Bodhicaryàvatàra



tải về 0.83 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu10.12.2017
Kích0.83 Mb.
#4452
  1   2   3   4   5

Sàntideva


(Tôn giả Tịch Thiên) 
Bodhicaryàvatàra

NHẬP HẠNH BỒ TÁT

 


 Việt dịch:  Nguyên Hiển



Hiệu đính: Lê Triều Phương
TUỆ QUANG FOUNDATION

-Ấn bàn điện tử, Xuân 2009-

***




MỤC LỤC

Lời nói đầu

Lời thưa về việc hiệu đính (1,2)

Tiểu sử Tôn giả Sàntideva

Chương 1: Lợi ích của Tâm Bồ đề

Chương 2: Sám hối tội nghiệp

Chương 3: Phát Tâm Bồ đề

Chương 4: Thực hành Tâm Bồ đề

Chương 5: Chánh niệm, tỉnh giác

Chương 6: Nhẫn nhục

Chương 7: Tinh tấn

Chương 8: Thiền quán

Chương 9: Trí tuệ

Chương 10: Hồi hướng

**



LỜI NÓI ĐẦU

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.

Dịch giả đã tham cứu các bản dịch dưới đây:

- Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao

- bản Pháp dịch của Georges Driessens

- bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton

- bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .

Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. Vì dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, vì vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng quý Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn. 

Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đã giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ não, viên thành Phật đạo. 

California, Mùa Phật Đản 2459-2005

Nguyên Hiển

 

***





Lời thưa về việc hiệu đính (1)
Tập Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva, do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể kệ, đã đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm. Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng ý để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm Phật và thỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn.
Một ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm vì muốn „tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở bệnh viện trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải trò chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo hữu Nguyên Định đã đem theo để tặng và khuyên chúng tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua và thấy nội dung vô cùng ý nghĩa.
Một buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như dòng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ như
„Bi thế giới lôi chấn,

Từ ý diệu đại vân,

Chú cam lồ pháp vũ

Diệt trừ phiền não diệm“



(Lòng từ bi như sấm,

Ý tứ diệu dường mây,

Xối mưa pháp cam lồ,

Dứt trừ lửa phiền não)

(Bản dịch của HT Trí Tịnh)
hoặc

„Diệu âm, Quán thế âm,

Phạm âm, hải triều âm,

Thắng bỉ thế gian âm,



Thị cố tu thường niệm“.

(Diệu âm, Quán thế âm,

Phạm âm, hải triều âm,

Tiếng hơn thế gian kia,

Cho nên thường phải niệm)

(Bản dịch của HT Trí Tịnh)
Lòng chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước muốn mình có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn, dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn.
Chúng tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ. Kim đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: Tại sao mình đã mất cảm giác đau nhức và mệt mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có gì linh thiêng và huyền nhiệm tỏa ra từ những dòng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại thì giờ. Đồng hồ cho biết đã hơn 2 giờ khuya.
Hôm sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đã đến thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh tình. Chúng tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đã trải qua trong đêm. Đạo hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn. Nhiều Phật tử đã cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng toát ra từ tập Luận. Cuối cùng đạo hữu đã khuyên chúng tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công trình việt dịch của cư sĩ Nguyên Hiển vì điều này vừa giúp cho bản thân chúng tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch dễ tụng hơn. Chúng tôi đã hứa sẽ theo đuổi việc „đánh bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đã thúc đẩy việc làm của chúng tôi là đạo hữu Nguyên Hiển đã cho phép chúng tôi hiệu đính lại bản dịch của anh.
Những ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981, ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh“, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu (Pháp) dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch rất công phu với những chú giải rõ ràng mà chúng tôi đọc được, đã soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và ý nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát. Nơi đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải.
Hôm nay, sau gần một năm rưởi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn còn nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát.
Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và bằng hữu đã khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính, hỗ trợ tìm tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.
Göttingen, Germany, ngày 14.01.2007

Lê Triều Phương



Lời thưa (2)

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,

Năm 2005 nhờ đọc Luận và hiệu đính Nhập Hạnh Bồ Tát của Tôn Giả Tịch Thiên (Santideva) mà chúng tôi thoát qua cơn đau khổ của bệnh ung thư vào thời kì chót. Sau một năm rưỡi hiệu đính bản dịch của Nguyên Hiển, tập Nhập Hạnh Bồ Tát được ấn hành vào đầu năm 2007.

Cuối năm 2007 tôi lại lâm vào tình trạng nguy kịch. Nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, chúng tôi được nghe quí Thầy, người thân và bạn bè đã tụng kinh cầu an. Cơn đau đã được lời kinh làm êm dịu và tâm hồn chúng tôi được thanh thản an lành. Nhưng vì lý do nào đã khiến chúng tôi tóm lược Luận Nhập Hạnh Bồ Tát?

Lý do thứ nhất, bên cạnh sự cầu an, có lẽ Kinh Nhập Hạnh Bồ Tát đã tác động vào tôi như dòng nước Cam lồ tắm mát thân tôi. Sau mỗi lần cầu an như vậy, thân quyến và bạn bè chúng tôi đều nhận định và nhất trí rằng kinh Nhập Hạnh Bồ Tát đã vực tôi dậy sau hai lần đứng trên bờ sinh tử. Nhân đây chúng tôi xin trân trọng cám ơn chư Tăng tại ba Chùa sau đây:

Một là Thượng Tọa trụ trì Thích Đồng Đạo và Tăng sĩ Chùa An Linh, Q. 12, TP Hồ Chí Minh. Qúi vị đã cầu an nhiều đợt, mỗi đợt nhiều ngày và có khi 9 đêm liền. Ngoài các kinh khác, cả Luận Nhập Hạnh Bồ Tát cũng được đọc tụng.

Hai là Sư Ông Thích Viên Mãn và đệ tử Đại Đức Thích Chúc Minh tại Chùa Hòn Đỏ, Nha Trang và Thượng Tọa Thích Phước An, Nha Trang.

Ba là Đại Đức Thích Như Hoằng trụ trì Chùa Sắc Tứ Thiên Tứ tại Hòn Đất, Ninh Hòa, Nha Trang. Ngoài việc cầu chư Phật và Bồ Tát, Đại Đức còn cầu Bồ Tát Thích Quảng Đức cứu độ chúng tôi. Hòn Đất là nơi ẩn tu của ba vị Thiền Sư đắc đạo.

Lý do thứ hai, 3 khối u lớn dưới da bụng chúng tôi lần lượt tự hủy, dịch theo vết mổ gan cũ thoát ra ngoài. Chúng tôi không còn uống thuốc chống đau với liều lượng ngày càng lớn nữa. Chúng tôi vẫn an nhiên chấp nhận không chóng thì chày, 1 trong 5 khối u còn lại có thể kết liễu đời chúng tôi, mặc dù chúng đã teo nhỏ lại hơn xưa.

Mười chương trong Nhập Hạnh Bồ Tát đã toả rộng niềm bình an trong những đêm cầu an của bằng hữu. Chúng tôi thầm mong ước rằng nếu tập Nhập Hạnh Bồ Tát gói trọn được trong 3 giờ tụng niệm, mỗi lần trong vòng 1 giờ, thì lòng chúng tôi sẽ vô cùng hoan hỷ, an lạc khi nghe được lời kinh vang vọng và tâm tư thấm nhuần thêm một số lời dạy trong kinh. Và chúng tôi đã dốc tâm làm việc đó. Đây không phải là việc chỉnh sửa mà chỉ là tóm gọn để tiện dụng.

Lý do thứ ba, trong thế giới hiện đại, thời gian sẽ vô cùng quí báu cho nên chúng tôi xin hồi hướng tập Nhập Hạnh Bồ Tát này đến các bạn tuổi trẻ để các bạn tiết kiệm thời gian đi sâu vào thế giới tâm linh an lành của chúng ta.

Thạnh Lộc, 30-02-2008

Lê Triều Phương

(TS Lê văn Tâm)+

+qua đời ngày 12/06/2008.


***


TIỂU SỬ

TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA) 

 Thích Trí Siêu (Pháp)

  Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đã cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đã tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đã nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

 Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.

Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát.

Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách gièm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đòi xem.

Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.

Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu gì cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ý kiến: Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được.

Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. Vì muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…... thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

 * * *


 CHƯƠNG I 
LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ 


Đối tượng và mục đích

   
1. Con trân trọng cúi đầu

Đảnh lễ các đức Phật (1)

Cùng các vị Thừa Kế (2)


Và những bậc đáng kính;
Con nương lời Phật dạy

Xin nêu lên ngắn gọn  


Lối vào hạnh Bồ Tát  
   
2. Luận này nghĩa chẳng mới  
Vần điệu cũng không hay  
Chẳng dám vì lợi tha  
Viết ra chỉ nhắc nhở

Và thấm nhuần tâm mình.  


   
3. Nhờ sự nhắc nhở này  
Mà tín tâm tăng trưởng  
Ai cùng một tin tưởng  
Cũng được lợi ích nhiều.

Lợi ích của tâm bồ đề

   
4. Hạnh phúc thay gặp duyên

Sinh ra thân con người

Nay không nhân cơ hội

Để tu hành giải thoát  
Sau này tìm đâu ra.  
   
5. Như đêm mây dày dặc  
Được lằn chớp chiếu soi 
Nhờ thần lực chư Phật
Tâm lành thoảng khởi lên.  
 
6. Đức hạnh rất yếu mềm

Trước sức mạnh điều ác   


Chỉ có tâm Bồ đề  
Mới cưỡng lại, đứng vững.  
   
7. Trải bao kiếp tư duy  
Phật thấy tâm Bồ đề
Có công đức vô lượng  
Cứu vô số chúng sinh

Thoát ra ngoài biển khổ.  


   
8. Muốn thoát khổ của đời  
Trừ tai ương muôn loài  
Muốn hưởng chân hạnh phúc  
Chớ rời tâm Bồ đề  
   
9. Người người trong sanh tử  
Phát khởi tâm Bồ đề  
Được gọi là con Phật  
Xứng đáng được tôn kính  
   
10. Nước phép tâm Bồ đề  
Gội sạch thân ô trược  
Thành thân Phật vô giá  
Hãy giữ Bồ đề tâm 
   

11. Đấng Đạo sư thấy rõ  


Tâm Bồ đề qúi báu  
Muốn vượt thoát ba cõi   
Phải giữ vững tâm này.
   
12. Làm lành như cây chuối  

Quả hết rồi héo khô  


Tâm Bồ đề to lớn

Như đại thụ xum xuê  


Luôn sinh quả tươi tốt.
13. Người đời phạm tội nặng  
 Nhờ thế lực che chở  
 Biết sự nghiệp đã tạo  
 Sao chẳng tìm chỗ nương?  
   
14. Đức Di Lặc đã giảng

cho Thiện tài biết rằng

Tâm Bồ đề kỳ diệu

Như lửa thời hoại kiếp

Đốt tan bao tội nặng

Chỉ trong một sát na. 



Hai loại tâm Bồ đề
        
15. Tâm Bồ đề bao gồm
Hai nguyện để tu tập:  
Trước là nguyện phát tâm  
Sau thực hiện tâm ấy.   
   
16. Ai cũng đều biết rằng
“Muốn đi“ khác với “đi“  
Người trí nên biết rõ 
Sự khác biệt như vậy. 
   
17. Nguyện phát tâm Bồ đề  
Tuy sinh kết quả lớn  
Song không thể sánh bằng
Nguyện thực hiện tâm này.

Ca ngợi tâm Bồ đề 
   
18-19. Những ai đã quyết tâm

Cứu độ mọi chúng sinh

Phải luôn luôn tinh tấn

Thực hiện tâm Bồ đề;

Từ lúc ấy trở đi  
Ngay cả khi ngủ nghỉ  
Phước đức vẫn liên tục  
Tăng lớn như hư không  
   
20. Để người tin Tiểu thừa

Không ngừng bước tiến lên   


Trong Kinh Vấn Diệu Lý  
Đấng Như Lai đã dạy 
Công đức tâm Bồ đề

Thật rộng lớn vô biên.  


   
21-22. Chỉ nghĩ cách chữa lành 
Đầu mọi người khỏi nhức
Là phát tâm chân thành  
Đem lại bao phước đức. 
   
Phước đức càng thâm sâu

Khi cứu giúp chúng sinh

Thoát ưu phiền thống khổ

Đạt được cõi an lành. 


   
23. Có cha nào, mẹ nào  
Đã phát tâm như vậy?  
Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên  
Đã có chưa tâm ấy?  
   

24. Xưa nay dù trong mơ

Chưa ai nguyện như thế

Dù vì lợi cho mình

Nói chi đến phát nguyện

Cứu độ cho người khác.

 

25. Làm sao có thể tìm



Được một vị Bồ Tát

Như viên ngọc hi hữu

Giữa chúng sinh ích kỷ

Chẳng biết làm điều lành

Vì lợi ích chúng sinh!
26. Tâm Bồ đề trân quý  
Là mầm mống an vui  
Là linh dược diệt khổ  
Tạo phước đức vô lường. 
   
27. Ý nghĩ làm lợi người  
Đã hơn phước cúng Phật  
Huống chi luôn nỗ lực  
Làm lợi lạc muôn loài. 
   
28. Có biết bao chúng sinh

Tuy cầu mong an vui

Song hủy diệt nguồn cội

Sản sinh ra hạnh phúc

Như tận diệt kẻ thù.   
   
29. Chúng sinh thiếu niềm vui  
Lại chịu nhiều đau khổ  
Tâm nguyện Bồ đề này  
Đem vui và diệt khổ. 
   
30. Tâm Bồ đề có thể  
Trừ diệt sự ngu si  
Có bạn lành nào sánh  
Còn phước nào lớn hơn?  
   
31. Bồ tát luôn bố thí

Dầu không ai cậy nhờ

Với tâm hạnh như vậy

Đáng ca ngợi xiết bao!  


    

32. Kẻ bố thí thức ăn

Giúp chúng sinh đỡ đói

Dù họ no nửa ngày

Đã là người đáng trọng  
 
33. Bồ tát thường ban cho    

Niềm vui của chánh giác  


Làm thỏa mãn tất cả  
Nguyện vọng mọi hữu tình . 
   
34. Đức Phật đã dạy rằng

Bồ tát cứu muôn loài

Nên đáng được tôn quý

Ai phỉ báng Bồ tát

Sẽ sa đại địa ngục   
   

35. Ngược lại, ai tín thành

Cung kính chư Bồ tát

Sẽ hưởng phước đức lớn

Bồ Tát dù gian nan

Việc ác vẫn không làm

Càng hăng làm việc thiện. 
   

36. Tôi kính xin đảnh lễ

Người phát tâm Bồ đề

Đem vui cho chúng sinh

Cho cả kẻ hại mình;

Tôi cúi đầu kính lạy

Và xin được quy y

Nơi chư vị Bồ tát

Cội nguồn chân hạnh phúc.  
 




CHƯƠNG II  

SÁM HỐI TỘI NGHIỆP  
   

Nghi lễ Bồ Tát
Ca ngợi

   
1. Để con nắm giữ được

Tâm nguyện quí giá này  
Con cúng dường chư Phật  
Và Pháp Bảo thiêng liêng

Con cúng dường Bồ tát  


Đầy phẩm tính tốt lành.  

Cúng dường
   
2. Cúng dường hoa quả tươi  
Thức ăn ngon quý nhất

Nước uống thật tinh khiết

Vật quý báu trên đời. 
 
3. Cúng dường núi châu báu

Rừng thanh tịnh ngát hương

Hoa cõi trời diễm tuyệt

Trái quý buông trĩu cành.  


   
4. Cúng dường những hương thơm

Ngào ngạt cõi trời đất

Cúng dường trang sức quý

Cúng dường cây như ý

Thành tựu mọi ước mơ

Cúng dường mọi ngũ cốc

Tự sinh không người trồng.   
 
5. Cúng dường ao sen đẹp

Thiên nga hót êm dịu

Và mọi vật vô chủ

Đầy dẫy khắp bầu trời.   


   
6. Con giữ chúng trong tâm

Dâng lên đấng Thế Tôn

Và chư vị Bồ tát  
Thỉnh cầu đức Thế Tôn  
Từ bi nghĩ đến con

Mà nhận vật cúng dường.  


   
7. Con vô phước bần cùng  
Không một chút tài sản  
Kính xin đức Phật thương  
Nhận lễ vật tâm con. 
   
8.  Con nguyện đem thân tâm  
Để làm kẻ nô bộc 

Phụng sự Phật, Bồ tát  


Mong quí ngài xót thương

Thâu nhận lễ vật này.  


   
9.  Được các ngài thâu nhận

Thân tâm con siêu thoát  


Con nguyện sống lợi tha  
Diệt trừ các ác nghiệp.  
    
10-11. Đây nhà tắm tráng lệ

Nền thủy tinh long lanh

Cột trụ khảm trân châu

Lọng dù bằng ngà ngọc  

Trần thiết lộc bình quý  
Đầy nước thơm thích ý  

Ngân vang muôn diệu âm  


Thỉnh Phật, Bồ tát tắm  
   
12. Đây khăn tắm sạch thơm
Lau khô thân các ngài  
Đây y phục cõi trời

Với màu sắc mỹ lệ

Lan tỏa hương dịu thơm. 
   
13. Đây y phục mềm mại  
Và trăm trang sức quý  
Dâng lên Đức Phổ Hiền, 
Văn Thù, Quán Thế Âm. 
   
14. Hương liệu thơm vũ trụ  
Xin thoa ngọc thể Ngài  
Tỏa hào quang thanh tịnh  
Óng ánh sắc vàng ròng.  
   
15. Xin cúng dường chư Phật

Các tràng hoa đẹp đẽ

Kết từ hoa tươi thơm

Như hoa sen, hoa lài

Hay hoa mạn đà la. 
   
16. Con xin dâng chư Phật

Vầng mây hương ngây ngất

Dâng thực phẩm cõi trời

Thức ăn uống đẹp ngon. 


   
17. Con dâng đèn hoa ngọc 
Chân chạm đá sen vàng  
Nền nhà dịu mát hương  
Rải đầy hoa đẹp ý. 
   
18. Xin cúng dường chư Phật

Những lâu đài tráng lệ

Rèm buông ngọc lung linh

Du dương ngân tiếng hát. 


   
19. Xin dâng hiến chư Phật  
Lọng che bằng châu ngọc 
Cán đúc toàn vàng ròng  
Viền thêu hoa mỹ lệ. 
   
20. Cúng phẩm nhiều như mây  
Nhạc du dương hoà tấu
Khổ đau được dịu xoa
Mong sao chúng mãi còn.  
   
21. Mưa hoa, mưa ngọc ngà

Mong luôn luôn buông rơi  


Trên thân Phật, tháp Phật

Trên giáo pháp diệu kỳ. 


   
22. Như Ngài Diệu Cát Tường (10)
Xưa kia cúng dường Phật  
Nay con xin cúng dường  
Phật, Bồ tát như vậy.  
   
23. Dùng âm vang hải triều  
Tán dương công đức Phật  
Nguyện tiếng tán dương này  
Luôn vang đến các Ngài. 
   
24. Nguyện hoá thân như bụi  
Lễ lạy Phật ba đời  
Lễ lạy Pháp và Tăng  
Cùng khắp cả pháp giới. 
    
25. Con lễ lạy tháp Phật  
Các nơi Bồ tát ở (3)
Lễ bậc trì giới nhất  
Kính lễ hàng thánh tăng.

Quy y 
   
26. Từ nay cho đến khi
Đạt Vô thượng Bồ đề  
Con nguyện quy y Phật,  
Pháp và chư Bồ Tát.

Sám hối 
   
27. Trước chư Phật, Bồ Tát

Ở cùng khắp mười phương


Con xin chấp hai tay  
Thành khẩn nguyện như vầy:   
   
28-29. Từ vô thỉ đến nay  
Trôi lăn trong sinh tử

Với tội ác không lường

Do tự mình gây ra

Hay xúi giục người làm

Vì vô minh che lấp

Nay con biết lỗi lầm

Thành tâm xin sám hối. 
   
30-31. Lỗi lầm con đã phạm

Qua nghiệp thân, khẩu, ý

Đã gây bao tổn hại

Cho Tam bảo (4), mẹ cha

Cũng như cho Thầy Tổ

Và cho bao kẻ khác

Nay trước đức Thế Tôn

Con thành tâm sám hối

Mọi tội lỗi gây ra.    
   
32. Nếu sám hối chưa trọn  
Con lỡ chết thì sao?   
Vậy xin Ngài mau cứu  
Trước khi thần chết đến.  
   
33. Thần chết thật lừa lọc

Nó không biết đợi chờ  


Tội rửa sạch hay chưa  
Dù đang bệnh hay khỏe

Con không thể nào tin

Vào mạng sống mong manh

Lập loè như lửa đóm. 


   
34. Con đã không ý thức

Chết là bỏ tất cả

Nên con đã quanh quẩn

Với bè bạn, kẻ thù

Vì vậy tự gây ra

Biết bao điều xấu ác.

   
35. Đời người như mộng ảo

Điều gì đã trải nghiệm

Cũng chỉ là ký ức

Tất cả đều trôi qua

Không bao giờ trở lại. 
   
36. Kẻ thù thành hư vô  
Người thân như mây khói
Thân tôi rồi phải chết  
Tất cả trở về không. 
   
37. Trong đời ngắn ngủi này

Kẻ thân, thù đã chết

Duy nghiệp ác đã gây

Còn ở lại với tôi. 


    
38. Tôi đã không ý thức

Rồi cũng chết như họ

Nên cứ tham sân si

Tạo ra bao lầm lỗi. 


   
39. Mạng sống giảm từng ngày  
Chẳng bao giờ ngừng nghỉ  
Không thể nào kéo dài  
Làm sao thoát khỏi chết? 
   
40. Đến lúc sắp lâm chung

Dù thân thuộc vây quanh

Thống khổ lúc hấp hối

Tôi gánh chịu riêng mình.  


   
41. Khi Diêm Vương đến bắt  
Thân thuộc có ích gì?  
Chỉ phước đức mới cứu  
Tôi lại chưa tu tập!  
   
42. Do buông lung không biết

Hậu quả xấu mai sau

Bám víu đời phù phiếm

Tôi tạo bao nghiệp xấu.   


43. Như kẻ ra pháp trường  
Kinh hãi, miệng khô đắng  
Mắt trợn trắng, thất thần  
Hình sắc cũng đổi khác. 
   
44. Huống chi khi thấy bóng

Ma vương đến bắt ta

Kinh hoàng sao kể xiết

Khổ đau dâng tột cùng.  


   
45. Ai cứu tôi ra khỏi  
Cơn sợ hãi lớn này  
Tôi tròn xoay đôi mắt   
Nhìn bốn phương van cầu. 
   
46. Bốn phương không thấy ai
Sợ hãi lại càng tăng

Không nơi nào che chở

Tôi phải làm sao đây?  
   
47. Con xin quy y Phật

Ngài là đấng Từ Bi

Bảo vệ, đem lợi ích 
Cho tất cả muôn loài  
Có năng lực giải cứu

Tiêu trừ bao sợ hãi.  


   
48. Con xin quy y Pháp   
Mà chư Phật chứng ngộ

Có thể đưa muôn loài

Sang đến bờ giải thoát

con xin quy y

Nơi chư vị Bồ Tát.

   
49. Trong cơn sợ bấn loạn

Con xin dâng thân mạng

Lên Bồ tát Phổ Hiền

Và Bồ tát Văn Thù.

 
50. Với tiếng kêu khẩn thiết

Con cầu Đức Quan Âm

Mở đại từ bi tâm

Cứu con, kẻ mê lầm. 

51. Con cầu cứu các Ngài  


Hư Không Tạng Bồ Tát  
Địa Tạng Vương Bồ Tát  
Chư Bồ Tát đại bi.  
   
52. Con cũng xin nương tựa  
Kim Cương Trí Bồ Tát  
Ngài mà các sứ giả  
Của Diêm vương khiếp vía . 
   
53. Xưa trái lời Phật dạy

Nay gặp nạn hãi hùng

Con xin quy y Phật

Mau cứu độ cho con.  


 
54-56. Với bệnh nhẹ tầm thường

Đã tuân lời thầy thuốc

Huống chi trăm thứ bệnh

Sinh từ tham sân si! 


   

Một trong trăm bệnh này

Đã đủ làm tiêu hủy

Mọi loài Nam Diêm phù

Nay chạy khắp mọi nơi

Tìm không ra thuốc chữa.  


   
Phật là đại y vương

Dạy giáo lý thoát bệnh

Những ai không làm theo

Thực ngu si đáng trách.  


   
57. Bên hố sâu vài trượng

Tôi đi phải đề phòng

Cạnh địa ngục sâu thẳm

Sao đời đời nhởn nhơ?  


   
58. Bởi nghĩ rằng chưa chết

Sống nhởn nhơ phóng dật

Quả thật là dại khờ

Nhưng rồi sớm hay muộn

Cái chết phải đến thôi. 
     
59. Tôi không thể có được

Cái cảm giác dễ chịu

Rằng trong ngày hôm nay

Thần chết sẽ không đến

Chắc chắn nó xuất hiện

Làm sao yên hưởng nhàn?


59. Ai giúp bớt lo sợ

Ai chỉ tôi lối thoát  


Làm sao thoát hãi kinh

Của sự chết phải đến  


Sao có thể nhởn nhơ? 
   
60. Khoái lạc đã trải qua  
Chỉ còn là hoài niệm  
Bám víu mà làm chi  
Để trái lời Phật dạy? 
   
61. Chết là lìa bỏ hết  
Người thân và bạn bè 
Đi vào cõi vô định  
Bạn hay thù ích chi?  
   
62. Tôi nên hằng ngày đêm

Tỉnh thức với tư duy

Rằng gieo ác, gặt ác

Làm sao tránh khỏi đây

Sự gieo xấu ác này  
   
63-64. Vì ngu đần, vô minh

Phạm giới do Phật chế

Gây biết bao tội lỗi

Lòng run sợ ác báo. 


Nay trước đấng Giác ngộ

Con chấp tay đãnh lễ

Chư Phật và Bồ tát

Xin thành tâm sám hối.  


   
65. Mong quí Ngài tha thứ

Hành động ác từ xưa

Và con xin thệ nguyện 
Vĩnh viễn không tái phạm.




tải về 0.83 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương