Báo cáo khoa họC 2014 bscki trần thị HẢi vâN


BÀN LUẬN 4.1. Nhân chủng học



tải về 382.02 Kb.
trang9/11
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích382.02 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

4. BÀN LUẬN

4.1. Nhân chủng học:

4.1.1. Đặc điểm về tuổi của các đối tượng


Bàn luận

Trong nghiên cứu của chúng tôi ở cả 2 nhóm can thiệp và nhóm chứng bệnh nhân có độ tuổi trung bình lần lượt là (44,9 – 42.5), đây là độ tuổi phát triển chín mùi và là độ tuổi cống hiến nhiều cho xã hội và lo toan cho gia đình, tuổi lao động mang nhiều hiệu quả nhất, tuổi mắc của các bệnh nhân thấp nhất là 31tuổi ở nhóm can thiêp và cao nhất là 56 tuổi ở nhóm chứng

4.1.2. Phân bố đối tượng theo hôn nhân

Bàn luận

Theo Romansky (1992), và hầu hết các nghiên cứu về dịch tể học đã cho thấy tỉ lệ trầm cảm cao ở người chưa bao giờ có gia đình hay những người đã ly thân hoặc ly dị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng tỉ lệ người mắc trầm cảm ở cả hai nhóm trong tình trạng kết hôn chiếm tỉ lệ rất cao ở cả hai nhóm can thiệp và nhóm chứng, trong đó ở nhóm can thiệp tỉ lệ 80 % và ở nhóm chứng còn cao hơn 81 %, Điều này phù hợp trong nghiên cứu của chúng tôi vì nhóm phụ nữ có hoàn cảnh gia đình nghèo có thể con do gánh nặng con cái gia đình.

4.2. CÁC BIỂU HIỆN TÂM THẦN TRƯỚC KHI ĐIỀU TRỊ

4.2.1. Điểm PHQ-9 trung bình lần thứ nhất của hai nhóm

Bàn luận

Theo kết quả trên chúng tôi thấy: Điểm PHQ-9 trung bình lần thứ nhất của nhóm can và nhóm chứng không có sự khác biệt đáng kể (16, 25- 16,43). Chỉ số này không có ý nghĩa thống kê với P= 0.2.

Ở kết quả này, thang điểm PHQ-9 ở mức độ trung bình, vì điều này phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi trong quá trình sang lọc chon lựa đối tượng đưa vào can thiệp và nghiên cứu. Mặc dầu điểm trung bình của nhóm can thiệp thấp hơn nhóm chứng nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Điều đó cớ nghĩa là 2 nhóm nghiên cứu của chúng tôi có xuất phát điểm của trầm cảm gần bằng nhau tại thời điểm trước khi nghiên cứu.

4.2.2 Các triệu chứng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu (Theo nhóm triệu chứng của PHQ 9)



Bàn luận

Theo nghiên cứu của Trần Hữu Bình cho ta thấy các triệu chứng trầm cảm thường gặp đó là có vấn đề về giấc ngủ, mất hứng thú kém tập trung, tự cho mình hèn kém không giá trịqua đó ta thấy các triệu chứng hay gặp trên cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, trong đó có vấn đề về giấc ngủ trong nghiên cứu của chúng tôi thì bênh nhân chủ yếu là triệu chứng mất ngủ ở cả 2 nhóm nghiên cứu và điều trị, không có bệnh nhân nào ngủ nhiều, Số điểm trung bình của triệu chứng này là cao nhất.( 2,35/3 và 2,4/3)

Ở triệu chứng tập trung kém thì phần lớn bệnh nhân cho rằng họ gặp khó khăn trong tập trung công việc làm ở cơ quan hoặc công việc nhà kể cả khi xem tivi hay đọc sách báo, tỉ lệ 93,33% ở nhóm nghiên cứu và 100% ở nhóm chứng, tỉ lệ này cũng phù hợp với nghiên cứu của Trần Hữu Bình.

4.2.3.Điểm thang Đánh Giá Chất Lượng Sống (Quality of life/Q-LES-Q-S) lần thứ nhất của hai nhóm


Bàn luận

Như vậy đa số các bệnh nhân trong nghiên cứu đều ở mức độ chất lượng sống thấp so với mức tối đa là 75 điểm. tuy nhiên điều này không có ý nghĩa thống kê trong hai nhóm Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các nghiên cứu khác cũng như quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới. Tuy hai nhóm có sự khác biệt về mức độ điểm chất lượng sống trung bình, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê P> 0,05.

4.2.4 .Điểm thang Đánh Giá Hiệu Quả Bản Thân (Self-Efficacy Adapted from AACTG) lần thứ nhất của hai nhóm


Bàn luận

Như vậy đa số các bệnh nhân trong nghiên cứu đều ở mức độ Đánh Giá Hiệu Quả Bản Thântrung bình,. Điều này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các nghiên cứu khác cũng như quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới.

Đối với những người bị trầm cảm thì mất tự tin vào bản thân mình giảm sút rất nhiều, đây cũng là một triệu chứng của bệnh lý này, vì vậy thang điểm này cũng là phù hợp với nhóm nghiên cứu của chúng tôi.

Tuy hai nhóm có sự khác biệt về mức độ điểm Đánh Giá Hiệu Quả Bản Thântrung bình, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê P> 0,05.


4.2.5 .Điểm thang Đánh Giá sự kỳ thị lần thứ nhất của hai nhóm


Bàn luận

Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm Đánh Giá sự kỳ thịtrung bình là 25,65 của nhóm can thiệp và 27,19 của nhóm chứng. Như vậy thấp hơn nhiều so với điểm chuẩn của thang (40) . Điều này thể hiện các bệnh nhân của chúng tôi có các hành vi trốn tránh và nghiền ngẫm rất cao. Khi xét sự khác biệt giữa hai nhóm chúng tôi thấy nhóm chứng có điểm Đánh Giá sự kỳ thị cao hơn, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

4.3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

4.3.1.Đánh giá dựa vào Điểm PHQ-9 trung bình lần thứ hai của hai nhóm sau ba tháng điều trị


Bàn luận

Khi so sánh sự thay đổi điểm PHQ-9 giữa lần đầu tiên và sau 3 tháng điều trị. Chúng ta nhận thấy giá trị thay đổi trung bình của nhóm can thiệp là 11,45 lớn hơn nhóm chứng là 0,40 điểm ( hầu như không thay đổi gì) , điều này cho chúng ta thấy hiệu quả điều trị trầm cảm của nhóm can thiệp khi sử dụng kết hợp giữa liệu pháp kích hoạt hành vi theo nhóm và kết hợp hướng dẫn hỗ trợ sinh kế , trong khi đó nhóm chứng thay đổi có giá trị thấp hơn, bởi vì sau thời gian được can thiệp tâm lý bằng liệu pháp kích hoạt hành vi nhóm kết hợp với hỗ trợ sinh kế, nhưng bệnh nhân cũng đã nắm được bệnh tật của mình, biết được tại sao bệnh nhân buồn bã, không hứng thú làm việc mà chỉ thích nằm hoặc ngồi một chổ, biết được ở không sẽ sinh bệnh tật, không được hưởng những điều vui vẻ, bệnh nhân biết được trầm cảm có tác động như thế nào đối với các hoạt động, mối quan hệ giữa hoạt động và tâm trạng của bệnh nhân,bệnh nhân còn biết cách vượt qua trầm cảm với những hoạt động phù hợp với bản thân hay tham gia những hoạt động mà trước đây bệnh nhân yêu thích, bao gồm cả hoạt động trí óc và hoạt động thể dục, thể thao.

Theo nghiên cứu dịch tể học về trầm cảm và các hoạt động thể lực (các bài tâp thể dục, các môn thể thao), chúng có tác động qua lại với nhau, những người gia tăng các hoạt động thể lực thì nguy cơ mắc trầm cảm thấp hơn những người chỉ hoạt động bình thường, những người có hoạt động thể lực trong quá khứ nhưng bây giờ không còn hoạt động nữa thì nguy cơ mắc trầm cảm tăng 1,5 lần so với người vẫn duy trì luyện tập.

Do đó sau mổi buổi tham gia những hoạt động mà mình yêu thích bệnh nhân thấy mình có những suy nghĩ tích cực hơn, tâm trạng thỏai mái hơn, như vậy các biểu hiện về trầm cảm tự khắc sẽ giảm đi hơn nhiều so với bệnh nhân ở nhóm chứng những bệnh nhân không được tham gia vào các hoạt đông trên và tất cả bệnh nhân nhóm này cũng không tham gia sử dụng thuốc vì họ không hề nhận thức được bệnh tật của mình.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương