Báo cáo khoa họC 2014 bscki trần thị HẢi vâN


Một số liệu pháp tâm lý khác



tải về 382.02 Kb.
trang5/11
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích382.02 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

1.3.2. Một số liệu pháp tâm lý khác

1.3.2.1. Liệu pháp tâm lý nâng đỡ


Khi nói chuyện với bênh nhân thầy thuốc phải biểu hiện sự nhiệt tình, đồng cảm và hiểu biết. Giúp bệnh nhân xác định và diễn tả các quan tâm và bàn luận với bênh nhân về các vấn đề này, giúp bệnh nhân xác định các yếu tố làm năng thêm và tìm cách chấn chỉnh nó.

1.3.2.2. Liệu pháp giải thích hợp lý hay liệu pháp thuyết phục


Chỉ giải thích khi đã nắm vững về các rối loạn, đặc điểm tính cách, hoàn cảnh xuất hiện các rối loạn của người bệnh. Vì trong trị liệu này, nhà trị liệu áp đặt những suy luận của mình lên sự hiểu biết của người bệnh, do vậy nếu suy luận đó sai lệch thì ảnh hưởng rất xấu lên tư duy không logic của người bệnh.

Trong khi giải thích nhà trị liệu phải luôn bộc lộ sự tự tin trong ngôn từ, cử chỉ, hành vi thể hiện trong ngông ngữ phải nói rõ ràng với ngữ điệu có sức truyền cảm và thu hút chú ý của người bệnh. Khi giải thích phương thức điều trị và kết quả điều trị không được dùng câu nghi vấn hoặc phủ định mà phải dùng câu khẳng định.

Muốn có những tác động tâm lý tích cực trên người bệnh, nhà trị liệu cần có những đức tính của một nhà trị liệu tâm lý:

+ Là người có tri thức và hiểu biết khoa học.

+ Là người có đạo đức và phong cách giao tiếp thị phạm, có sức thu hút và truyền cảm, không nói lắp, nói ngọng.

+ Biết tôn trọng và chia sẻ những nổi đau của người bệnh, và đặc biệt biết giữ kín những bí mật của người bệnh.

+ Đoàn kết và tôn trọng đồng nghiệp.

1.3.2.3. Liệu pháp gia đình


Gia đình được xem là một nhóm xã hội, văn hóa thu nhỏ với một chuẩn mực đặc biệt, mà trong đó các thành viên có mối quan hệ tương tác với nhau. Những chuẩn mực của gia đình đã hình thành trạng thái cân bằng bên trong gia đình, liệu pháp gia đình dựa trên giả thuyết rằng bệnh lý tâm thần ở một thành viên trong gia đình là kết quả trước hết của sự rối loạn mối tương quan cảm xúc trong gia đình. Vì vậy liệu pháp gia đình nhằm cải thiện mối quan hệ cảm xúc bị rối loạn và củng cố sức khỏe tâm thần của từng thành viên riêng biệt và của cả gia đình như một chỉnh thể. Nghĩa là liệu pháp gia đình hướng tới sự thay đổi mối quan hệ giữa các nhân cách trong gia đình để loại trừ các rối loạn tâm thần, cũng như để đạt tới sự thích nghi xã hội tốt hơn.

1.3.3. Hóa liệu pháp

1.3.3.1. Đặc điểm chung


Cần phải nhìn nhận rối loạn cảm xúc là bệnh mãn tính cần phải được điều trị một thời gian dài. Mục tiêu của điều trị trầm cảm là làm thuyên giảm bệnh, được định nghĩa như là sự lắng xuống của triệu chứng trầm cảm [68], vì trầm cảm là rối lọan tâm thần hay tái phát, các nhà lâm sàng thừa nhận rằng tái phát là khi ta điều trị thành công bệnh trầm cảm bằng thuốc và ta không tiếp tục điều trị nữa.

Tất cả các tác giả đều cho rằng điều trị rối loạn trầm cảm cần phải kết hợp cả hai liệu pháp sinh học và tâm lý.

Đa số các rối loạn trầm cảm được điều trị khỏi, khoảng 55% trầm cảm nặng đáp ứng với thuốc trong lần điều trị đầu tiên. Tuy nhiên vẫn còn 25% trường hợp không đáp ứng điều trị. Nhiều tác giả cho rằng có 25% trường hợp rối loạn trầm cảm không được chẩn đoán và không đáp ứng điều trị.

Đáp ứng điều trị rối loạn trầm cảm phụ thuộc vào:

+ Xác định và được điều trị sớm.

+ Sự hợp tác của bệnh nhân.

+ Độ dài thời gian giữa các cơn.

+ Tuổi của bệnh nhân.

+ Lựa chọn và sử dụng liều lượng thuốc chống trầm cảm. Theo hướng dẫn của NICE (the Nationnal Institute for Clinical Excellence), Thuốc chống trầm cảm không nên sử dụng trong lần đầu tiên ở những rối loạn trầm cảm nhẹ, bởi vì tỉ lệ hưởng lợi kém, chỉ được sử dụng ở bệnh nhân trấm cảm mức độ trung bình và nặng nên sử dụng nhóm SSRI.

+ Liệu pháp tâm lý phối hợp.


1.3.3.2. Các thuốc chống trầm cảm


* Thuốc chống trầm cảm 3 vòng

Thuốc chống trầm cảm 3 vòng ức chế monoamine ở tiền sinap thần kinh, tăng nồng độ chất dẫn truyền thần kinh ở khe sinap. Điều trị kéo dài bằng thuốc chống trầm cảm 3 vòng gây giảm số lượng thụ thể ß-noradrenergic và giảm các chất dẫn truyền thần kinh tại thụ cảm thể 5-HT2, kết quả là tăng chất dẫn truyền thần kinh serotoninergic.

Thuốc chống trầm cảm 3 vòng có sự tác động giống nhau trên tất cả các thụ cảm thể serotoninergic, noradrenergic, dopaminergic, muscarinic, histaminergic. Điều này giải thích vì sao thuốc có tác dụng chống trầm cảm và nhiều tác dụng phụ.

* Thuốc chống trầm cảm ức chế men monoaminoxydaza (IMAO)

+ Thuốc chống trầm cảm IMAO cổ điển là thuốc ức chế không đảo ngược và không biệt định với cả 2 loại monoaminoxydaza A và B.

+ Các thuốc chống trầm cảm này có hiệu quả so sánh được với thuốc chống trầm cảm 3 vòng khi điều trị rối loạn trầm cảm và các rối loạn lo âu khác nhau.

+ Thuốc chống trầm cảm IMAO được sử dụng ít hơn.

+ Nguyên nhân chính là do tác dụng phụ, tạo ra cơn cao huyết áp liên quan tới hấp thụ tyramin trong thức ăn.

+ Một số loại thuốc chính: Izocarboxazid, fenelzin, tranylcypromin…



* Thuốc chống trầm cảm 4 vòng

Thuốc này được các tác giả gọi là thuốc chống trầm cảm chung thứ 2.

Tác dụng phụ đặc biệt là tác dụng phụ trên tim, anticholinergic….

Các thuốc chống trầm cảm đa vòng thường dùng: Maprotyline, mianserin.



* Thuốc chống trầm cảm ức chế biệt định thụ thể Serotonin (SSRI)

Là thuốc chống trầm cảm mới tác động biệt định lên một hệ dẫn truyền serotoninergic.

+ Ưu điểm:

. Hiệu quả chống trầm cảm ngang với thuốc chống trầm cảm 3 vòng, không có tác dụng phụ như thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc IMAO.

. An toàn hơn trong trường hợp quá liều và dung nạp tốt hơn.

+ Các thuốc ức chế chọn lọc trên thụ cảm thể serotonin phổ biên nhất là: Fluoxetin, fluvoxamin, paroxetin (deroxat), sertralin ,Cytalopram….





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương