thành phần, cơ quan chủ trì thành lập, thời hạn chậm nhất để thành lập, với số lượng thành viên được tăng lên (sửa đổi, bổ sung Điều 15 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 16 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Các Hội đồng bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã cũng được đổi tên tương ứng thành Ủy ban bầu cử (sửa đổi, bổ sung Điều 15 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Quy định Tổ bầu cử đồng thời thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã tại cùng một khu vực bỏ phiếu. Tổ bầu cử sẽ được tăng thêm số lượng thành viên. Sửa đổi thống nhất quy định về cơ quan chủ trì thành lập, thành phần và số lượng thành viên của Tổ bầu cử. (sửa đổi, bổ sung các điều 17 và 83 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; các điều 18 và 71 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Sửa đổi về cơ quan chủ trì thành lập, thành phần Ban bầu cử đại biểu Quốc hội nhằm bảo đảm tính thống nhất với việc thành lập tổ chức phụ trách bầu cử ở cấp tỉnh và cấp xã (sửa đổi, bổ sung các điều 16 và 82 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Khoản 1 Điu 17 và Điều 70 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Các luật bầu cử hiện hành giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân chủ trì thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Quốc hội; giao cho Ủy ban nhân dân chủ trì thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Trong điều kiện bầu cử chung và thống nhất về tổ chức của một số tổ chức phụ trách bầu cử, Luật sửa đổi, bổ sung giao cho Ủy ban nhân dân là cơ quan chủ trì thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương để đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc về cơ quan chủ trì thành lập tổ chức phụ trách bầu cử (vì Ủy ban nhân dân có đầy đủ ở cả ba cấp; trong khi đó, ở các địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường sẽ không có Thường trực Hội đồng nhân dân).



Sửa đổi thống nhất quy định về sốợng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu và quy định khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội đồng thời là khu vực bỏ phiếu bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu được sửa đổi thống nhất từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri. Với số lượng cử tri tại mỗi khu vực bỏ phiếu được quy định với biên độ dao động từ ba trăm đến bốn nghìn cử tri sẽ vẫn bảo đảm thuận lợi cho việc bỏ phiếu của cử tri cũng như việc thành lập các khu vực bỏ phiếu; đồng thời cũng không gây quá tải về công việc đối với các Tổ bầu cử trong điều kiện đã tăng số lượng thành viên tại mỗi Tổ bầu cử (sửa đổi, bổ sung Điều 12 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 13 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Sửa đổi thống nhất quy định về mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu, theo đó Hội đồng bầu cử quy định mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu của cả đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp tài liệu bầu cử, phiếu bầu cho Ủy ban bầu cử; Ủy ban bầu cử chuyển cho Ban bầu cử, Ban bầu cử chuyển cho Tổ bầu cử để phân phát cho cử tri. Quy định như vậy là phù hợp với thực tế và làm rõ được trách nhiệm của cơ quan hành chính trong việc đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho bầu cử (sửa đổi, bổ sung điểm e khoản 2 Điu 14, đim đ, khon 2 Điu 15; điểm d, khoản 2 Điu 16; điểm c khoản 2 Điều 17 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; điểm d khoản 2 Điều 15a, điểm h khoản 3 Điều 16 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Sửa đổi thống nhất về cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bn hướng dẫn việc tổ chức Hội nghị cử tri nơi làm việc và nơi cư trú đối với cả bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo hướng giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. (sửa đi Điều 37 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Về số người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội, để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, Điều 46 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được sửa đổi theo hướng “S người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn s đại biểu được bầu ở đơn v đó; nếu đơn vị bầu cử đó được bầu ba đại biểu thì số nời trong danh sách ứng cử phải nhiều hơn s đại biểu được bầu ít nhất là hai ngưi. Trong trường hợp khuyết người ứng cử vì lý do bất khả kháng thì do Hội đồng bầu cử quyết định

Các luật về bầu cử còn có các quy định khác nhau về thời hạn niêm yết danh sách cử tri, thời hạn giải quyết khiếu nại về danh sách cử tri, mẫu biên bản bầu cử, việc gửi biên bản, phiếu bầu và trình tự, thủ tục trong ngày bỏ phiếu như thời gian bỏ phiếu, việc kiểm tra hòm phiếu, việc bỏ phiếu của cử tri, việc đóng dấu trên thẻ cử tri…Những vấn đề này đã được sửa đổi cho thống nhất và khắc phục những điểm chưa hợp lý. (sửa đổi, bổ sung các Điều 17, 25, 26, 57, 58, 60 và 68 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội; Điều 18 và 51 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Thời điểm kết thúc nhiệm vụ của các tổ chức phụ trách bầu cử cũng được sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc bầu cử chung (sửa đổi, bổ sung Điều 21 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Điều 22 Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân).

Như vậy, Luật bầu cử ĐBQH đã được sửa đổi 17 điều, Luật bầu cử đại biểu HĐND đã được sửa đổi 13 điều, bổ sung 1 điều, nhằm đáp ứng yêu cầu khi tiến hành bầu cử chung đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trong cùng một ngày và nhằm khắc phục một số hạn chế, bất cập trong công tác tổ chức bầu cử như đã trình bày ở phần trên.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011.
Phần thứ ba
THAM KHẢO MÔ HÌNH TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGHỊ VIỆN TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay, trên thế giới có khoảng gần 250 nước và vùng lãnh thổ thì có đến 178 nước tổ chức nghị viện.

Kết quả nghiên cứu cho thấy Nghị viện hầu hết các nước đều được tổ chức và hoạt động theo mô hình sau.




tải về 0.7 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương