Bón phân cho cây cà phê



tải về 130 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu07.12.2017
Kích130 Kb.
#4086

    1. Bón phân cho cây cà phê

Thực trạng nông dân lạm dụng quá mức phân và thuốc hoá học trong thời gian qua vì mục đích nâng cao năng suất, tiêu diệt nhanh dịch hại đã gây ra nhiều hậu quả về môi trường và sức khỏe con người. Do phun thuốc hóa học phổ rộng có tính lưu tồn cao hoặc bón phân N,P,K với liều lượng cao và thường xuyên, và việc ít hoặc không sử dụng phân hữu cơ trong thời gian dài đã làm cho đất đai ngày càng bị chai cứng, giảm đáng kể mật số vi sinh vật có lợi trong đất, làm giảm độ phì của đất dẫn đến khả năng sản xuất của đất bị suy kiệt, sâu bệnh ngày càng phát triển và khó phòng ngừa, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây tích lũy NO3-, NO2- và Nitrozoamin trong thực vật, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Hiện nay với đà phát triển kinh tế của xã hội, mức sống của người dân trên thế giới cũng như Việt Nam đã tăng lên đáng kể, kéo theo nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản phải có chất lượng cao và đảm bảo an toàn cho người sử dụng cũng như bảo vệ môi trường. Từ đó đòi hỏi người sản xuất không chỉ quan tâm đến năng suất mà còn chú trọng đến nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội vì sức khỏe của công đồng và môi trường.  



3.4.1. Các loại phân bón được sử dụng cho cây cà phê

3.4.1.1. Phân bón hữu cơ sinh học:
Phân hữu cơ có những đặc tính mà phân hóa học không thể có được, khi bón vào đất ngoài tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, phân hữu cơ còn cải tạo được lý hóa tính, sinh tính đất tức là cải thiện môi trường đất. Phân hữu cơ làm tăng hệ số sử dụng đạm, vì vậy làm giảm lượng đạm tiêu tốn để tạo ra một đơn vị sản phẩm và làm tăng hiệu suất phân đạm, 1kg urê làm tăng 3-4 kg quả tươi. Phân hữu cơ cũng làm tăng hiệu lực của phân lân.Trong các loại phân hữu cơ thì phân chuồng là loại phân lý tưởng nhất cho cà phê và đặc biệt rất cần thiết khi trồng mới. Với diện tích cà phê hiện nay, nếu chỉ dựa vào phân chuồng thì không thể đáp ứng đủ nhu cầu, do vậy cần sử dụng tốt các nguồn phân hữu cơ khác. Phân xanh, cỏ rác, cành lá mục trên lô là nguồn hữu cơ tại chỗ. Phân rác, phân than bùn, vỏ quả cà phê đã qua chế biến thành các loại phân hữu cơ sinh học, sinh hóa hữu cơ…. đều là các nguồn phân hữu cơ tốt để bón cho vườn cà phê.

a. Phân chuồng

Loại phân do gia súc thải ra. Trung bình mỗi đầu gia súc nuôi nhốt trong chuồng, sau mỗi năm có thể cung cấp một lượng phân chuồng (kể cả độn) như sau:



Lợn

1.8 – 2.0 tấn/con/năm



0.8 – 0.9 tấn/con/năm

Trâu bò

8.0 – 9.0 tấn/con/năm

Ngựa

6.0 – 7.0 tấn/con/năm

            Chất lượng và giá trị của phân chuồng phụ thuộc rất nhiều vào cách chăm sóc, nuôi dưỡng, chất liệu độn chuồng và cách ủ phân.

            Phân chuồng tốt thường có các thành phần dinh dưỡng như ở bảng sau:



Thành phân dinh dưỡng của phân chuồng

Đơn vị %

Loại phân

H2O

N

P2O5

K2O

CaO

MgO

Lợn

82.0

0.80

0.41

0.26

0.09

0.10

Trâu bò

83.1

0.29

0.17

1.00

0.35

0.13

Ngựa

75.7

0.44

0.35

0.35

0.15

0.12



56.0

1.63

1.54

0.85

2.40

0.74

Vịt

56.0

1.00

1.40

0.62

1.70

0.35

         Trong 10 tấn phân chuồng có thể lấy ra được một số nguyên tố vi lượng như sau:

Bo: 50 – 200 g;

Mn: 500 – 2000 g;

Co: 2 – 10 g

Cu: 50 – 150 g;

Zn: 200 – 1000 g;

Mo: 2 – 25 g

            Độn chuồng : Độn chuồng vừa có tác dụng giữ ấm, tạo điều kiện khô ráo cho gia súc, vừa tăng thêm khối lượng phân. Vì vậy chất độn chuồng cần có tác dụng hút nước phân, nước giải, giữ đạm và tăng cả khối lượng lẫn chất lượng phân chuồng. Cần chọn chất độn chuồng tốt và tiến hành độn chuồng cẩn thận. thường dùng rơm rạ, thân lá cây họ đậu, cây phân xanh, lá cây, cỏ khô… để làm chất độn chuồng.

            Ủ phân : Là biện pháp cần thiết trước khi đem phân chuồng ra bón ruộng. Bởi vì trong phân chuồng tươi còn có nhiều hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng côn trùng, nhiều bảo tử, ngủ nghỉ của nấm, xạ khuẩn, vi khuẩn và tuyến trùng gây bệnh. Ủ phân vừa có tác dụng sử dụng nhiệt độ tương đối cao trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt hạt cỏ dại và mầm mống côn trùng, bệnh cây vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ, đẩy nhanh quá trình khoáng hoá để khi bón vào đất phân hữu cơ có thể nhanh chóng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.

Mặt khác, trong phân tươi tỷ lệ C/N cao, là điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ ở các giai đoạn đầu hoạt động mạnh. Chúng sẽ sử dụng nhiều chất dinh dưỡng nên có khả năng tranh chấp chất dinh dưỡng với cây.

Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng có thể giảm xuống, nhưng chất lượng phân chuồng tăng lên. Sản phẩm cuối cùng của quá trình ủ phân là loại phân hữu cơ được gọi là phân ủ, trong đó có mùn, một phần chất hữu cơ chưa phân huỷ, muối khoáng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, một số enzym, chất kích thích và nhiều loài vi sinh vật hoại sinh.



Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ở nước ta với ẩm độ cao, nắng nhiều, nhiệt độ tương đối cao, quá trình phân huỷ các chất hữu cơ diễn ra tương đối nhanh… Sử dụng phân chuồng bán phân giải là tốt nhất, bởi vì ủ lâu phân ủ sẽ mất nhiều đạm.

b. Phân than bùn:
            Than bùn được tạo thành từ xác các loài thực vật khác nhau. Xác thực vật được tích tụ lại, được đất vùi lấp và chịu tác động của điều kiện ngập nước trong nhiều năm. Với điều kiện phân huỷ yếm khí các xác thực vật được chuyển thành than bùn.
            Trong than bùn có hàm lượng chất vô cơ là 18 – 24%, phần còn lại là các chất hữu cơ. Theo số liệu điều tra của các nhà khoa học, trên thế giới trữ lượng than bùn có khoảng 300 tỷ tấn, chiếm 1.5% diện tích bề mặt quả đất. Than bùn được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế khác nhau. Trong nông nghiệp than bùn được sử dụng để làm phân bón và tăng chất hữu cơ cho đất.
            Than bùn cho phản ứng chua. Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn thay đổi tuỳ thuộc vào thành phần các loài thực vật và quá trình phân huỷ các chất hữu cơ. Số liệu phân tích than bùn ở một số địa điểm có than bùn miền Đông Nam Bộ thu được như sau:

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong than bùn ở miền Đông Nam Bộ
 

% chất dinh dưỡng

Địa điểm lấy than bùn

Tây Ninh

Củ Chi

Mộc Hóa

Duyên Hải

N

0,38

0,09

0,16 – 0,91

0,64

P2O5

0,03

0,1 – 0,3

0,16

0,11

K2O

0,37

0,1 – 0,5

0,31

0,42

pH

3,4

3,5

3,2

2,6

  Than bùn có hợp chất bitumic rất khó phân giải. Nếu bón trực tiếp cho cây không những không có tác dụng tốt mà còn làm giảm năng suất cây trồng. Vì vậy, than bùn muốn dùng làm phân bón phải khử hết bitumic.
            Trong than bùn có axit humic, có tác dụng kích thích tăng trưởng của cây. Hàm lượng đạm tổng số trong than bùn cao hơn trong phân chuồng  gấp 2 – 7 lần, nhưng chủ yếu ở dưới dạng hữu cơ. Các chất đạm này cần được phân huỷ thành đạm vô cơ cây mới sử dụng được.
           Để bón cho cây, người ta không sử dụng than bùn để bón trực tiếp. Thường than bùn được ủ với phân chuồng, phân rác, phân bắc, nước giải, sau đó mới đem bón cho cây. Trong quá trình ủ, hoạt động của các loài vi sinh làm phân huỷ các chất có hại và khoáng hoá các chất hữu cơ tạo thành chất dinh dưỡng cho cây.
            Chế biến than bùn thành các dạng phân bón khác nhau được thực hiện trong các xưởng. Thông thường quá trình chế biến thông qua các công đoạn sau đây:
*Dùng tác động của nhiệt để khử bitumic trong than bùn. Có thể phơi nắng một thời gian để Ôxy hoá bitumic. Có thể hun nóng than bùn ở nhiệt độ 70 oC.
          * Dùng vi sinh vật phân giải than bùn. Sau đó trộn với phân hoá học NPK, phân vi lượng, chất kích thích sinh trưởng, tạo thành loại phân hỗn hợp giàu chất dinh dưỡng.
           Hiện nay, ở nước ta có nhiều xưởng sản xuất nhiều loại phân hỗn hợp trên cơ sở than bùn. Trên thị trường có các loại phân hỗn hợp với các tên thương phẩm sau đây: Biomix (Củ Chi), Biomix (Kiên Giang), Biomix (Plây Cu), Biofer (Bình Dương), Komix (Thiên Sinh), Komix RS (La Ngà), Compomix (Bình Điền II), phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh và nhiều loại phân lân hữu cơ sinh học ở nhiều tỉnh phía Bắc.
c. Phân tro, phân dơi:
            Tro các loại được sử dụng làm phân bón rất có hiệu quả ở những loại đất thiếu kali hoặc trong trường hợp bón quá nhiều phân đạm.
            Trong tro có 1 – 30% K2O và 0.6 – 19% P2O5 . Tro có thể dùng bón trực tiếp cho cây hoặc dùng làm chất độn, chất trộn với phân chuồng, phân bắc, nước tiểu…
           
Kali trong tro dễ hoà tan. Trong tro còn có silic, lân, magiê, vi lượng với hàm lượng tương đối cao. Tro có tính kiềm nên phát huy tác dụng tốt trên các loại đất chua.
           Phân dơi có hàm lượng lân rất cao. Nhiều gia đình nông dân đã vào các hang động trong núi đá, thu gom phân dơi về bón ruộng, bón cho cây trồng và đã thu được kết quả tốt.

d. Phân hữu cơ từ vỏ quả cà phê

Vỏ cà phê có thành phần chính là xenlulo (chiếm khoảng 62%) đây là hợp chất rất bền, nếu để trong điều kiện tự nhiên sau từ 2 đến 3 năm chúng mới phân huỷ hoàn toàn. Neu tận dụng vỏ sống chưa qua xử lý để bón vào gốc cà phê, với cách bón này chỉ có tác dụng làm cho đất tơi xốp và hạn chế được cỏ dại, lượng dinh dưỡng mà rễ cây hấp thu được từ vỏ là rất ít. Mặc khác, đây là môi trường thuận lợi để một số vi sinh vật có hại phát triển gây bệnh cho cây cà phê như: nấm gây bệnh gỉ sắt, nấm gây bệnh

Việc sử dụng phân hữu cơ sinh học chế biến từ vỏ quả cà phê bón cho lúa, ngô, cà phê, hồ tiêu, … có những ích lợi về môi trường sau đây:



  • Không gây ô nhiểm môi trường sinh thái, không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, cây trồng, vật nuôi

  • Cải thiện kết cấu, độ xốp và độ phì nhiêu của môi trường đất

  • Cân bằng hệ vi sinh vật trong môi trường đất

  • Có tác dụng phân huỷ, chuyển hoá các chất hữu cơ khác trong đất để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.

  • Có tác dụng nâng cao được hệ số sử dụng phân khoáng bón cho cây trồng, dẫn đến giảm thiểu lượng phân hoá học rữa trôi xuống tầng nước ngầm hay thăng hoa vào môi trường không khí gây ô nhiểm môi trường.

Quy trình

quy trinh u vo ca phe quy trình xử lý vỏ cà phê

Cách tính khối lượng vỏ cà phê:

Khối lượng vỏ (tấn) = Khối lượng cà phê nhân (tấn) x 0,7.

Men sinh học nhiều loại khác nhau:


  • Loại men sinh học có thành phần chính là vi sinh vật phân huỷ xen-lu-lô, protein, chất khử mùi hôi thối;

  • Loại men sinh học có thành phần chính là nấm Trchoderma, xạ khuẩn Streptomyces.

Ngoài ra còn có các loại phân bón phổ biến như Wokozim, Nucafe, phân ga xử lí Humix, Phân hữu cơ xử lí Humix. Phổ biến nhất là Wokozim

Phân hữu cơ sinh học Wokozim


  Phân hữu cơ sinh học Wokozim được sản xuất theo công nghệ tiên tiến

Nguồn nguyên liệu để sản xuất phân Wokozim chủ yếu là tảo biển (Ascophyllum nodosum) được nhập từ vùng biển của Na Uy. Ở điều kiện ánh sáng mặt trời từ 18-20 giờ/ngày vào những tháng mùa hè nên tảo biển ở đây quang hợp mạnh mẽ, tích tụ chất dinh dưỡng vào nốt sần, giúp tảo phát triển và sống được vào những tháng mùa đông không có ánh sáng.

Công nghệ thu họach tảo được thực hiện bằng các thiết bị hiện đại và được thu hoạch ba năm một lần, chỉ thu hoạch một phần thân tảo và để lại một phần cho tảo có thể tái sinh lại trong những năm tiếp theo.

Sau khi thu hoạch, tảo được phân loại, loại bỏ thực vật tạp, sấy khô và nghiền nhỏ thành dạng bột. Các vi sinh vật có ích được chuẩn bị sẵn, được nuôi cấy nhân mật số và được phối trộn vào bột tảo. Các protein thủy phân được lên men trước đó cũng được phối trộn vào hỗn hợp bột tảo nhằm giúp các dưỡng chất từ protein và tảo biển trở nên hữu dụng cho cây trồng. Các chất bảo quản và chất ổn định được thêm vào khối hỗn hợp giúp quá trình lên men hoàn hảo và sẵn sàng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. 

  Công nghệ chiết suất dinh dưỡng từ tảo biển và công nghệ lên men vi khuẩn Lactobacillus được nghiên cứu và phát triển độc quyền bởi tập đoàn Biostadt. Tiến trình chiết suất được thực hiện ở điều kiện tối hảo nhằm đảm bảo li trích tối đa chất dinh dưỡng từ tảo biển thành dạng dễ hấp thu cho cây trồng.

 Thành phần dưỡng chất độc đáo của phân hữu cơ sinh học Wokozim

 

  Qua nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt một trong những thành phần này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của cây trồng và dẫn đến năng suất, phẩm chât kém, sức đề kháng yếu.



 Ngoài ra, phân Wokozim còn chứa các nguyên tố trung lượng, vi lượng, siêu vi lượng: Ca, Mg, Zn, Fe, B, Mo, Mn, Cu, Iod,  vitamin E và 12 vitamin khác, 21 loại acid amin, hơn 60 khóang chất, có N, P, K.

Cung cấp Cytokinins:

-Kích thích rễ phát triển, tăng số lượng rễ lông hút dẫn đến tăng khả năng hút chất dinh dưỡng và nước cho cây.

-Kích thích ra hoa cái, giúp cây trồng tổng hợp Enzymes và proteins.

Cung cấp Auxins:

-Giúp cây gia tăng diệp lục, tăng cường quang hợp, kích thích tạo tế bào mới nên dẫn đến quả to, năng suất cao.

-Thúc đẩy quá trình vận chuyển và trao đổi chất hữu cơ, làm tăng chất lượng trái, giúp cây khỏe hơn, kích thích tạo quả, tăng khả năng đậu quả, làm chậm quá trình lão hóa của cây, kìm hãm sự rụng lá hoa quả.

-Kích thích hạt nẩy mầm và cây phát triển mạnh, xua đuổi và gây ngán ăn đối với côn trùng, giúp cây chống lại nấm bệnh tấn công.

Chứa tỉ lệ hài hòa giữa Auxins và Cytokinins: Tạo mầm cây, phát triển rễ, tăng số lượng hoa cái, giúp cây phát triển tốt cho năng suất và phẩm chất cao.

Đặc biệt có chứa Betaines:

-Làm giảm bớt cường độ các phản ứng oxy hóa nên làm tăng chất lượng quả. Thúc đẩy sự phát triển của cây trồng, giúp cây khỏe mạnh, tăng sức đề kháng, lớn nhanh.

-Làm giãm stress cho cây, làm cho tế bào cân bằng áp suất trương và áp suất thẩm thấu, vì vậy tế bào không bị xẹp xuống khi thiếu nước nên tăng khả năng chịu hạn cho cây trồng, nhất là vùng thiếu nước, mùa khô hạn.

Cung cấp phức hợp protein thủy phân:

-Thúc đẩy họat động của các vi sinh vật có lợi trong đất, tăng quá trình phân giãi chất hữu cơ, giúp cây hấp thu các chất khó tiêu trong đất. Giúp vi khuẩn Pseudomonads họat động mạnh mẽ làm biến đổi khoáng trong đất, giải phóng chất dinh dưỡng, sử dụng lại xác bã thực vật, phân hủy các dạng cellulose, sản xuất các chất làm kết vón và cải thiện cấu trúc của đất.

-Cải thiện sự hấp thu những chất dinh dưỡng và nước từ đất. Bảo vệ và kích thích lông hút của rễ cây nên tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng và nước cho cây. Phân hữu cơ sinh học Wokozim có khả năng làm tăng thêm 69% trọng lượng chất khô của rễ.



Hiệu quả của Wokozim trên cây cà phê

  • Kích thích ra hoa đậu quả đồng loạt, chín đồng loạt, tăng năng suất

  • Hạn chế rụng trái non

  • Tăng kích cỡ hạt cà phê

  • Phục hồi vườn cà phê bị ve sầu gây hại, vườn cà phê già cỗi

  • Kích thích rễ phát triển cực nhanh và mạnh, rễ sớm phục hồi khi bị tổn thương

  • Tăng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng cần thiết ở các giai đoạn khác nhau

3.4.1.2. Phân hữu cơ sinh học

Phân hữu cơ vi sinh là loại phân bón có chứa các vi sinh vật sống (đã qua tuyển chọn), có hoạt tính sinh học giúp làm tăng độ phì nhiêu của đất, cung cấp các chất dinh dưỡng ở dạng dễ tiêu (P, N, K…) và các hợp chất sinh học khác nhằm tăng năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm thông qua hoạt động của chúng.

            Để chế biến phân vi sinh vật, các loài vi sinh vật được nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm. Khi đạt đến nồng độ các tế bào vi sinh vật khá cao người ta trộn với các chất phụ gia rồi làm khô đóng vào bao. Tuy nhiên, các loại phân vi sinh vật còn rất ít và chỉ là bộ phận nhỏ so với phân hoá học trên thị trường phân bón

            a. Phân vi sinh vật cố định đạm. Có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố định N từ không khí. Đáng chú ý có các loài: tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn Azotobacter, Bradyrhizobium, Rhyzobium; xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella.



Vi khuan Azotobacter

Phần lớn các loài vi khuẩn cố định đạm thường sống cộng sinh với các cây họ đậu. Chúng xâm nhập vào rễ cây và sống cộng sinh trong đó, tạo thành các nốt sần ở rễ cây. Chúng sử dụng chất hữu cơ của cây để sinh trưởng đồng thời hút đạm từ không khí để cung cấp cho cây, một phần tích luỹ lại trong cơ thể chúng.

            Tảo lam cộng sinh với bèo hoa dâu và hút đạm tích luỹ lại làm cho bèo hoa dâu có hàm lượng đạm cao, trở thành cây phân xanh rất quý.

            Hiện nay trên thị trường phân bón nước ta, phân vi sinh vật cố định đạm được bán dưới các tên thương phẩm sau đây:

            Phân nitragin chứa vi khuẩn nốt sần cây đậu tương.

            Phân rhidafo chứa vi khuẩn nốt sần cây lạc.

            Azotobacterin chứa vi khuẩn hút đạm tự do.

            Azozin chứa vi khuẩn hút đạm từ không khí sống trong ruộng lúa. Loại phân này có thể trộn với hạt giống lúa.

            b. Vi sinh vật hoà tan lân. Cây chỉ có thể hút được lân từ đất dưới dạng hoà tan trong dung dịch đất. Vì vậy, cây chỉ có thể hút được lân ở dạng dễ tiêu trong đất. Lân ở dạng khó tan trong đất cây không hút được. Vì vậy, có nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đen, v.v.. hàm lượng lân trong đất khá cao, nhưng cây không hút được vì lân ở dưới dạng khó hoà tan.

Các vi sinh vật phân giải P theo chu trình sau:



            Nhóm hoà tan lân bao gồm: Aspergillus niger, một số loài thuộc các chi vi khuẩn Pseudomonas, Bacillus, Micrococens. Nhóm vi sinh vật này dễ dàng nuôi cấy trên môi trường nhân tạo. Nhiều nơi người ta đã đưa trộn sinh khối hoặc bào tử các loại vi sinh vật hoà tan lân sau khi nuôi cấy và nhân lên trong phòng thí nghiệm, với bột phosphorit hoặc apatit rồi bón cho cây. Sử dụng các chế phẩm vi sinh vật HTL đem lại hiệu quả cao ở những vùng đất cây bị thiếu lân.

    Một số loài vi sinh vật sống cộng sinh trên rễ cây có khả năng hút lân để cung cấp cho cây. Trong số này, đáng kể là loài VA mycorrhiza. Loài này có thể hoà tan phosphat sắt trong đất để cung cấp lân cho cây. Ngoài ra loài này còn có khả năng huy động các nguyên tố Cu, Zn, Fe… cho cây trồng. Nhiều nơi người ta sử dụng VA mycorrhiza đã làm tăng năng suất cam, chanh, táo, cà phê… Nuôi cấy VA mycorrhiza trên môi trường nhân tạo rất khó. Vì vậy hiện nay các chế phẩm có chưa VA mycorrhiza chỉ có bán rất hạn chế trên thị trường phân bón Mỹ.

            Những năm gần đây, trên thị trường phân bón ở một số nước có bán chế phẩm Phospho – bacterin trong có chứa vi khuẩn giải phóng lân dễ tiêu từ các chất hữu cơ.

            c. Vi sinh vật kích thích tăng trưởng cây. Gồm một nhóm nhiều loài vi sinh vật khác nhau, trong đó có vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn, v.v.. Nhóm này được các nhà khoa học phân lập ra từ tập đoàn vi sinh vật đất.

            Người ta sử dụng những chế phẩm gồm tập đoàn vi sinh vật được chọn lọc để phun lên cây hoặc bón vào đất làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, ít sâu bệnh, tăng năng suất. Chế phẩm này còn làm tăng khả năng nảy mầm của hạt, tăng trọng lượng hạt, thúc đẩy bộ rễ cây phát triển mạnh. Như vậy, chế phẩm này có tác động tương đối tổng hợp lên cây trồng.

            Để sản xuất chế phẩm vi sinh vật kích thích tăng trưởng của cây, người ta sử dụng công nghệ lên men vi sinh vật. Ở các nước phát triển người ta sử dụng các thiết bị lên men tự động, công suất lớn. Ở nước ta, đã dùng kỹ thuật lên men trên môi trường bán rắn để sản xuất chế phẩm này, bước đầu cho kết quả khá tốt.

            Những năm gần đây ở nước ta đang tiến hành khảo nghiệm chế phẩm EM của giáo sư người Nhật Teruo Higa. Chế phẩm này được đặt tên là vi sinh vật hữu hiệu (Effective microorganisms – EM). Đây là chế phẩm trộn lẫn một nhóm các loài vi sinh vật có ích trong đó có vi khuẩn axitlactic, một số nấm men, một số xạ khuẩn, vi khuẩn quang hợp, v.v.. Tại hội nghị đánh giá kết quả sử dụng EM tại Thái Lan tháng 11/1989, các nhà khoa học đã đánh giá tác dụng tốt của EM như sau:

            - Cải tạo lý hoá tính và đặc tính sinh học của đất.

            - Làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất.

            - Tăng hiệu quả của phân bón hữu cơ.

            - Cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt.

            - Hạn chế sâu bệnh hại cây trồng.

- Góp phần làm sạch môi trường.

 

 

 



 

 

 



 
Каталог: 30178 -> 163
163 -> Đề tài: Tàu hủ non đậu đỏ gvhd
163 -> Phương pháp phân tích
163 -> Vai trò chức năng
163 -> Cây dứa gai là loại cây dễ trồng
163 -> V. Quy định sử dụng phụ gia thực phẩm Các nguyên tắc chung của cac về sử dụng phụ gia thực phẩm
163 -> Đề tài: Phụ gia làm tăng tính dinh dưỡng thực phẩm gvhd: ts đàm Sao Mai Vitamin tan trong dầu
163 -> Lượng rda đề nghị
163 -> Phân tích định tính Phản ứng với acid diazobenzensunfonic
163 -> Được tách ra ở dạng tinh khiết vào năm 1938, đầu tiên từ nấm men sau đó từ cám gạo. Cấu tạo của vitamin B
163 -> Phụ gia trong nưỚc giải khát phần I: TỔng quan về NƯỚc giải khát giới thiệu

tải về 130 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương