Bom tự SÁt tấn công căn cứ cia



tải về 95.64 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu14.11.2017
Kích95.64 Kb.
#1726
  1   2

BOM TỰ SÁT TẤN CÔNG CĂN CỨ CIA

tka23 post

Vào ngày 30/12/2009, một kẻ đánh bom liều chết tấn công căn cứ FOB Chapman của quân đội Mỹ gần vùng Khost biên giới của Afghanistan

Căn cứ tiền đồn nhỏ nằm ở vùng biên giới giữa Afghanistan và Pakistan này là trung tâm của mọi hoạt động thu thập thông tin tình báo, chống khủng bố và điều khiển những chiếc drone (máy bay không người lái) tác chiến. Vụ tấn công khủng bố đã giết chết 7 người và 1 sĩ quan tình báo Jordan.

Các nạn nhân bao gồm viên chỉ huy không được xác định danh tính của căn cứ FOB Chapman, 2 nhân viên của Công ty An ninh tư nhân Xe (tên cũ là Blackwater), và 4 nhân viên CIA khác được tiết lộ danh tính là: Harold E. Brown Jr., 37 tuổi, sống ở Massachusetts; Scott Michael Roberson, 39 tuổi, sống ở Ohio; Jeremy Wise, 35 tuổi, sống ở Arkansas. Và 1 sĩ quan CIA nữa là nữ điệp viên hoạt động bí mật Elizabeth Hanson, 31 tuổi, sống ở Illinois, tốt nghiệp Đại học Colby năm 2001. Một người bạn trong gia đình sau đó đã đưa thông tin lên trang web xã hội Facebook về cái chết của Hanson, mô tả cô là một phụ nữ "sôi nổi" và "nghị lực".

Chỉ vài giờ sau vụ đánh bom FOB Chapman, trang web của tờ New York Times cập nhật thông tin: "Kẻ đánh bom liều chết giết chết các nhân viên CIA". Giám đốc CIA Leon Panetta cho biết đây là vụ tấn công gây chết người lần thứ hai nhằm vào căn cứ của CIA trong lịch sử hoạt động của cơ quan này - vụ thứ nhất xảy ra ở Beirut năm 1983. Sau khi bị Al-Qaeda giết chết, bạn bè và gia đình mới bất ngờ vỡ lẽ ra Elizabeth Hanson là điệp viên bí mật của CIA! Lớn lên trong gia đình khá giả ở Rockford , bang Illinois , nhưng Elizabeth Hanson có "một tuổi thơ không may mắn" - một người bạn giấu tên của gia đình nói. Cha của Hanson, từng là một doanh nhân thành đạt ở Chicago , suýt chết do dị ứng với nấm mốc khi Hanson mới 7 tuổi và hậu quả sau đó là bị một vài tổn thương não. Một bạn trai thời trung học của Hanson cho biết, cô là một người có cá tính mạnh mẽ. Năm 1997, Hanson sang miền Đông nước Mỹ để vào học Trường đại học Colby, nơi nổi tiếng với những chương trình học về kinh tế và quản lý. Elizabeth Hanson rất quan tâm đến nước Nga. Cô bổ sung chuyên đề kinh tế của mình với đề tài phụ về ngôn ngữ và văn học Nga.

Năm 2000, Hanson bắt đầu quan tâm đến chính trị khi tình nguyện làm việc cho Thượng nghị sĩ Joe Lieberman. Stan O'Loughlin, một trong những người bạn thân nhất của Hanson ở Đại học Colby, cho biết cô là "người có ý thức về mục đích, đánh giá cao khái niệm "trách nhiệm" dù đối với bạn thân hay người lạ". Sau sự kiện ngày 11/9/2001, Hanson - lúc đó đang học năm cuối đại học - viết luận án tựa đề "Những người ngoại đạo không có đức tin: Kinh tế của Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo căn cứ theo Kinh thánh" - trong đó cô so sánh quan điểm của 3 tôn giáo đối với đồng tiền. Trong bối cảnh cả nước Mỹ vẫn còn kinh hoàng sau ngày 11/9/2001, Elizabeth Hanson bắt đầu nghĩ đến việc phục vụ đất nước và gia nhập CIA.

Người bạn giấu tên của gia đình nói, chính luận án của Hanson đã khiến bộ phận tuyển mộ của CIA chú ý đến cô ngay sau đó. Người bạn gia đình Elizabeth Hanson này cũng cho biết CIA bắt đầu quan tâm đến Đại học Colby ít nhất từ thập niên 80, thế kỷ XX, nhưng người phát ngôn của nhà trường phủ nhận bất cứ sự hiện diện nào của CIA trong ngôi trường này.

Lindsay Moran, nguyên nữ điệp viên hoạt động bí mật và tác giả cuốn "Cởi bỏ lớp vỏ bọc: Đời tôi là điệp viên CIA", tin rằng - cũng giống như chính Hanson - Hanson có lẽ bị lôi cuốn trước công việc và tính chất bí mật của CIA. Moran nói: "Bạn có thể phục vụ đất nước mình và trở thành người ái quốc, đồng thời có thể sống ở hải ngoại và trải nghiệm cuộc sống thú vị".

Sau khi tốt nghiệp đại học năm 2001, Hanson và Meredith Shippee, bạn gái thân nhất thời trung học của Hanson, cùng ở chung nhà giản dị ở khu dân cư Greenwich Village ở Manhattan ( New York City ). Nhưng sau khoảng 6 tháng, Hanson bắt đầu "thấy mất hết kiên nhẫn với New York", theo Shippee. Hanson muốn lập nghiệp ở một nơi khác nên chuyển đến sống ở California một thời gian ngắn và cuối cùng chọn Arlington, bang Virginia, nơi cô bắt đầu khóa huấn luyện của CIA một cách nghiêm chỉnh nhất. Thời gian này Hanson sống chung với một bạn trai từ thời học đại học có cha mẹ làm việc trong Bộ Ngoại giao Mỹ.

Elizabeth Hanson là chuyên gia phân tích chứ không phải là điệp viên hoạt động trên trận địa thu thập thông tin tình báo và cô luôn giữ kín danh tính của mình đối với mọi người, không hề cho gia đình và bạn bè biết thân phận thật sự của mình. Lindsey Moran nói: "Những người sống với loại công việc này nói chung không có cuộc sống xã hội bên ngoài nào ngoài các đồng nghiệp của họ. Tôi tin Hanson là một sĩ quan tình báo rất có triển vọng. Cô là mũi giáo trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ". Sau khi Hanson bị giết chết, gia đình và một số bạn bè mới biết về công việc đầy nguy hiểm của cô ở Afghanistan.

Trong một e-mail gửi cho Stacey Jones, bạn thân thời trung học, tháng 9/2009, cô viết: "Mình sẽ cố gắng để không bị giết". Nhưng lúc đó Jones không hề biết bạn gái của mình là một điệp viên hoạt động bí mật của CIA và cứ tưởng Hanson dường như bị "thần kinh". Ngày 30/12/2009, Elizabeth Hanson và tổ tình báo của cô đang chờ một vị khách đặc biệt ở căn cứ hoạt động tiền phương FOB Chapman của CIA, trung tâm chống khủng bố chính của Mỹ ở Afghanistan.

Chủ của Hanson, chỉ huy của căn cứ, sắp sửa tiếp đón một nhân vật nắm giữ thông tin tình báo quan trọng - đó là Humam Khalil Abu-Mulal al-Balawi một bác sĩ người Jordan đã kín đáo gia nhập hàng ngũ của Al-Qaeda và hứa sẽ cung cấp thông tin về người phó thứ 2 của Osama bin Laden cho FOB Chapma. Đây là ngày trọng đại cho CIA, sau của nhiều năm truy tìm mà cơ quan hy vọng cuối cùng sẽ có chiếc chìa khóa tìm ra tung tích của Osama bin Laden.

Và đây cũng là một ngày quan trọng cho Hanson vì tính chất công việc cô đang đảm nhận. Cuộc gặp mặt này quan trọng đến mức Nhà Trắng nóng lòng trông chờ một cuộc gọi từ FOB Chapman ngay lập tức sau khi thông tin được cung cấp.

Vào khoảng trưa ngày 30/12/2009, một sĩ quan CIA đón al-Balawi tại biên giới Afghanistan - Pakistan và sau đó lái chiếc Toyota Corolla màu đỏ lắp kính mờ chở người này đến căn cứ FOB Chapman cách đó chừng 40 phút đường ôtô. Họ chạy qua trạm thứ nhất được số nhân viên an ninh người Afghanistan lăm lăm súng AK-47 trên tay canh gác từ trên tháp canh bê tông. Sau đó một chiếc ôtô của quân đội Mỹ hộ tống họ chạy qua trạm thứ hai được bao bọc dây kẽm gai và cuối cùng qua bức tường thứ ba do binh sĩ Mỹ canh gác.

Khoảng 16h30' ngày 30/12/2009, 2 chiếc ôtô dừng lại trước một trung tâm thẩm vấn tạm thời, nơi Hanson và các đồng nghiệp của cô đang đứng chờ vị khách Jordan. Al-Balawi, trong trang phục màu vàng kiểu người Hồi giáo và mang kính râm, với một chiếc khăn choàng quấn trên đầu và nửa thân trên, bước xuống xe. Al-Balawi bắt đầu cầu nguyện với bàn tay đặt trong túi áo choàng dài. Một nhân viên an ninh yêu cầu al-Balawi bỏ tay ra khỏi túi để kiểm tra. Nhưng vào đúng lúc đó Al-Balawi kích nổ quả bom giấu trong ngực.

Ánh sáng trắng chói lòa kèm theo tiếng nổ dữ dội đã giết chết ngay tại chỗ kẻ khủng bố và những người xung quanh, trong đó có Elizabeth Hanson. Vào đêm giao thừa năm 2010, ngay sau cái chết của Elizabeth Hanson, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã viết một bức thư gửi đến trụ sở CIA ngỏ lời cảm ơn họ "đã phục vụ trong bóng tối", và đã "lặng lẽ hy sinh cho các công dân, bạn bè và cả gia đình" của họ. Thêm một cái tên mới được khắc trên Bức tường Tưởng niệm của CIA ở Langley, bang Virginia.

Nhưng, đối với gia đình và bạn bè của Elizabeth Hanson, câu chuyện thật về sự lựa chọn, nghề nghiệp và cuộc sống trong bóng tối của cô vẫn còn là một bí ẩn khó tìm lời giải đáp

Ho Chi Minh : A Life - Một sản phẩm “ lộn kiếp ”!

30/06/2010

Kính thưa quý vị,
Nhân dịp " Phong Trào
Đòi Trả Tên Sàigon" giới thiệu DVD " Ho Chi Minh The Man and The Myth " tại Hoa Thịnh Đốn ngày 27 tháng 6 năm 2010, chúng tôi kính mời quý vị đọc bài dưới đây, được viết vào năm 2002 . Trân trọng, Nguyễn thị Bé Bảy.

Quyển < Ho Chi Minh: A Life > của William J. Duiker do nhà xuất bản Hyperion Books ở New York xuất bản vào năm 2000. Vào thời điểm này,
quyển sách
được người Việt hải ngoại “nghe” đến khi nhà nước CSVN lên tiếng xin phép nhà xuất bản và tác giả cho họ được cắt xén một vài đoạn trong quyển sách khi phiên dịch ra Việt ngữ. Nếu quả thật có một vài đoạn cần phải cắt xén đi chăng nữa, nhưng việc phiên dịch quyển sách ra Việt ngữ của nhà cầm quyền CSVN đã chứng tỏ quyển sách rất có lợi cho chế độ CSVN trên mặt trận tuyên truyền.
Quả thật vậy!

Ngay bìa mặt của quyển sách, là lời phê bình của Washington Post Book World: A major scholarly achievement .( Một công trình uyên bác to tát.)


Bià lưng , là những lời giới thiệu:
- Named one of the best books of the year by Washington Post and the Los Angeles Times. (
Được liệt kê là một trong những quyển sách hay nhất trong năm bởi Washington Post và Los Angeles Times )
- A finalist for the Mark Lynton History Prize and the Lionel Gelber Prize ( Nằm trong danh sách chung kết của hai giải thưởng Mark Lynton History và Lionel Gelber )


và những lời phê bình:
- (A) magnificent new biography ( Một thiên tiểu sử mới hùng tráng ) - Frances Fitgerald, The New York Times Book Review.
- This is an astounding book, the research so thorough and exacting as to take one’s breath away. (
Đây là quyển sách gây kinh ngạc, một sự nghiên cứu rất tĩ mĩ và chính xác, làm cho người ta nín thở ) - Martin Booth, The Sunday Times (U.K)
- Much has been written about Ho Chi Minh, but nothing equals William J. Duiker’s biography. Meticulously research, profoundy perceptive, and highly readable, it finally demystifies one of the most fascinating, enigmatic, controversal, and influential figures of the Twentieth century. (
Đã có nhiều người viết về Hồ Chí Minh, nhưng tất cả không đáng kể so với quyển tiểu sử do William J. Duiker viết. Đây là một sự nghiên cứu tĩ mĩ, một nhận thức uyên thâm rất đáng đọc; sau hết, nó vén bức màn bí mật về một nhân vật bí ẩn, lôi cuốn, phức tạp và gây ảnh hưởng nhiều nhất của thế kỷ 20.) - Stanley Karnow, Author of Vietnam: A History

Tất cả những lời giới thiệu và phê bình trên đây đều ca ngợi công trình nghiên cứu của William J. Duiker, trực tiếp xác nhận những điều trình bày của tác giả là chính xác và tĩ mĩ, cẩn thận, tinh vi, uyên thâm, uyên bác; có nghĩa là trực tiếp xác nhận những điều mà William J. Duiker trình bày về cuộc đời của Hồ Chí Minh là chính xác, là tĩ mĩ, là cẩn thận, là uyên thâm.......

Vậy thì , bằng cách nào, William J. Duiker đã thu thập những tài liệu về Hồ Chí Minh để hoàn thành quyển sách dày 595 trang, không kể những phụ trang và 4 trang bìa, để rồi nhận được những lời giới thiệu và phê bình “ vô cùng tốt đẹp ” như trên ?

Xin hãy nghe tác giả trình bày.


Trong lời mở
đầu ( preface ) tác giả viết :

( Trích và dịch )
“ Tôi bị lôi cuốn về Hồ Chí Minh từ giữa thập niên 1960’, khi còn là một nhân viên ngoại giao trẻ tuổi làm việc trong tòa
đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigon; tôi điên đầu bởi một sự thật là Việt Cộng, quân phiến loạn chiến đấu ở trong rừng, rõ ràng họ có kỹ luật và có động lực thúc đẩy hơn là quân đội của đồng minh chúng ta, chính phủ miền Nam Việt Nam. Trong khi cố gắng tìm hiểu vấn đề, tôi bị thuyết phục bởi lối giải thích là do vai trò của một người chủ động, là một chiến lược gia, và là một nhà cách mạng Việt Nam: Hồ Chí Minh. Sau khi nghĩ việc trong chính phủ Hoa Kỳ, tôi theo đuổi một nghề nghiệp có tính hàn lâm, do đó tôi nghĩ đến việc viết tiểu sử của nhân vật độc đáo và phức tạp nói trên, nhưng tôi sớm nhận ra những tài liệu mà tôi gom góp được chưa đủ để hoàn thành một chân dung có tính thuyết phục về cuộc sống và sự nghiệp của ông ta. Vì vậy, tôi tạm gát dự án cho tới thời gian gần đây, khi tài liệu từ nhiều quốc gia trên thế giới bắt đầu được phổ biến ồ ạt; tôi nhận thấy đây là thời điểm có thể thực hiện được dự án.

Tiến trình hoàn tất quyển sách này trãi dài trên hai thập niên; trong thời gian này, tôi
đã nhận được sự yểm trợ từ nhiều nơi. Cơ quan The College Fund for Research của College of Liberal Art , và cơ quan Institute for the Art and Humanistic Studies của Penn State University đã cung cấp ngân khoản để cho tôi nghiên cứu các tài liệu tại Pháp và Việt Nam. Qua sự giúp đở của Mark Sidel thuộc cơ quan Ford Foundation, tôi được tháp tùng theo Marilyn Young và A. Tom Grunfield trong chuyến đi Hà Nội năm 1993 để tìm hiểu sự liên hệ giữa Hồ Chí Minh và Hoa Kỳ . Tôi cũng xin cám ơn cơ quan Social Science Research Council và Indochina Scholarly Exchange Program đã tặng tôi một ngân khoản vào năm 1990 để nghiên cứu về Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Trong khi tôi ở tại Hà Nội, thì Viện Sử Học, Viện Đại Học Hà Nội, và Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin đã vô cùng tử tế sắp xếp cho tôi một lịch trình thảo luận với các vị học giả những đề tài về quyền lợi hổ tương , về Hồ Chí Minh, và về lịch sử cuộc cách mạng Việt Nam. Viện Bang Giao Quốc Tế đã bảo trợ chuyến thăm viếng của tôi vào năm 1985, trong đó có chuyến đi về làng Kim Liên, nơi sinh đẻ Hồ Chí Minh. Đối với những cá nhân đã trợ giúp công cuộc nghiên cứu của tôi tại Hà Nội, tôi xin được cám ơn Nguyen Huy Hoan thuộc Viện Bảo Tàng Hồ Chí Minh, Nguyen Thanh thuộc Viện Bảo Tàng Cách Mạng và Tran Thanh thuộc Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác- Lênin, tất cả đã bằng lòng dành cho tôi những cuộc phỏng vấn khá dài. Tại Viện Đại Học Hà Nội, các sử gia Phung Huu Phu, Le Mau Han, Pham Xanh và Pham Cong Tung đã tử tế dành cho tôi thì giờ và cung cấp tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ha Huy Giap ( đã quá cố ) thuộc Bảo Tàng Viện Hồ Chí Minh và Dang Xuan Ky, nguyên giám đốc Viện Khoa Học Xã Hội cũng đã tử tế trả lời những câu hỏi của tôi về những điều mà họ còn nhớ về Hồ Chủ Tịch. Do Quang Hung, Ngo Phuong Ba, Van Tao và Tran Huu Dinh thuộc Viện Sử Học và Luu Doan Huynh thuộc Viện Bang Giao Quốc Tế đã quảng đại trong việc sử dụng thời giờ của họ để giúp tôi khám phá những vấn đề then chốt trong dự án. Tôi cũng đặc biệt cám ơn Vu Huy Phuc, người rất kiên nhẫn và có óc khôi hài đã kiêm nhiệm hai công việc, vừa là người bảo vệ, vừa là người bạn cùng nghiên cứu trong chuyến viếng thăm Việt Nam của tôi vào năm 1990. Gần đây nhất, ông Hoang Cong Thuy thuộc tổ chức Vietnam-American Friendship Society đã cho tôi tiếp xúc với các cá nhân cũng như cung cấp những nguồn tài liệu khi tôi đi theo đường mòn Hồ Chí Minh. Duong Trung Quoc thuộc tạp chí Xưa Nay cũng cung cấp cho tôi một số báo hữu ích. Nguyen Quoc Uy thuộc Việt Nam Thông Tấn Xã cũng rất tử tế cho phép tôi được in lại trong quyển sách này một số hình ảnh thuộc tác quyền của cơ quan VNTTX. ” ( Preface I x ).
( Ngưng trích và dịch )
.......
Tiếp theo, tác giả cám ơn các cơ quan, tổ chức, các thư viện, các viện
đại học của Hoa Kỳ, Pháp, Nga, Trung Cộng, Anh Quốc, Hồng Kông đã cung cấp các tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh và những cá nhân như Douglas Pike, Steve Denny, King C. Chen
( quá cố ), Stanley Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian, Mai Elliott v.v....
Sau cùng, tác giả cám ơn hai cô con gái trong nhiều n
ăm đã lắng nghe về chuyện Việt Nam và cám ơn bà vợ kiên nhẫn, là người đầu tiên đọc bản thảo của tác giả và nhiều lúc đã xem Hồ Chí Minh như là một phần tử trong gia đình. ( Preface I x, I x i, I x i i )

Kính thưa quí độc giả.


Khi trình bày những dữ kiện vừa kể trong quyển sách < Ho Chi Minh: A Life >, chúng tôi không dám có tham vọng thực hiện một công việc quá to tát, công phu và ngoài khả n
ăng của chúng tôi; là phân tích một quyển sách mà tác giả William J. Duiker đã bỏ thời gian trên hai thập niên để hoàn tất, với con số tài liệu và sử liệu đồ sộ như tác giả đã liệt kê; mặc dù chúng tôi nhận thức rằng công việc nhận xét cuốn sách trên đây là một công việc vô cùng cần thiết và quan trọng, để trả lại sự thật cho lịch sử và để lại tài liệu cho thế hệ con cháu chúng ta. Đây là một công tác dài hạn và công phu cần đến sự làm việc của nhiều người trong mọi giới.
Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi chỉ xin
đưa ra một đoạn nhỏ trong quyển sách để đối chiếu với tài liệu mà chúng ta đang có; trong đó, một số chứng nhân có thể vẫn còn sống sót cho tới ngày hôm nay: đó là Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất.

William J. Duiker đã trình bày Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất ( tr. 475-479 ) như sau:
..........
Vũ khí mà phe cực
đoan chọn lựa để trả công cho cuộc đấu tranh giai cấp tại nông thôn là Cải Cách Ruộng Đất. Hồ Chí Minh không chấp nhận các biện pháp thô bạo trong suốt thời kỳ chiến tranh chống Pháp, nhưng vào năm 1953, theo lệnh của các cố vấn Trung Cộng, ông phải miễn cưỡng xiết chặt các biện pháp chỉnh lý như là những phương tiện để thúc đẩy nông dân chuẩn bị sẳn sàng cho trận Điện Biên Phủ. Với hình ảnh chiến tranh sắp chấm dứt, đảng xúc tiến kết thúc kế hoạch và sắp đặt cho chương trình hợp tác xã trên toàn quốc. Trong lời kêu gọi đồng bào vào đầu tháng 9 năm 1954, Hồ Chí Minh hứa hẹn chương trình cấp ruộng cho bần nông trong vùng vừa mới giải phóng tại các tỉnh miền Bắc sẽ là kế hoạch ưu tiên của chính phủ . Mặc dù Hồ tâm sự với những người thân cận là cá nhân ông không cảm thấy vội vã trong việc thực thi kế hoạch, tuy nhiên ông ủng hộ biện pháp này như là một chiến thuật để làm vui lòng Bắc Kinh, và có lẽ cũng là để hoà giải với những đồng chí trong giới quân nhân như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt. ( Ho Chi Minh on Revolution: Selected Writting – Bernard B. Fall; Đêm Giữa Ban Ngày, tr.221 -Vũ Thư Hiên; Land Reformed in China and North Vietnam – Edwind E. Moise )

Thực hiện Cải Cách Ruộng Đất theo bước kế tiếp, các lãnh tụ trong đảng nhắm đến hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là tác dụng về kinh tế: tận dụng đất đai canh tác qua việc tái phân phối ruộng đất từ những địa chủ trong làng cho những bần nông và bần cố nông đang chiếm đa số tại nông thôn. Theo đúng như khuôn mẫu đã áp dụng tại Hoa Lục vào những năm trước, các lãnh tụ của đảng hy vọng sự làm chủ đất đai sẽ kích thích các nông dân gia tăng sản xuất , làm nền móng cho kế hoạch hợp tác xã trong tương lai gần.


Mục tiêu thứ hai quan trọng hơn, là mục tiêu về chính trị: nhằm tiêu diệt thế lực phong kiến (
được gọi là giai cấp địa chủ ) và tạo nên một giai cấp lãnh đạo mới tại nông thôn, gồm những bần nông, những người chịu ơn đảng và sẽ trung thành tuân theo chính sách của đảng.

Để làm nổi bật lợi ích chính trị của Phong Trào Cải Cách Ruộng Đất, những phần tử cực đoan trong nhóm lãnh đạo đảng đã theo câu châm ngôn của Mao Trạch Đông - người khởi xướng kế hoạch tương tự tại Trung Hoa- nói thẳng thừng rằng “ cách mạng không phải là một buổi dạ tiệc”. Kể từ thập niên 1920’s, Mao đã hô hào việc nâng cao giai cấp nông dân trong công cuộc đấu tranh giai cấp để lôi kéo sự ủng hộ của họ. Mặc dù cuộc đấu tranh giai cấp bị đình hoãn trong thời kỳ chiến tranh với Nhật Bản, trong giai đoạn cuối của cuộc chiến Quốc Cộng và trong giai đoạn Cải Cách Ruộng Đất vào đầu thập niên 1950’s, những đội viên cải cách của Mao đã tổ chức các cuộc “ đấu tố ” , khích động nông dân tố khổ các địa chủ của mình, đặc biệt, những người mang “ nợ máu ” với nhân dân. Tại các tòa án nhân dân được thiết lập trên khắp Hoa Lục , hàng ngàn người bị kết tội và bị hành quyết. Mặc dù vậy, nhưng thành phần quân sự trong Đảng Lao Động Việt Nam lại sẳn lòng áp dụng biện pháp tương tự cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Lê Đức Thọ, lãnh tụ đảng tại miền Nam đã phát biểu vào năm 1952: “ nếu người nào muốn lãnh đạo cuộc nổi dậy của nông dân, điều cần yếu trước tiên là người ấy phải khích động lòng căm thù của nông dân ” cũng như quan tâm đến quyền lợi thực tế của họ. ( Làm thế nào để phát động chiến tranh du kích tại Nam bộ - Lê Đức Thọ, .......)
Phong trào CCR
Đ được phát động vào mùa hè và mùa thu 1954. Dưới sự chỉ huy của cựu đảng viên và lãnh tụ lao động Hoàng Quốc Việt, giai đoạn đầu của phong trào được sự ủng hộ của vài thành phần nông dân, đặc biệt là bần cố nông phục vụ trong bộ đội và đi dân công trong chiến trường Điện Biên Phủ; họ được Việt Minh tuyên truyền hứa hẹn sẽ được đền bù bằng ruộng đất. Tuy nhiên, có vài vụ phàn nàn về biện pháp đàn áp hung bạo. Khi Hồ Chí Minh được báo cáo về những trường hợp như thế, ông khiển trách những đội viên cải cách đã làm tổn thương nhân phẩm người dân và chỉ trích hành vi ngạo mạn của họ. ( Bùi Tín: Following Ho Chi Minh trang 23 và báo Nhân Dân ngày 19 tháng 11 năm 1954 )
Mặc dù
đợt đầu tiên của kế hoạch mới rất khiêm tốn – khoảng 50 làng trong tỉnh Thái Nguyên , ở góc Tây Bắc của bình nguyên sông Hồng – nhưng đã tạo nên một làn sóng kinh động trên toàn quốc. Đối với thành phần ôn hòa, đây là dấu hiệu chứng tỏ thành phần cực đoan xuất hiện trong đảng vào đầu thập niên 1950’s vẫn còn mạnh, và họ có thể làm phương hại đến kế hoạch mà Hồ Chí Minh đã hứa hẹn vào mùa thu năm 1954.

Đợt cải cách kế tiếp được phát động vào mùa đông và đầu xuân 1955. Mặc dù mục bình luận của báo Nhân Dân số tháng giêng đã cảnh cáo về sự nguy hiễm của “ những sai lầm ”, các đội viên cải cách ( đa số là những người ngoài đảng được huấn luyện cho chương trình CCRĐ dưới sự hướng dẫn của các cố vấn Trung Cộng, được gửi đến nhà các nông dân để cùng làm, cùng ăn và cùng sống với họ) xúi giục các nông dân đấu tố những địa chủ đã bóc lột họ trong quá khứ. Nhiều người bị buộc tội chống lại nhân dân và bị hành quyết. Trong vài trường hợp, nông dân đã lợi dụng phong trào CCRĐ để giải quyết những mối tư thù bằng cách vu cáo người khác có hành vi phản động. Trong tiến trình của chương trình CCRĐ, dăm ba ngàn người , trong đó có nhiều người trung thành và ủng hộ phong trào Việt Minh bị kết tội phản động và bị xử tử. Trong vài trường hợp, các đội viên cải cách cũng tấn công các cán bộ Việt Minh vừa giãi ngũ và gia đình những người này. Ngay cả những người có liên hệ, móc nối với giới chức cao cấp cũng không được bảo vệ. Trường hợp điển hình, một cán bộ Việt Minh được Hồ Chí Minh đích thân che chở bằng cách chỉ thị đến nhà chức trách địa phương không được đưa người này ra trước toà án nhân dân. Tuy nhiên, người cán bộ và gia đình vẫn bị đem ra trước toà án nhân dân và bị dân làng đấu tố . Cháu gái của người cán bộ, Duong Van Mai Elliott, đã thuật lại câu chuyện như sau:
“ Mỗi khi bác tôi ra khỏi nhà
đều bị trẻ con ném đá. Mỗi lần bị người nào tấn công, dù lớn hay nhỏ, bác tôi cũng cúi đầu van xin: “ lậy ông bà xin tha cho tôi....”
Địa chủ bị làm con dê tế thần cho cuộc sống khổ cực của nông dân. Trong làng của bác tôi, người ta hành hạ ông để chứng tỏ sự nhiệt tâm ủng hộ phong trào CCRĐ và tỏ lòng biết ơn quân đội nhân dân đang nắêm giữ quyền lực. Những người ghen tị về sự giàu có và thế lực của ông trước kia, giờ đây họ lấy làm thích thú khi được hạ nhục ông.”

Cuối cùng, nhà cửa ruộng vuờn của người cán bộ trên đây bị tịch thu, gia đình phải ở trong một túp lều bên ngọn đồi kế cận, và canh tác một khoảnh đất nghèo nàn sỏi đá do các đội viên cải cách cấp cho.


Không thể nghi ngờ về một vài vụ bạo
động có liên quan đến phong trào CCRĐ là hậu quả tất nhiên và tự phát, do sự căm thù giai cấp phát xuất từ nông thôn. Những sự kiện như thế, đã trở nên rất quen thuộc, dù là một bi kịch, nhưng đó là sản phẩm phụ của cách mạng. Nhưng, có nhiều bằng chứng cho thấy lãnh đạo đảng là những người chịu trách nhiệm trong việc hoạch định và thực hiện kế hoạch. Người nhận lãnh trách nhiệm tổng quát là Tổng Bí Thư Trường Chinh, đã ra mặt ngưỡng mộ chính sách cải cách ruộng đất tại Hoa Lục , đã công khai lặp lại quan điểm của Mao Trạch Đông rằng CCRĐ phải được thực hiện dưới hình thức đấu tranh giai cấp, cùng với các ủy viên trung ương khác gồm có Hoàng Quốc Việt, thứ trưởng Canh Nông Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương, một nhân vật Mao-ít , có nhiều ảnh hưởng trong đảng và là một ủy viên trung ương từng kêu gọi phải chỉnh đảng để trong sạch hóa đảng. Theo chân Trung Cộng, các lãnh tụ vừa kể ước tính rằng từ 4 đến 5% dân số phải được liệt kê vào thành phần địa chủ, kẻ thù của giai cấp nông dân; mặc dù trên thực tế, tại nhiều làng, họ chỉ có một ít ruộng đất vừa đủ sống .
Sự bạo
động trong phong trào CCRĐ đã làm Hồ Chí Minh ngạc nhiên, mặc dù ông có cùng quan điểm với thành phần quân sự; một trong những mục tiêu của phong trào CCRĐđể tiêu diệt kẻ thù và những phần tử phản động tại nông thôn. Trong bài nói chuyện với các đội viên cải cách tại Thái Nguyên vào cuối năm 1994, ông tuyên bố CCRĐ là một công cuộc đấu tranh giai cấp:
- Công tác quan trọng trong làng là vấn
đề đoàn ngũ hóa nông thôn: ủy ban nhân dân xã, du kích xã, các đoàn thể nông dân, thanh niên và phụ nữ ...nếu những phần tử xấu còn trà trộn trong các đoàn thể ấy thì chúng ta không thể tiến hành công cuộc CCRĐ. Để tiến hành công cuộc CCRĐ, phải có những biện pháp thích hợp đối với các phần tử xấu. Bất cứ biện pháp nào xét thấy cần thiết để loại trừ, thủ tiêu họ, cứ thi hành. Nếu có thể cải tạo họ, cứ thi hành. Đây là một công tác quan trọng phải được hoàn tất bởi tập thể.

Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh không đồng ý đối với hình phạt áp dụng chung cho mọi người: “ Để có những biện pháp thích đáng, không thể coi một đám đông đều là những người tốt hay toàn những người xấu; để biết rõ ai tốt ai xấu, phải dựa vào sự phán xét của tập thể.” Nói cách khác, đội viên cải cách phải học tập để phân biệt các thành phần địa chủ khác nhau. Mặt khác, phải biết là bọn họ cấu kết với nhau để bóc lột nông dân.


Hồ cũng chống
đối biện pháp tra tấn. Ông nói với một số đội viên cải cách vẫn sử dụng hình phạt tra tấn, rằng đó là phuơng pháp dã man mà các phần tử đế quốc, tư bản và phong kiến áp dụng hầu dể bề làm chủ tập thể và đánh phá cách mạng. Chúng ta, những người đang tiến hành một phong trào công bình và chính đáng thì tại sao lại sử dụng những phương pháp tàn bạo như thế? ( Hồ Chí Minh toàn tập I, tr. 112-121 )
Sự khiển trách của Hồ Chí Minh về việc sử dụng những biện pháp tàn bạo không gây một ảnh hưởng nhỏ nào. Như tại Thái Nguyên, một
địa chủ đã từng ủng hộ và trung thành với cách mạng trong nhiều năm, từng chứa chấp Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt trốn tránh thực dân Pháp; đã bị đội cải cách kết vào tội cường hào và lên án tử hình. Khi dân làng lên tiếng bênh vực bà, thì họ cũng bị kết án là tay sai của kẻ thù. Sau khi được báo cáo về trường hợp trên đây, Hồ Chí Minh đặt vấn đề với Trường Chinh, và nạn nhân được giãm án . Tuy nhiên, những trường hợp như thế này thật hiếm, và cho tới khi chiến dịch chấm dứt vào cuối năm 1956, hàng ngàn người bị xử tử và vô số người khác bị sách nhiễu, bị kết án, bị hạ nhục và bị dán nhãn là kẻ thù của nhân dân. Mặc dù Hồ Chí Minh đã lo sợ về hình phạt tàn bạo áp dụng chung cho tập thể trong chiến dịch CCRĐ, tuy nhiên dưới mắt của một quan sát viên Việt Nam, thì ông Hồ bị Mao Trạch Đông đe dọa, và sợ hãi không dám làm trái ý của các sĩ quan Trung Cộng đang đóng quân tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. ( Bùi Tín , Following Ho – tr.28-29 ; Vũ Thư Hiên - Đêm Giữa Ban Ngày, tr. 224 ; Moise – Land Reform,tr. 127 –128. ) Ngưng trích.



tải về 95.64 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương