Bodhicaryàvatàra



tải về 0.83 Mb.
trang5/5
Chuyển đổi dữ liệu10.12.2017
Kích0.83 Mb.
#4452
1   2   3   4   5

MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT CỦA

TIỂU THỪA CŨNG CẦN PHẢI

CÓ NHẬN THỨC VỀ

TÁNH KHÔNG

TL: Thắng Luận

TQ: Trung Quán
41. (TL) Nhờ tu Tứ Diệu Đế

Cũng đủ đạt giải thoát

Cần chi đến trí tuệ

Thấy rõ được Tánh Không?


(TQ) Kinh Bát Nhã dạy rằng

Thiếu tuệ giác Bát Nhã

Thì không thể giác ngộ

Tính chân chánh của Đại thừa
42. (TL) Song giáo lý Đại Thừa

Không do Phật thuyết giảng

Nên không đáng tin cậy.
(TQ) Vậy vì lý do nào

Khiến Tiểu Thừa đáng tin?


(TL) Vì tất cả hai phái

[Tiểu Thừa và Đại Thừa]

Đều xác nhận như vậy.
(TQ) Vậy thì lúc trước đây

Các anh chưa chấp nhận

Không lẽ kinh điển ấy

Không phải lời Phật dạy?


43. (TL- Thắng Luận) Chúng vẫn đáng tin cậy

Vì chúng được truyền thừa

Liên tục không gián đoạn.
(TQ) Lý do các anh tin

Kinh điển của Tiểu Thừa

Chẳng khác chúng tôi tin

Kinh điển của Đại Thừa;

Chúng cũng được các Tổ

Nối tiếp nhau truyền thừa

Không bao giờ gián đoạn;

Lại nữa theo các anh

Tất cả kinh điển nào

Được hai phái chấp nhận

Cũng đều là chân lý,

Vậy thì phải chấp nhận

Cả kinh điển Vệ Đà

Và kinh điển ngoại đạo.


44. (TL-Thắng Luận) Kinh điển của Đại Thừa

Thường hay bị tranh cãi

Vì vậy không đáng tin.
(TQ) Vậy kinh của các anh

Cũng nên từ bỏ luôn

Vì chúng bị ngoại đạo

Và nội phái tranh cãi.



Sự chưa trọn của Tiểu Thừa
45. Gốc rễ của giáo lý

Mà đức Phật giảng dạy

Bắt nguồn từ Niết Bàn

Và đời sống tu hành

Của các vị xuất gia

[Đã sạch mọi phiền não].

Điều này hiếm người đạt

Bởi vì tâm của họ

Còn bám víu đối tượng (27)
46.- 47. (TL) Các bậc A La Hán

Dù không hiểu Tánh Không

Cũng vẫn được giải thoát

Vì đã diệt phiền não

Nhờ tu Tứ Diệu Đế.
(TQ) Dù phiền não chấm dứt

Song chắc gì hết khổ?

Nhiều vị vẫn thọ khổ

Do nghiệp lực quả báo

Từ quá khứ vẫn còn

[Thông qua sự lưu truyền

Mà chúng tôi được biết

Chính ngài Mục Kiền Liên

Tuy thành A La Hán

Song vẫn còn thọ khổ].


48. (TL-Thắng Luận) Ái sinh từ cảm thọ

Những A La Hán ấy

Vẫn còn có cảm thọ

Tâm còn bám đối tượng

[Nên không đạt Niết Bàn]
48. (TQ) Không hiểu biết Tánh Không

Thì tâm bám sự vật

Tâm chỉ tạm lắng yên

Trong những khi nhập định

Rồi trở lại như trước.

Vậy muốn chấm dứt khổ

Phải tu quán Tánh Không.

Chớ sợ Tánh Không
Câu 49-52.: Bỏ (28)
53. (Hỏi) Vừa chấp vào hiện hữu

Vừa sợ hãi Tánh Không

Nên không thể giác ngộ

Vẫn nhận lấy đau khổ

Chìm đắm trong luân hồi.
54. (Đáp) Sự phản bác như vậy

Thực không có căn cứ

Vậy không nên ngại ngần

Thiền quán về Tánh Không.


55. Tánh Không là liều thuốc

Dùng đối trị Vô minh

Của chướng ngại phiền não

Và chướng ngại hiểu biết (29)

Muốn đạt “Nhất Thiết Trí”

Phải thiền quán Tánh Không.


56. (Phản bác) Tánh Không gây đau khổ

Nó khiến tôi lo sợ.


(Đáp) Tánh Không làm lắng dịu

Tất cả mọi khổ đau

Tại sao lại sợ nó?
57. Chừng nào còn tin rằng

Cái Ta” là có thật

Chừng ấy còn sợ hãi

Về cái này cái kia.

Nếu nhận thức rõ rằng

"Cái Ta" không có thật

Vậy ai gánh nỗi sợ?


CHỨNG MINH VỀ TÁNH KHÔNG
Chứng minh về sự Vô ngã của một "Cái Ta" có thật
"Cái Ta" không phải vật chất –

Phản bác lại chủ nghĩa vật chất
58-60. Răng, tóc, móng, máu xương

Đều không phải là "Ta"

Mủ, đờm, nước miếng, mỡ

Nước tiểu, phân, thịt, gân

Hơi nóng, chín lỗ hổng …

Và tất cả sáu thức

Cũng không phải là “Ta”

Ngã cũng không phải là tinh thần –

Phản bác phái Số Luận (30)
61. (TQ) Nếu nhĩ thức là “Ta”

Thì luôn nghe âm thanh (31)

Cả lúc nó vắng mặt

[Vì các anh cho rằng

"Cái Ta" là vĩnh cửu]

Nếu đối tượng cái biết (32)

Không còn có mặt nữa

Làm sao có cái biết?

Vậy vì lý do nào

Gọi đó là nhĩ thức?


62. Nếu xem rằng cái biết

Là những gì không biết

Thì gỗ cũng phải biết

Vậy có thể khẳng định

Nếu không có quan hệ

Với đối tượng nào đó

Thì không có cái biết.
63. (Số Luận) Vì lẽ nào "Cái Ta"

Khi thấy biết màu sắc

Lại không nghe âm thanh?
(TQ) Tại sao cùng một lúc

Thấy được mà không nghe?


(Số Luận) Vì âm thanh lúc ấy

Không có mối quan hệ.


(TQ) Như vậy thì "Cái Ta"

Không phải là nhỉ thức.


64. Cái mà bản tánh nó

Vốn thâu nhận âm thanh

Sao lại thấy hình sắc?
(Số Luận) Cùng một người đàn ông

Có thể xem là cha

Vừa cũng xem là con.
(TQ) Như thế là giả danh

Theo chân lý tuyệt đối

Không thể nào như vậy.
65. Bởi vì theo các anh

Thực tại là ba đức (33)

Từ bi, mê, bóng tối

Đã tạo ra vật thể

Chẳng là cha hay con

Cả ba không sẵn có

Tính chất nghe âm thanh.
66. (Số Luận) Cũng như một diễn viên

Đóng nhiều vai thay đổi

Tánh thâu nhận âm thanh

Có thể chuyển thành ra

Tánh nhận thấy hình sắc.
(TQ) Thường thay đổi tính chất

Thì không thể vĩnh hằng.

Vậy điều anh nói rằng

Trong cùng một cái ta

[Hay trong một diễn viên]

Chứa đựng nhiều tính chất

Là điều chưa từng có.
67. Nếu tánh chất đổi khác

Thì không thực có được.

Vây xin anh chỉ giúp

Thực tánh nó là gì?

Bản chất nó là gì?
(Thường Luận)

Đó chính là tánh biết (32)


(TQ) Nếu thức là bản chất

Thì chúng sinh như nhau

Cùng một thứ độc nhất!
68. Vã lại mọi chúng sinh

Hữu tâm hay vô tâm

Đều như nhau là “Một” (34)

Vì bản chất hiện hữu

Của chúng đều giống nhau.

Nếu hình thái khác biệt

[Các tánh nghe, thấy, ngửi…]

Được xem là không thực

Thì nền tảng của nó ["cái Ta"]

Làm sao có thực được.



Phản bác phái Thường Luận
69. Hơn nữa cái vô tâm

Cũng không phải là “Ta”

Vì nó không hay biết

Như khúc gỗ vô tri.


(Thường Luận)

Dầu bản chất vô tri

Song khi kết với tâm

Liền có ngay nhận thức.


(TQ) Điều này thật vô lý

Vì khi không có tâm

Nhận thức cũng bị diệt.
70. Nếu "Cái Ta" không đổi

Thì tâm giúp được gì

Cho "Cái Ta" như thế?

Nếu xem cái bất động,

Không nhận thức là “Ta”

Vậy thì hư không kia

Cũng phải xem là “Ta”!

Không cần có "Cái Ta" cũng có

được nhân quả của công đức
71. (Thường Luận) Nhưng không có "cái Ta"

Thì không có liên hệ

Giữa nhân và quả được.

Vì khi làm xong việc

Kẻ tạo nghiệp ("cái Ta") không còn

Vậy ai nhận quả đây?


72. (TQ) Tạo nghiệp và nhận quả

Thuộc hiện hữu khác nhau

[Năm Uẩn (35) của đời này

Là kẻ đã tạo nghiệp

Và năm Uẩn đời sau

Là người nhận quả báo]

Anh bảo có "cái Ta" (có Ngã)

Song không ai nhận quả

Tôi bảo không có “Ta” (Vô Ngã)

Và không ai tạo nghiệp

Cũng không ai nhận quả

Vậy tranh luận "cái Ta"

Chỉ là một việc thừa.
73. (Thường Luận) [Như trong kinh có nói]

Ai đã tạo ra nghiệp

Thì phải nhận quả báo.
(TQ) Theo lời Phật đã dạy

Trong một dòng tương tục

[Của đời sống một người]

Thì ai làm nấy chịu

[Vì muốn ngăn người ấy

Chối bỏ luật nhân quả]

Chứ Phật không phải dạy

"Cái Ta" là vĩnh hằng.


74. Ý niệm của quá khứ

Cũng như của tương lai

Đều không phải là “Ta”

Vì chúng không có thực

Nhưng ý niệm hiện tại

Cũng không phải là “Ta”.

Ví dù nó là “Ta”

Nghĩ xong nó biến mất

Và “Ta” cũng mất luôn.
75. Ví như thân cây chuối

Khi bẹ bị lột hết

Nó không hiện hữu nữa.

"Cái Ta" chẳng khác hơn

Khi bị phân tích kỹ

Thì không thấy nó đâu

Vậy nó không thật có.

[Không thể nào tìm thấy

"Cái Ta" trong năm Uẩn]

Không có “Cái Ta” cũng có thể

phát triễn được tâm từ bi
76. - (Hỏi) Nếu chúng sinh không thực

Vậy xót thương ai đây?


(TQ) Đó là những chúng sinh

Được nêu từ mê lầm

Của chân lý thế gian.

Tuy chúng không có thật

Song là đối tượng tốt

Của mục đích tu tập

[Để đạt quả Bồ Tát].
77. - (Hỏi) Nếu chúng sinh không thật

Vậy thì ai là người

Theo đuổi mục đích ấy?
(Đáp) [Theo chân lý tuyệt đối]

Thực không có chúng sinh.

Tất cả mọi nỗ lực

Đều dựa trên si mê.

[Theo chân lý tương đối]

Ta không nên khước từ

Sự mê mục đích ấy

[Tức tu hạnh Bồ Tát]

Vì muốn dứt khổ đau.
78. Phát sinh từ si mê

Nên bám víu "cái Ta". (27)

Ý thức chấp “Ta” tăng

Là nguyên nhân khổ đau

Vậy phải trừ diệt nó.

Do đó cách tốt nhất

Là tu quán Vô ngã.


Chứng minh về tính Vô ngã của

vạn pháp thông qua Bốn Niệm

Xứ: thân, thọ, tâm, pháp
Về thân
Tranh luận với trường phái Thường Luận
79.-80. Thân không phải là chân

Đùi, vế, eo, lưng, bụng

Thân không phải là tay

Ngực, nách, vai, cổ, đầu…

Vậy thứ nào là thân?
81. Nói thân là tất cả

[Thì không thể đúng được]

Vì mỗi một bộ phận

Đều ở vị trí riêng.

Còn cái thân độc lập

Thì nằm ở chỗ nào?


82. (Với Tiểu Thừa)

Nếu thân xem là “Một”

Nằm riêng trong mỗi phần

Vậy có bao nhiêu phần

Phải có bấy nhiêu thân.
83. Vậy thì thân không nằm

Bên ngoài hay bên trong

[Của tất cả bộ phận]

Song lìa các bộ phận

Tâm cũng không hiện hữu.

[Vậy các anh hãy chỉ]

Thân hiện hữu cách nào?
84. Thân thể không thực có

Vì cấu tạo đặc biệt

Nên lầm nhận có thân

[Ví như đầu, mình, chân …]

Như trong tối lầm nhận

Cây cột là hình người.


85. Chừng nào duyên còn hợp

Cột vẫn trông như người.

Bao lâu mà tay chân

Đầu mình… còn tập hợp

Chừng ấy còn nhận lầm

Đó chính là thân người.


86. Và bàn chân là gì?

Là tập hợp các ngón

Mỗi một ngón là gì

Nếu không là các lóng?


87. Chẻ lóng chân thành bụi

Rồi chẻ mãi không ngừng

Nhỏ tựa như hư không

Vậy tìm đâu lóng chân?


88. Bởi vậy muôn hình sắc

Khác nào bóng chiêm bao!

Ai là bậc có trí

Không thể bám víu chúng

Thân còn không có thật

Huống chi sự phân biệt

Giữa đàn ông, đàn bà.

Về cảm nhận (cảm thọ)
89. (TQ) Nếu đau đớn có thật

Sao nó không hành hạ

Một kẻ đang sướng vui?

Nếu thú vui có thật

[Như các món ăn ngon]

Sao không gây thích thú

Cho kẻ đang u sầu?
90. Nếu bảo rằng cảm giác

Khổ vui vẫn tồn tại

Song không thể nhận ra

Khi chúng bị lấn áp

Bởi cảm giác mạnh hơn.

Nhưng đâu là cảm giác

Khi không cảm nhận được?
91. (Đáp) Vẫn cảm nhận được chứ!

Vì trong khi đang vui

Khổ vẫn còn tồn tại

Trong trạng thái cực yếu

[Vì khổ bị lấn áp

Bởi cái vui mạnh hơn].


(TQ) Vậy cái khổ cực yếu

Không thể gọi là khổ

Bởi vì một cảm giác

Không thể cùng một lúc

Vừa khổ cũng vừa vui.
92. [Theo một quan niệm khác]

Khổ không thể xuất hiện

Khi cảm giác đối lập (vui)

Đang xuất hiện trong tâm.

Điều này cũng sai lầm

Vì đó là ảo tưởng (36)

[Xem khổ chưa hiện hữu

Cũng là một cảm giác]


93. Để trừ khử ảo tưởng

Cần trao dồi trí tuệ

Để thấy “tánh không thực”

Của tất cả sự vật.

Vì vậy các Thiền gia

Luôn tự nuôi dưỡng mình

Bằng nhập định quán xét

Về ảo tưởng cảm nhận.


94. Giác quan và đối tượng (37)

Khi chúng xúc chạm nhau

Sẽ sinh ra cảm nhận (cảm thọ)

Nếu chúng có khoảng cách

Làm sao chúng chạm nhau?

Nếu không có khoảng cách

Ắt chúng phải là một.

Như vậy thì cái nào

Gặp gỡ với cái nào?
95. Các hạt bụi cực nhỏ (38)

Không thể chia nhỏ nữa,

Khép kín và đồng dạng

Không thể xuyên nhập nhau.

Vì không xuyên nhập nhau

Nên không thể hoà hợp

Nếu không có hòa hợp

Thì không có cảm nhận.


96. Nếu vị nào thấy có

Hai vật hết chia được

Mà xuyên nhập với nhau

Làm ơn chỉ cho xem!


97. Nhận thức vốn vô hình

Không thể nào kết nối

Với đối tượng vật chất.

Càng không thể nối kết

Với tất cả giác quan

Như phân tích bên trên (39)

Vậy những gì thành tựu

Thông qua sự tập hợp

Đều không thể có thật.

Cũng không có sự vật

Của tổ hợp vi trần

Vì chúng không thực có. (40)


98. Xúc chạm không có thật

Thì cảm giác tìm đâu?

Cảm giác không thật có

Thì tội gì hành thân

Để tìm cầu khoái lạc?

Vậy ai chịu đau khổ?

Cái gì gây khổ đau?
99. Không có người cảm nhận

Cảm giác cũng không nốt

Đứng trước cảnh ngộ này

Ôi hỡi lòng tham ái

Sao không tan biến đi?
100. Ta thấy và cảm được

Vì tất cả đối tượng

Và tâm giao tiếp nhau

[Trong tổng hợp nhân duyên]

Mà biến thành cảm giác

Chúng đều không thật có

Như ảo ảnh cơn mơ.
101. Cảm giác trong quá khứ

[Mà ta hồi tưởng lại]

Và cảm giác tương lai

[Mà ta đang mong cầu]

Đều là sự nhớ tưởng

Chúng không phải cảm giác

Có được nhờ trải nghiệm

Hơn nữa chính cảm giác

Không thể tự trải nghiệm

Cũng như mọi đối tượng

Cũng không thể nào có

Kinh nghiệm của cảm giác.


102. Thế nên không có người

Trải nghiệm những cảm giác

Và không cảm giác nào

Có thể xem thật có.

Vậy cái nhóm năm Uẩn

Không thể là "Cái Ta".

Vậy sao có cảm giác

Khoái lạc hay đau khổ?



Về tâm
103. Tâm không nằm trong mắt

Không nằm trong đối tượng

Hay giữa hai thứ ấy

Tâm không thể tìm thấy

Trong thân hay ngoài thân

Hay bất cứ nơi nào.


104. Tâm không phải là thân

Cũng không phải khác thân

Nó cũng không hòa hợp

Hoặc khác biệt với thân

Tâm không là gì hết,

Hoàn toàn không thực có

Vậy bản chất chúng sinh

Vốn đã là Niết Bàn.


105. Nếu nhận thức đã có

Trước đối tượng của nó

Vậy nó dựa vào đâu

Để có thể phát sinh?

Nếu nhận thức phát sinh

Cùng lúc với đối tượng

Như vậy thì cả hai

Dựa vào đâu để sinh?


106. Nếu sinh sau đối tượng

Nhận thức dựa vào đâu

Để có thể khởi sinh?

[Vì đối tượng không còn].



Về pháp (đối tượng)
107. Qua sự phân tích trên

Thì tất cả sự vật

Đều không thực khởi sinh.
(Hỏi) Nếu sự vật không sinh

Thì chân lý thế gian

Cũng không thể có được.

Song tại sao lại có

Cả hai loại chân lý

[Là chân lý thế gian

Và chân lý tuyệt đối

Theo truyền thống Trung Quán?]

Vậy chân lý thế gian

Có phải được sinh từ

Chân lý thế gian khác?

[Tức là được nhận thức

Đã có sẵn tạo ra?]

Vậy làm sao chúng sinh

Có thể đạt Niết Bàn?.
108. (TQ Đáp) Sự nhận xét như vậy

Phát xuất từ suy nghĩ

Của người chưa giác ngộ

Một chân lý thế gian

Không thể độc lập có;

Một sự vật nào đó

Nếu nó là hệ quả

Của một chuỗi nhân duyên

Thì chân lý thế gian

Có mặt ngay tức khắc.

Không có nhân quả ấy

Thì chân lý thế gian

Cũng không thể hiện hữu.
109. (Phản bác) Bởi vì tâm nhận xét

Và vật bị nhận xét

Đều lệ thuộc lẫn nhau.
(TQ) Quả thực đúng như vậy

Đó là nhận xét chung

Thế gian ai cũng biết
110. Nếu dùng một nhận xét

Để tiếp tục nhận xét

Cái đã được nhận xét

Thì quá trình nhận xét

Không bao giờ chấm dứt.
111. Nếu đối tượng nhận xét

Không còn cơ sở nào

Cho nhận xét tiếp theo

[Vì nó thật trống rỗng]

Thì cái tâm nhận xét

Không còn nương vào đâu

Để có thể tồn tại

[Vì hết sạch đối tượng]

Tâm cũng không sinh nữa

Đây chính là Niết Bàn.


112. Nếu ai chủ trương rằng (41)

Vật và tâm có thật

Sẽ gặp tình trạng rối:

Nếu đối tượng thật có

Nhờ nương vào nhận thức

Vậy thì bằng cách nào

Để nhận thức có thật?
113. Hoặc nhận thức có thật

Nhờ nương cái nó biết

Vậy thì bằng cách nào

Cái được biết có thật?


Và nếu như cả hai

Nương nhau để mà có

Thì chúng không thật có.
114. Ví như người không con

Không được gọi là cha

Và con từ đâu sinh

Nếu không có người cha?

Cũng vậy, tâm và vật

Không hiện hữu độc lập.


115. (DT) Mầm phát sinh từ hạt.

Nhờ mầm mà thấy hạt

Tại sao không chấp nhận

Nhận thức là có thực

Vì nó được phát sinh

Từ sự vật được biết?


116. (TQ) Có thể chấp nhận rằng

Sự hiện hữu của hạt

Được biết nhờ thấy mầm;

Nhưng mà nhờ cái gì

Để có thể biết rằng

Nhận thức là thực có

Thông qua sự hay biết

Từ cái bị nhận thức?




Chứng minh bằng biện luận

Với 4 vị thế
Sự vật không thể tự sinh

nếu không có nguyên nhân
117. Thuyết Vô nhân (42) chủ trương

Tất cả mọi sự vật

Tự sinh không cần nhân.
(TQ) Qua tri giác ta biết

Thế giới được hình thành

Từ nhiều nhân khác nhau

Như sen từ hoa, cọng ...


118. (Hỏi) Cái gì đã tạo ra

Sự khác biệt của nhân?


(TQ) Đó là sự khác biệt

Của các nhân trước nữa.


(Hỏi) Tại sao nhân sinh quả?
(TQ) Qua năng lực nhân trước.

Sự vật không được sinh ra từ

một nguyên nhân vĩnh cửu

- không từ Trời - phản bác

phái Thường Luận
119. Thuyết Thường Luận (43) chủ trương

Tất cả mọi sự vật

Đều do Trời sinh ra.
(TQ) Nếu Trời là nguyên nhân

Sáng tạo ra sự vật

Vậy vị ấy là ai?
120. (Thường Luận) Chính là năm Đại chủng (44)
(TQ) Vậy đâu cần chứng minh

Sự hiện hữu của Trời

Và đâu cần mệt nhọc

Để tìm cách đặt tên

Năm Đại chủng là Trời!
121. Hơn nữa năm Đại chủng

Vô thường và bất động,

Không cần được quan tâm,

Không linh thiêng, không sạch

Trời đâu phải như thế?
122. Hư không cũng bất động

Nên không phải là Trời

Cũng không phải Tự ngã.

Nếu như bảo rằng Trời

Không thể nghĩ bàn được

Vậy nói đến làm chi

[Sự sáng tạo của Trời]?

(Hỏi) 123. Trời sáng tạo những gì?


(TL Đáp) Ngài tạo ra Tự ngã

[Tức "Cái Ta" vĩnh hằng],

Tạo quả đất, Đại chủng
(TQ) Sáng tạo Tự ngã ư?

- Theo như các anh nói

Đại chủng là vĩnh hằng

Vậy đâu cần tạo ra!


Sáng tạo Đại chủng ư?

- Chúng đều vĩnh cửu mà!


Sáng tạo nhận thức ư?

- Nhận thức được phát sinh

Thông qua các đối tượng!
Sáng tạo vui, khổ ư?

- Chúng đều là kết quả

Của nghiệp lành, nghiệp dữ!

Vậy Trời tạo gì nữa?


124. Nếu tất cả nguyên nhân

Không có sự bắt đầu

Thì làm sao kết quả

Có sự bắt đầu được?


125. Nếu sinh nhờ duyên hợp

Thì duyên là nguyên nhân

Chứ không phải là Trời

Nhân duyên phối hợp đủ

Thì sự vật sinh ra;

Không có phối hợp ấy

Sự vật sẽ không thành

Dù có Trời hay không.


126. Nếu sự vật sinh ra

Không do ý của Trời

Thì Trời đâu có quyền!

Nếu do ý của Trời

Thì Trời lệ thuộc ý!

Vậy không có vị Trời

Độc lập và sáng tạo.

- Không từ vi trần (nguyên tử)
127. Những ai chủ trương rằng

Vi trần là nguyên nhân

Mãi mãi tạo muôn vật.

Vi trần không thực có

Nên đã bị bác bỏ (39)

- Không từ vật chất tối sơ

vĩnh cửu - Phản bác phái

Số Luận
128. Số Luận chủ trương rằng

Chủ thể của vạn vật

Chính là sự quân bình

Của ba đức nguyên thỉ

Đó là lòng từ bi,

Say mê và bóng tối;

Khi chúng mất cân bằng

Thì thế giới được sinh (33)


129. (TQ) Một vật nếu thực có

Thì không thể cùng lúc

Có cả ba bản tính;

Ba đức không thực có

Bằng không thì mỗi đức

Phải gồm đủ cả ba.


130. Ba đức đã không thực

Thì cái gì được tạo

[Như âm thanh, hình sắc]

Sẽ không được nghe thấy;

Hơn nữa vật vô tri

Như quần áo chẳng hạn

Không thể có vui, khổ.
131.- (Số Luận) Phải các anh nói rằng

Bản chất vật vô tri

[Ví dụ như quần áo]

Là nguyên nhân vui, khổ?


(TQ Đáp) Chúng tôi đã dẫn chứng

Là chúng không có thực

Nên đã chỉ trích rồi;

Hơn nữa theo các anh

Khoái lạc là nguyên nhân

Của áo quần vô tri

Chứ đâu phải áo quần

Là nguyên nhân khoái lạc?


132. Thực ra thì khoái lạc

Cũng sinh từ áo quần

Vì nếu không có chúng

Cũng chẳng có khoái lạc

Vả lại nào ai thấy

Khoái lạc là trường tồn.


133. Nếu khoái lạc trường tồn

Sao không cảm nhận mãi?

Nếu bảo nó lúc ấy

Ở trạng thái cực yếu

Vậy vì lý do nào

Có lúc mạnh lúc yếu?


134. Nếu trạng thái khoái lạc

Chuyển mạnh sang thành yếu

Vậy hai trạng thái ấy

Đương nhiên là vô thường;

Sao không thừa nhận đi

Vạn vật là vô thường?


135. - (Số Luận) Mặc dù các trạng thái

Yếu mạnh đều vô thường

Song bản chất khoái lạc

Vốn thật là vĩnh hằng.


(TQ) Dù ở trạng thái nào

Chúng vẫn là khoái lạc

Trạng thái đã vô thường

Nên khoái lạc vô thường.


136. Theo như các anh nói

Từ cái toàn rỗng không

Chẳng thể sinh gì cả

Thế mà lại chấp nhận

Các trạng thái mạnh yếu

Tiềm ẩn trong khoái lạc

Nếu quả có trong nhân

Thì hoá ra ăn cơm

Có khác gì ăn phân.
137. Và các anh nên mua

Hạt bông vải mà mặc

Thay vì mua vải vóc.
- (Số luận) Vì thế gian si mê

Nên không thể nhận thấy

Y phục trong bông vải

[Tức quả nằm trong nhân].


(TQ) Và ngay cả những kẻ

Nhận mình thấy chân lý

Cũng có thái độ ấy.
138. Ngay cả người thế gian

Cũng có nhận thức này

Qua nhận thức như vậy

Nên thấy quả trong nhân

Nếu cái thấy họ sai

Thì những gì thấy biết

Đều là không thực có.
139. - (Số Luận) Vậy theo phái Trung Quán

Thì tất cả nhận thức

Dắt dẫn đến trí tuệ

Đều vô giá trị sao?

Như vậy thì Tánh Không

Của tất cả sự vật

Đương nhiên cũng là sai!
140. (TQ) Nếu như không hiểu được

Một sự vật là sai

Thì không thể suy ra

Cái sai ở chỗ nào;

Vì vậy khi biết được

Cái sai nằm ở đâu

Thì cái sai rành rành.
141. Ví như người nằm mộng

Thấy đứa con mình chết

[Mà y vốn không con]

Thì ý nghĩ con chết

Ngăn chận được ý nghĩ

Rằng con mình còn sống

Dù là điều ấy sai.
142. [Tóm lại] phân tích trên

Đã trình bày rõ rằng

Mọi sự vật hiện hữu

Đều phải có nhân duyên

Và bên trong mỗi duyên

Hay tập hợp của duyên

Đều hoàn toàn trống rỗng.

[Những gì] ngoài nhân duyên

Không đến từ đâu cả

Không ở cũng không đi.



Biện luận về sự phát sinh qua

duyên”


143. Vật sinh từ ảo tưởng

Hoặc sinh từ nhân duyên?

[Lúc sinh] từ đâu đến?

[Lúc diệt] đi về đâu?

Đó là điều phải xét.
144. Đủ duyên chúng xuất hiện

Hết duyên chúng rã tan

Thực tại là giả tạo

Như bóng hiện trong gương

Vậy thứ gì chân thật?

Bác thuyết Hữu Nhân và Vô Nhân

- Biện luận về sự phát sinh của

Hữu và Vô -
145. Một vật nếu thực có

Thì cần gì đến nhân

Nếu nó không thực có

Cần nhân để làm gì?


146. Dù với muôn triệu nhân

Cũng không thể biến đổi

Cái không thành cái có.
147. Nếu một vật hiện hữu

Đang ở trạng thái không (Vô)

Vậy lúc nào thành có (Hữu)?

Cái không chẳng thể mất

Nếu cái có không sinh.
148. Cái có không xuất hiện

Vì cái không chẳng mất.

Mọi chúng sinh cũng vậy

Không thể có hai tính

Vừa có lại vừa không.
149. Bởi vậy diệt hay sinh

Không hề có thực chất

Cũng vậy, toàn thế giới

Rốt ráo không sinh diệt.


150. Với sự quán sát kỹ

Thì bao nhiêu số phận

Chỉ là những ảo ảnh

Chẳng khác bóng chiêm bao

Tương tự như cây chuối

Không hề có cốt lõi;

Bởi vậy trong Tánh Không

Không có sự khác biệt

Giữa những kẻ đã vào

Hay chưa vào Niết Bàn.




TỔNG KẾT VÀ

LỜI KHUYÊN CUỐI CÙNG
151. Vậy thì trong Tánh Không

Sự vật không thực có

Vậy có gì để mất?

Nào ai được khen, chê?

Người nào kính lễ tôi?

Kẻ nào khinh miệt tôi?


152. Ai vui và ai khổ?

Ai kẻ trọng, người khinh?

Hãy phân tích thực tính

Còn ai là kẻ tham

Còn gì để mà tham?
153. Quán sát kỹ nhân gian

Thì ai là hữu tình?

Ai chết và ai sinh?

Ai là người đã sống?

Ai là mẹ, là cha

Và ai là bè bạn?


154. [Hỡi người tìm sự thật]

Hãy cùng tôi nhận chân

Sự vật như hư không

Tất cả đều trống rỗng

Vì mưu cầu hạnh phúc

Nên lâm cảnh tranh giành

Chuốc buồn vui tán loạn.
155. Do khoái lạc đòi hỏi

Nên tạo ra nghiệp ác

Phải trải qua tháng ngày

Đầy lo âu, thất vọng

Hành hạ, giết hại nhau!
157. Đôi khi sinh cõi lành (45)

Hưởng thụ nhiều lạc thú

Rồi đến khi nhắm mắt

Nhận số phận hẩm hiu

Tràn đầy bao thống khổ.
157-158. Hố thẳm của đoạ đày

Nhan nhản trong cuộc sống

Rơi vào khó thoát ra.

Nhưng đang trong luân hồi

Làm sao tránh khỏi nó?
159. Hơn nữa sự mê chấp

Về sự vật thực có

Lại luôn luôn trái ngược

Với sự hiểu Tánh Không;

Nếu trong cuộc đời này

Tôi không thể thấu đạt

Về chân lý tuyệt đối

Thì tôi phải tiếp tục

Chìm đắm biển luân hồi.
161. Cuộc sinh tồn đời này

Dẫy đầy bao khủng khiếp

Như biển khổ mênh mông;

Sức người lại quá yếu,

Mạng sống ngắn, mong manh

Đua chen sống vội vã

Lo chăm sóc thân thể

Mệt nhọc vì mưu sinh

Chịu đói khát, suy yếu

Quanh quẩn chuyện ngủ, ăn;

Hứng bao điều bất hạnh

Giao du kẻ ngu đần

Vô nghĩa ngày tháng trôi

Rất khó tìm giờ giấc

Để suy nghĩ thực tại

Vậy tìm đâu phương thức

Ngăn chận tâm tán loạn?
162. Đây Ma vương rình rập

Xô ta vào bất hạnh

Kia nẻo tà dọc ngang

Thật khó hòng thắng vượt.


163. Không dễ sinh cõi phước (45)

Gặp Phật càng hiếm hoi

Sóng thần của phiền não

Làm sao cản ngăn đây?

Ôi triền miên khổ đau !
164.-165. Đáng thương thay chúng sinh

Lăn lộn trong sóng khổ

Mà không hề hay biết

Như người tu khổ hạnh

Nhúng người vào nước lạnh

Hoặc lao vào lửa nóng

Dù vô cùng khổ đau

Song nghĩ là an vui!


166. Có kẻ nghĩ rằng mình

Không bao giờ già chết

Song họ sẽ chóng gặp

Khi Thần Chết đứng bên

Và Thần Chết lấy mạng.
166. Chừng nào tôi dập tắt

Lửa khổ đốt chúng sinh

Bằng trận mưa công đức

Trút xuống từ tầng mây

Phước lành tôi tích lũy?
167. Chừng nào tôi có thể

Trình bày về Tánh Không

Về tích lũy công đức

Cho tất cả chúng sinh

Bỏ quan niệm sai lầm

Là vạn vật thực có?





CHƯƠNG X
HỒI HƯỚNG
1. Công đức do viết luận

„Nhập Bồ Tát Hạnh“ này

Xin hồi hướng chúng sinh

Mong tất cả bước vào

Con đường của Bồ Tát.
2. Nguyện nhờ công đức này

Mà tất cả chúng sinh

Đang chịu bao đau bệnh

Hành hạ thân và tâm

Được an vui vô tận.
3. Nguyện họ luôn hạnh phúc

Suốt sinh tử luân hồi.

Nguyện họ luôn an lạc

Như chư vị Bồ Tát.


4. Nguyện chúng sinh khắp nơi

Đang ở trong địa ngục

Được niềm vui cực lạc

Cõi Sukhavati.


5. Nguyện kẻ bị run rét

Trong địa ngục giá băng

Đều được hơi sưởi ấm;

Nguyện chúng sinh nóng nực

Trong địa ngục đốt nung

Được mây lành Bồ Tát

Giáng mưa làm dịu mát
6. Nguyện rừng lá gươm đao

Thành vườn hoa tráng lệ;

Nguyện cây cành giáo mác

Biến thành cây như ý

[Làm thoả mãn ước mơ].
7. Nguyện địa ngục thành vườn

Với hồ sen tỏa hương

Với thiên nga, nhạn, hạc

Hát ca vui rộn ràng.


8. Nguyện địa ngục đốt nung

Biến thành kho châu ngọc;

Nguyện cho nền sắt nóng

Thành thủy tinh lung linh ;

Nguyện địa ngục xay nghiền

Thành điện đền thờ Phật.


9. Nguyện mưa đá núi lửa

Biến thành trận mưa hoa ;

Nguyện chiến trường gươm giáo

Thành lễ hội tung hoa.


10. Nguyện chúng sinh chìm nổi

Trong dòng sông địa ngục

Nước nóng bỏng sục sôi

Nấu tiêu tan thịt da

Xương lòi ra trắng hếu

Nhờ công đức của tôi

Được sinh lên cõi trời

Sông Madukini.


11. Nguyện ngục tốt Diêm Vương

Và kên kên, chim quạ

Hình dáng thật dữ dằn

Trong bóng đen thâm u

Bỗng nhiên tan biến hết;

Chúng ngẩng lên hỏi nhau

“Ánh sáng kỳ diệu này

Từ đâu chiếu rọi đến?”

Và tất cả bỗng thấy

Bồ Tát Kim Cương Thủ

Uy nghiêm đứng trên không.

Nhờ năng lực hoan hỷ

Rửa sạch hết lỗi lầm

Chúng cùng bay theo Ngài.


12. Nguyện tội nhân địa ngục

Gặp được mưa hoa sen

Chan hoà với nước thơm

Rơi xuống rưới tắt lửa

Liền hân hoan, khoan khoái.

Các tội nhân tự hỏi

“Ai đã làm thế này?”.

Chúng ngẩng nhìn hư không

Thấy Bồ Tát Quan Âm

Tay cầm hoa sen vẫy.

Chúng vô cùng cảm phục

Nhận hạnh phúc bất ngờ.


13. Nguyện hữu tình địa ngục

Vui thấy Đức Văn Thù.

Chúng lớn tiếng gọi nhau:

Bạn ơi! Mau lại đây



Chiêm ngưỡng Đức Văn Thù

Ngài đến cứu chúng ta !

Ngài Văn Thù Đồng Tử

Trong hào quang tỏa rạng

Đã phát tâm Bồ Đề

Có năng lực diệt khổ

Và đưa đến an vui.

Ngài với tâm từ bi

Triệt để cứu muôn loài“.

14. "Bạn ơi! Hãy nhìn kia



Dưới gót sen của Ngài

Vương miện trăm vị Trời

Đang cúi xuống đảnh lễ

Tiếng Thiên nữ ca ngợi

Mê ly khắp điện đền

Mưa hoa rắc đầu Ngài

Mắt Ngài óng từ bi

Bao tội nhân địa ngục

Đều đứng dậy reo hò.
15. Nguyện chúng sinh địa ngục

Nhờ công đức của tôi

Thấy Phổ Hiền Bồ Tát

Hoá hiện vầng mây lành

Trút mưa thơm dịu mát

Khiến chúng đều hân hoan.


16. Nguyện tất cả chúng sinh

Lià sợ hãi, đau đớn

Như tại châu Kuru.
17. Nguyện loài vật hết sợ

Cảnh ăn thịt lẫn nhau

Nguyện cho loài ngạ quỷ

An vui như những người

Ở Bắc Câu Lưu Châu.
18. Nguyện Đức Quán Thế Âm

Rưới nước cam lồ mãi

Khiến ngạ quỷ no ấm

Tắm được dòng sữa mát.


19. Nguyện kẻ mù được thấy

Nguyện người điếc được nghe

Nguyện các bà mang thai

Sinh nở không đau đớn

Như Hoàng Hậu Ma-gia.
20. Nguyện người trần thân trụi

Áo cơm có đầy đủ

Được những gì cần thiết

Cho cuộc sống yên bình.


21. Nguyện người đau thoát bệnh

Tù nhân được tự do

Kẻ yếu được mạnh ra

Mọi người thương mến nhau.


22. Nguyện người sợ hết sợ

Người trói được tháo dây

Người yếu được mạnh lên

Nguyện người người nhớ đến

Giúp nhau làm việc thiện.
23. Nguyện cho khách lữ hành

Đến đâu cũng an lành

Nguyện cho người buôn bán

Thu lợi nhuận dễ dàng.


24. Nguyện những kẻ đi thuyền

Đạt được nhiều mục tiêu

Thuyền bình an cập bến

Đoàn tụ cùng thân quyến.


25. Nguyện hành khách lạc đường

May gặp đoàn đi buôn

Thoát lo sợ bị cướp

Hay thú dữ cọp beo

Hành trình được xuôi thuận.
26. Nguyện chư Thiên, Thánh Thần

Hộ trì kẻ bệnh hoạn

Kẻ say sưa, cùng bấn

Người già yếu, trẻ thơ

Kẻ ngu si, quẫn trí.
27. Nguyện chúng sinh thoát khỏi

Tám hoàn cảnh hiện hữu

Không thuận cho việc tu (46)

Nguyện họ đủ đức tin

Đủ từ bi, trí tuệ

Hoàn hảo trong hình tướng

Thuần thục cách hành xử

Nhớ lại được đời trước.


28. Nguyện chúng sinh có được

Những kho tàng vô tận

Là hư không, tự do

Nguyện họ sống hoà hợp

Không tuyệt vọng, lệ thuộc.
29. Nguyện chúng sinh yếu đuối

Được trở thành mạnh mẽ;

Nguyện khất sĩ tiều tụy

Được đẹp tươi vô cùng.


30. Nguyện tất cả thiếu nữ

Được trở thành nam nhi;

Nguyện kẻ địa vị thấp

Đạt được địa vị cao

Không thành kẻ kiêu mạn.
31. Nguyện tất cả chúng sinh

Nhờ phước đức của tôi

Mà dứt sạch điều ác

Luôn thích làm điều lành.


32. Nguyện tất cả chúng sinh

Không lìa tâm Bồ Tát

Hiến thân cho giải thoát

Thường được Phật gia hộ

Không vướng bẫy ma vương.
33. Nguyện tất cả hữu tình

Được sống lâu vô tận

Luôn luôn được hạnh phúc

Chữ “chết’ không hề nghe .


34. Nguyện mười phương thế giới

Đầy rừng cây như ý

Vang diệu âm thuyết pháp

Của chư Phật, Bồ tát.


35. Nguyện toàn cõi địa cầu

Không gồ ghề sỏi đá

Bằng phẳng như lòng tay

Dịu êm đầy ngọc báu.


36. Nguyện pháp hội Bồ Tát

Mở ra khắp nơi nơi

Điểm trang cho mặt đất

Bằng hào quang các ngài.


37. Nguyện tất cả chúng sinh

Nghe pháp âm vi diệu

Vang bất tận từ rừng

Từ chim muông, ánh sáng

Từ trời rộng mênh mông.
38. Nguyện chúng sinh kề cận

Chư Phật và Bồ Tát

Với lễ vật cúng dường

Nhiều như mây bốn phương

Dâng lên đấng đạo sư.
39. Nguyện chúng sinh được mưa

Rơi xuống đúng thời vụ

Mùa màng được sung túc;

Nguyện thế giới giàu sang

Vua quan đều chính trực.
40. Nguyện thuốc thang công hiệu

Nguyện thần chú ứng linh

Nguyện quỷ ma, phù thủy

Đều phát tâm từ bi.


41. Nguyện tất cả chúng sinh

Không gặp điều bất hạnh

Bị tội lỗi, đau bệnh

Bị đàn áp khinh khi

Không còn tâm độc ác.
42. Nguyện tu viện, chùa chiền

Tu học được hưng thịnh

Tăng chúng sống vững bền

Mọi việc đều thành tựu.


43. Nguyện tăng sĩ siêng tu

Đạt trí tuệ càng nhiều

Thích giữ gìn giới luật

Diệt trừ sạch tán loạn

Tâm trí được khinh an.
44. Nguyện cho các ni cô

Không tranh chấp lẫn nhau

Thu lợi từ giáo pháp ;

Nguyện những vị khất sĩ

Luôn đầy đủ giới hạnh.
45. Nguyện người bị phạm giới

Biết ăn năn sám hối

Nguyện họ sinh cõi lành

Không còn phạm giới thêm.


46. Nguyện những vị xuất gia

Học rộng và uyên thâm

Được tặng phẩm, bố thí

Được tâm ý sạch trong

Vang mười phương tiếng tốt.
47. Nguyện chúng sinh không khổ

Và không gặp gian nan

Vì số kiếp tồi tàn

Với thân người duy nhất

Trở thành bậc Chánh giác.
48. Nguyện tất cả chúng sinh

Luôn cúng dường chư Phật

Được hạnh phúc khôn lường

Nhờ phước Phật vô biên.


49. Nguyện Bồ Tát hoàn thành

Ước nguyện cứu thế gian;

Nguyện tất cả chúng sinh

Được chư Phật, Bồ Tát

Xót thương và cứu độ.
50. Nguyện cho hàng Độc Giác,

Và Thanh Văn an lạc

Luôn luôn được Trời, người,

A Tu La cúng dường.


51. [Cuối cùng] Nguyện cho tôi

Nhận được sự gia hộ

của Văn Thù Bồ Tát

Nhớ lại những đời trước.

Nguyện đời nào cũng tu

Để chứng Cực Hỷ Địa (47)


52. Nguyện suốt mọi thời gian

Định lực đều duy trì;

Nguyện đời đời kiếp kiếp

Có được chốn thanh tịnh

Để thuận lợi tu hành.
53. Nguyện khi tìm học Pháp

Đều được Đức Văn Thù

Giải ngộ những chướng ngại

Và được ngài hộ trì.


54. Nguyện như Đức Văn Thù

Đi khắp mọi chân trời

Làm lợi cho chúng sinh

Tôi mong được như ngài.


55. Ngày nào hư không còn

Ngày nào quả đất còn

Ngày đó tôi tiếp tục

Diệt khổ của trần gian.


56. Nguyện đau khổ chúng sinh

Chín muồi nơi thân tôi;

Nguyện phước đức Bồ Tát

Mãi mãi đem hạnh phúc

Đến tất cả chúng sinh.
57. Nguyện giáo pháp Như Lai

Là linh dược duy nhất

Trừ đau khổ thế gian

Được trường tồn, ca ngợi

Được xuyển dương, hộ trì.
58. Nay tôi xin kính lễ

Đức Văn Thù Sư Lợi

Nhờ ân đức của ngài

Mà tâm tôi hướng thiện;

Kính lễ thiện tri thức

Nhờ ân đức các vị

Mà tâm tôi lớn lên.


***
CHÚ THÍCH :


(01) Phật: Trong Luận „ Nhập Hạnh Bồ Tát“, ngài Santideva đã dùng nhiều danh hiệu khác nhau để thay cho danh hiệu „Phật“, ví dụ như: đức Thế Tôn, bậc Chiến Thắng, đức Như Lai, bậc Đạo Sư, Hiền Giả v..v..

(02) Những vị Thừa Kế đức Phật bao gồm những vị thừa kế lời Phật dạy như hàng Thanh Văn, Độc Giác Phật và những vị thừa kế tâm của Phật như hàng Bồ tát.

(03) Các nơi Bồ tát ở: Là những nơi chốn và địa điểm sống và tu tập của Bồ tát Tất-Đạt-Đa Cồ-Đàm (Siddhàrtha Gautama) trước khi giác ngộ thành vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni.

(04) Tam Bảo: gồm có Phật, Pháp và Tăng

(05) Phạm Thiên: Là một hình thái hiện hữu của thế giới các vị Trời tối thượng

(06) Ba ruộng phước (Phước điền): Là những vị mà Phật tử nên cúng dường để được phước đức lớn cho đời này và đời sau. Thứ nhất là cúng dường Phật, Pháp Tăng (Kỉnh điền). Thứ hai là cúng dường cha mẹ (Ân điền). Thứ ba là cúng dường những kẻ nghèo khó (Bi điền)

(07) Pháp cạn, sâu: Chỉ cho Tiểu Thừa và Đại Thừa

(08) Chú thuật Mật tông: Đó là những câu tụng niệm có âm thanh chứa đựng một sức mạnh huyền bí của vũ trụ hay của Phật tính với công năng ủng hộ kẻ tu niệm

(09) Kinh Ba Phần: Là kinh gồm có ba phần: sám hối, phát nguyện và hồi hướng

(10) Truyện Cát Trường Sinh: Trong Kinh Hoa Nghiêm

(11) Nữ thần Durga: Là Nữ thần của Đạo Karnapa, Nam Ấn Độ

(12) Đổi vị trí cho nhau: Là một trong những phương tiện giúp đỡ tu tập, được miêu tả rõ trong Chương 8, từ câu 90-100 và từ câu 101-139

(13) Hoá sinh trong lòng sen: Đây là cảnh hóa sinh tại cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà

(14) Chiến công trọn thành: Tức là đạt được sự giác ngộ, thành Phật và truyền dạy giáo lý (Chuyển Pháp Luân)

(15) Xem chương VII, câu 16

(16) Xem chương IX, câu 73

(17) Bồ tát Diệu Hoa Nguyệt (Supuspacandra): Mặc dầu biết vua Curadatta rất ác độc, song vẫn cương quyết thuyết pháp vì lợi ích cho chúng sinh và đã bị vua hành hạ.

(18) Tinh huyết của cha mẹ

(19) Từ câu 141 đến câu 154 (trong ngoặt kép): Nơi đây ngài Santideva đã tự đặt mình vào địa vị của một người khác rồi hướng về „cái Ta“ (ngã) mà nói

(20) Chân lý thế gian: Còn gọi là tục đế, chân lý tương đối, chân lý bao phủ

(21) Chân lý tuyệt đối: Còn gọi là chân đế, thắng nghĩa đế

(22) Đây là cuộc tranh luận giữa Tôn giả Santideva (Trung Quán) và phái Duy Thức. Duy thức chủ trương rằng mỗi sự vật và hiện tượng bên ngoài đều là ảo tưởng. Chúng không có thật mà chỉ là bóng dáng của tâm. Chỉ có tâm mới hiện hữu thật sự

(23) Phụ nữ vô sinh: Là phụ nữ không thể nào sinh con được. Vì vậy sự bàn luận về sắc đẹp của đứa con gái của một phụ nữ vô sinh chỉ là chuyện vui đùa

(24) Đây là ví dụ về một con gấu bị chuột cắn làm độc. Gấu ngủ suốt mùa đông. Đến mùa xuân, khi nghe tiếng sấm nó tỉnh dậy và cảm thấy đau đớn mới nhớ lại đã bị chuột cắn. Ký ức của con người cũng tương tự như vậy

(25) Tâm siêu nhiên = Tha tâm thông

(26) Nơi đây Tôn giả Santideva phản bác lại phái Tiểu thừa đã quan niệm rằng sau khi đức Phật nhập Niết Bàn thì Ngài không còn làm lợi ích cho chúng sanh được nữa.

(27) Bám víu đối tượng hay sự vật = chấp pháp. Bám víu cái Ta = Chấp ngã

(28) Theo Prajanàkarumati thì các câu 50, 51 và 52 là những câu đã được tác giả khác từ ngoài đưa vào

(29) Chướng ngại hiểu biết = Sở tri chướng

(30) Số luận (Samkhya) là một học thuyết phi Phật giáo do Rishi Kapila thành lập vào thời cổ Ấn Độ, tin rằng mọi hiện tượng - trừ cái ngã trường cửu bất biến - được tạo thành từ một thần ngã Prakrti hay là thực chất tối sơ thấm khắp mọi sự. Khi tiếp xúc với thực chất này thì một loạt những biểu hiện như tri thức, cảm quan và đối tượng cảm giác phát xuất từ đấy và được cái ngã cảm thọ. Thực chất tối sơ là một chất liệu trường cửu, phổ biến tạo nên mọi sự và là bản chất của các pháp trong thế giới kinh nghiệm. Ngã là nguyên lý tâm bất biến trở nên liên kết với ngoại giới do sự đồng nhất sai lầm của nó với biểu hiện của thực chất tối sơ. (Theo: Thích Nữ Trí Hải: Nhập Bồ Tát Hạnh, Trang nhà Quảng Đức, Chương 9: Trí Tuệ, câu 60). Xem thêm Tìm hiểu sáu phái Triết học Ấn Độ, Thích Mãn Giác, 2002, Trang nhà Quảng Đức.

(31) Âm thanh: Là đối tượng của sự nghe = Trần cảnh

(32) Cái biết, Tánh biết= nhận thức

(33) Ba đức (nguyên lý) tối sơ của Số luận là: rajah, sattwa và tamah. Tùy theo dịch gỉa mà có nhiều cách dịch khác nhau. Cách dịch ở đây dựa theo E. Steinkellner với ba thuật ngữ: Güte, Leidenschaft và Finsternis (Santideva: Eintritt in das Leben zur Erleuchtung - Bodhicarỳavatàra. Eugen Diederichs Verlag, 1981, trang 125.)

Thích Nữ Trí Hải dịch là: ưu, hỷ, ám. Sách đã dẫn, câu 64

Thích Trí Siêu dịch là thanh tịnh, tạo tác u mê (Thích Trí Siêu: Bồ Tát Hạnh, Trang Nhà Quảng Đức, chương 9: Trí huệ, câu 64)

(34) “Một”: Theo Trung Quán, một sự vật có thật (có tự tính) còn được gọi là “Một”. Tự nó là nó, không do nhiều điều kiện khác (nhân duyên khác) phối hợp mà thành

(35) Năm Uẩn: Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức

(36) Ảo tưởng: Được sinh ra từ tưởng tượng, từ tà kiến hoặc do chấp trước

(37) Giác quan = Căn: tai mắt, mũi, lưỡi thân

Đối tượng: ví dụ như sự vật = Trần: như âm thanh, màu sắc, mùi vị, va chạm

(38) Hạt bụi cực nhỏ = vi trần hoặc cực vi trần và lân hư trần, nhỏ đến mức dường như không có gì cả

(39) Xem lại các câu 86 – 88 của chương chín

(40) Xem lại các câu 58 – 88 của chương chín

(41) Phản bác phái Hữu Bộ. Phái này quan niệm rằng tâm và vật là hai thực thể khác biệt

(42) Phái Vô Nhân: Phái này chủ trương rằng tất cả các pháp không do nhân gì sinh ra, họ bảo: “Mọi sự vật như mặt trời mọc, nước chảy xuống núi, hạt đậu tròn, gai nhọn và lông đuôi con công … không do ai làm ra cả, chúng tự nhiên sinh (Thích Nữ Trí Hải, sđd, chương 9, câu 116)

(43) Thường Luận: Phái này tin rằng mọi sự do thần Tự Tại Thiên sinh ra. Vị này có năm đức là thiêng liêng, trong sạch, đáng kính, trường cửu, độc nhất và là sáng tạo chủ của mọi sự (Thích Nữ Trí Hải, sđd, chương 9, câu 118)

(44) Bốn Đại chủng: gồm có đất, nước, lửa, không khí và không gian

(45) Cõi lành, Cõi phước = Bát phước sanh xứ: Tám cõi nhờ có phước đức mà được sinh đến đó, gồm có cõi người giàu sang, cõi trời bốn vị Thiên Vương, cõi trời Đao-lỵ, cõi trời Dạ-Ma, cõi trời Đâu-Suất, cõi trời Hoá-Lạc, cõi trời Tha-Hoá và cõi trời Phạm Thiên (Theo Đoàn Trung Còn: Phật học Từ điển, Saigon 1966, tập I, trang 243)

(46) Tám hoàn cảnh xấu (Bát nạn): Tám cảnh ngộ ngăn chận sự tu học để được giác ngộ, gồm có Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Châu Uất đan việt (Châu Bắc-cu-lư) người ở châu này sung sướng mãi nên tu học không được, cảnh trời Trường thọ (Vô tưởng thiên), nơi đây không có tâm tưởng nên không tu học được, đui, điếc, câm, Thế trí biện thông (ỷ mình thông minh biện bác theo thế sự mà không lo tu học, trước Phật và sau Phật, hai thời này không có sự bành trướng của đạo Phật nên không thể tu học (Đoàn Trung Còn, sđd, tr. 235)

(47) Cực Hỷ Địa: Sơ Địa của Bồ Tát



*****

Sàntideva


(Tôn giả Tịch Thiên) 
Bodhicaryàvatàra

NHẬP HẠNH BỒ TÁT

 Việt dịch:  Nguyên Hiển



Hiệu đính: Lê Triều Phương

Liên Lạc



Tuệ Quang Wisdom Light Foundation

PO Box 91748

Henderson, NV 89009, USA

(702)564-9186

Email: info@daitangvietnam.com

WEBSITE: WWW.DAITANGVIETNAM.COM

 
-Ấn bàn điện tử, Xuân 2009-



Chịu trách nhiệm ấn bản điện tử lần 2 : Nguyên Định (2/2009).

Xin hồi hướng công đức đến hương linh đạo hữu TS Lê Văn Tâm, pd. Nguyên Thái, bút hiệu Lê Triều Phương, nguyên giáo sư Đại học Göttingen (CHLB Đức), mãn phần ngày 12/06/2008 tại Gò Vấp, Việt Nam, hưởng thọ 70 tuổi.
 




  • Links : Về Ngài Tịch Thiên http://www.daouyen.com/Data/Ph_T/T184.htm

http://www.daouyen.com/Data/Ph_T/T185.htm

http://www.quangduc.com/BoTat/index.html

http://www.namsebangdzo.com/category_s/2418.htm

http://www.kagyu-asia.com/t_bodhicaryavatara.html



* * * *

tải về 0.83 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương