Báo cáo khoa họC 2014 bscki trần thị HẢi vâN


Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10



tải về 382.02 Kb.
trang3/11
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích382.02 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

1.2.1. Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10

1.2.1.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10


* Ba triệu chứng đặc trưng của trầm cảm

+ Giảm khí sắc: bệnh nhân cảm thấy buồn vô cớ, chán nản, ảm đạm, thất vọng, bơ vơ và bất hạnh, cảm thấy không có lối thoát. Đôi khi nét mặt bất động, thờ ơ, vô cảm.

+ Mất mọi quan tâm và thích thú: là triệu chứng hầu như luôn xuất hiện. Bệnh nhân thường phàn nàn về cảm giác ít thích thú, ít vui vẻ trong các hoạt động sở thích cũ hay trầm trọng hơn là sự mất nhiệt tình, không hài lòng với mọi thứ. Thường xa lánh, tách rời xã hội, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh.

+ Giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động



* Bảy triệu chứng phổ biến của trầm cảm

+ Giảm sút sự tập trung và chú ý.

+ Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin.

+ Những ý tưởng bị tội, không xứng đáng.

+ Nhìn vào tương lai thấy ảm đạm, bi quan.

+ Ý tưởng và hành vi tự huỷ hoại hoặc tự sát.

+ Rối loạn giấc ngủ: ngủ nhiều hoặc ngủ ít, thức giấc lúc nửa đêm hoặc dậy sớm.

+ Ăn ít ngon miệng.



* Các triệu chứng cơ thể (sinh học) của trầm cảm

+ Mất quan tâm ham thích những hoạt động thường ngày.

+ Thiếu các phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh mà khi bình thường vẫn có những phản ứng cảm xúc.

+ Thức giấc sớm hơn ít nhất 2 giờ so với bình thường.

+ Trầm cảm nặng lên về buổi sáng.

+ Chậm chạp tâm lý vận động hoặc kích động, có thể sững sờ.

+ Giảm cảm giác ngon miệng.

+ Sút cân (thường ≥ 5% trọng lượng cơ thể so với tháng trước).

+ Giảm hoặc mất hưng phấn tình dục, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ.

* Các triệu chứng loạn thần

Trầm cảm nặng thường có hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ. Hoang tưởng, ảo giác có thể phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị tội, bị thiệt hại, bị trừng phạt, nghi bệnh, nhìn thấy cảnh trừng phạt, ảo thanh kết tội hoặc nói xấu, lăng nhục, chê bai bệnh nhân) hoặc không phù hợp với khí sắc (hoang tưởng bị theo dõi, bị hại).

Ngoài ra, bệnh nhân có thể có lo âu, lạm dụng rượu, ma tuý và có triệu chứng cơ thể như đau đầu, đau bụng, táo bón… sẽ làm phức tạp quá trình điều trị bệnh.

Trong chẩn đoán cần chú ý

+ Thời gian tồn tại ít nhất 2 tuần.

+ Giảm khí sắc không tương ứng với hoàn cảnh.

+ Hay lạm dụng rượu, ám ảnh sợ, lo âu và nghi bệnh.

+ Khó ngủ về buổi sáng và thức giấc sớm.

+ Ăn không ngon miệng, sút cân trên 5%/ 1 tháng


1.2.1.2. Phân theo mức độ các triệu chứng lâm sàng


* Giai đoạn trầm cảm nhẹ

Khí sắc trầm, mất quan tâm, giảm thích thú, mệt mỏi nhiều khó tiếp tục công việc hằng ngày và hoạt động xã hội. Ít nhất phải có 2 trong số những triệu chứng chủ yếu cộng thêm 2 trong số những triệu chứng phổ biến khác ở trên để chẩn đoán xác định. Thời gian tối thiểu phải có khoảng 2 tuần và không có hoặc có những triệu chứng cơ thể nhưng nhẹ.



* Giai đoạn trầm cảm vừa

Có ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chủ yếu đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ, cộng thêm 3 hoặc 4 triệu chứng phổ biến khác.

Thời gian tối thiểu là khoảng 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình; không có hoặc có 2-3 triệu chứng cơ thể ở mức độ trầm trọng vừa phải.

* Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng rối loạn tâm thần

Buồn chán, chậm chạp nặng hoặc kích động; mất tự tin hoặc cảm thấy vô dụng hoặc thấy có tội lổi, nếu trầm trọng có hành vi tự sát.

Triệu chứng cơ thể hầu như có mặt thường xuyên; có 3 triệu chứng điển hình của giai đoạn trầm cảm, cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng phổ biến khác khác.

Thời gian kéo dài ít nhất là 2 tuần, nếu có triệu chứng đặc biệt không cần đến 2 tuần; ít có khả năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình.



* Giai đoạn trầm cảm nặng có triệu chứng rối loạn tâm thần

Thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn rối loạn trầm cảm và có hoang tưởng, ảo giác phù hợp với khí sắc bệnh nhân hoặc sững sờ trầm cảm.

Hoang tưởng gồm tự buộc tội, hèn kém hoặc có những tai họa sắp xãy ra; ảo giác gồm áo thanh, ảo khứu, những lời phỉ báng bệnh nhân, mùi khó chịu và giảm hoặc mất vân động.

* Các giai đoạn trầm cảm khác

Các triệu chứng chính của trầm cảm không rõ ràng, có những triệu chứng cụt và không có giá trị chẩn đoán như căng thẳng, lo lắng, buồn chán và hỗn hợp các triệu chứng đau hoặc mệt nhọc dai dẳng không có nguyên nhân thực tổn còn gọi là trầm cảm ẩn.


1.2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo DSM-IV (1994)

1.2.2.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán


+ Có ít nhất 5 triệu chứng cùng tồn tại trong thời gian tối thiểu là 2 tuần và có thay đổi chức năng so với trước đây trong đó phải có ít nhất 2 triệu chứng là khí sắc trầm cảm và mất quan tâm hứng thú bao gồm:

- Khí sắc trầm cảm biểu hiện cả ngày và kéo dài.

- Giảm hoặc mất quan tâm hứng thú với mọi hoạt động trước đây vốn có.

- Giảm trọng lượng cơ thể trên 5%/1 tháng.

- Mất ngủ vào cuối giấc (ngủ dậy sớm ít nhất là 2 giờ so với bình thường).

- Ức chế tâm thần vận động hoạt kích động trong phạm vị hẹp (kích động trong phạm vi xung quanh giường ngủ của mình).

- Mệt mỏi hoặc cảm giác mất năng lượng kéo dài.

- Có cảm giác vô dụng hoặc có cảm giác tự tội quá đáng hoặc cảm giác không thích hợp khác.

- Giảm năng lượng suy nghĩ, giảm tập trung chú ý, giảm khả năng đưa ra các quyết định.

- Có hành vi tự sát.

+ Các triệu chứng không đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hỗn hợp.

+ Các triệu chứng gây ra đau khổ, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp, và các chức năng khác.

+ Các triệu chứng không do hậu quả của một chất hoặc một bệnh cơ thể khác.

+ Các triệu chứng không thể giải thích do stress, các triệu chứng tồn tại dai dẳng trên 2 tuần kèm theo giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp.


1.2.2.2. Triệu chứng lâm sàng


Rối loạn trầm cảm chủ yếu, là đặc trưng của một hay nhiều giai đoạn trầm cảm điển hình. Hội chứng trầm cảm là một hội chứng phức tạp ảnh hưởng lên khí sắc, tư duy, vận động và cơ thể.

Rối loạn trầm cảm như một hội chứng hoặc một bệnh, nhưng hay gặp nhất là một bệnh. Trầm cảm được biểu hiện bằng các triệu chứng chủ yếu của khí sắc, mất hứng thú và sở thích.

+ Các triệu chứng của khí sắc trầm khó phân biệt với buồn rầu bình thường, nhiều bệnh nhân cho rằng bị rối loạn trầm cảm là vì trong tiền sử có các stress tâm lí. So với triệu chứng buồn rầu thì triệu chứng trầm cảm bền vững hơn, khí sắc bị ức chế không thay đổi do các yếu tố ngoại sinh và bệnh nhân không thể kiểm soát được các triệu chứng trầm cảm của mình

Biểu hiện triệu chứng khí sắc trầm của mỗi người khác nhau như: buồn, đau khổ, cáu gắt, mất hy vọng, giảm khí sắc. Bệnh nhân không tự xác định được bệnh và có nhiều rối loạn cơ thể như đau, bỏng rát ở các vùng khác nhau trong cơ thể. Các dấu hiệu đó tạo thành hội chứng trầm cảm.

+ Mất hứng thú và sở thích trong rối loạn trầm cảm là triệu chứng quan trọng thứ hai trong hội chứng trầm cảm. Mất hứng thú với mọi hoạt động hoạt vô cảm với mọi sở thích trước khi bị bệnh. Mất hứng thú với mọi khía cạnh của cuộc sống như thành công trong nghề nghiệp, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đối với đời sống tình dục và hiệu quả tự chăm sóc bản thân. Bi quan, mất hy vọng, mất ham muốn được sống, xuất hiện khuynh hướng xa lánh xã hội và giảm khả năng nhận thông tin.

+ Ngoài hai triệu chứng cơ bản nói trên (khí sắc trầm và mất hứng thú, sở thích) khám tâm thần của bệnh nhân còn nhiều triệu chứng khác nữa. Biểu hiện lâm sàng của rối loạn trầm cảm liên quan chặt chẽ với nhân cách trước khi bị bệnh. Một số đặc điểm của nhân cách có thể che lấp hoặc khuếch đại bởi các triệu chứng rối loạn trầm cảm và cũng có thể nhầm với các rối loạn tâm căn.

Biểu hiện bên ngoài của rối loạn trầm cảm có thể là bình thường trong rối loạn trầm cảm nhẹ. Trong rối loạn trầm cảm vừa và nặng xuất hiện nét mặt buồn rầu, thái độ chán nản, tư thế ủ rủ, vai rũ xuống, trán có nhiều nếp nhăn. Một số bệnh nhân có thể không yên tĩnh và thậm chí có kích động gọi là kích động trầm cảm.

Các triệu chứng rối loạn nhận thức:

Chức năng nhận thức trong rối loạn trầm cảm bị ức chế, vận động không hiệu quả và chậm chạp gọi là ức chế tâm thần.

+ Rối loạn chú ý: Có sự giảm sút chú ý rõ rệt, khả năng tập trung chú ý kém, là triệu chứng người bệnh than phiền nhiều nhất:

Họ khẳng định rằng không thể đọc, không thể theo dõi chương trình tivi, không thể kết thúc công việc đơn giản hằng ngày vì không có sự tập trung chú ý. Rối loạn tập trung chú ý có thể rõ rệt trong thời gian khám, khi đó bệnh nhân khó tập trung cho khám bệnh. Có thể áp dụng cho một số test đơn giản về khả năng tập trung chú ý như test 100-7 hoặc test 100-3.

+ Rối loạn trí nhớ: rối loạn trí nhớ thường là giảm khả năng nhớ chính xác các thông tin, hiện tượng này liên quan chặt chẽ với rối loạn chú ý. Bênh nhân thường than phiền giảm khả năng nhớ, các ký ức bị ảnh hưởng của khí sắc trầm cảm. Bệnh nhân đặc biệt nhớ các sự kiện không được thích thú cho lắm và các thất bại trong đời sống trong đời sống hằng ngày, trong khi đó các sự kiện khác lại được ghi nhớ rất kém.

+ Rối loạn tri giác: xuất hiện rối loạn tri giác như đau đầu, rối loạn dạng cơ thể (đau không hệ thống), ảo giác xuất hiện tỏng rối loạn trầm cảm nặng, thường phù hợp với giảm khí sắc.

+ Rối loạn tư duy: xuất hiện rối loạn hình thức tư duy và cả nội dung tư duy rất đa dạng:

Nhịp tư duy chậm, bệnh nhân thường khó suy nghĩ, có cảm giác ý nghĩ bị tắc nghẽn, không rõ ràng, khó hệ thống và khó biểu hiện. Lời nói chậm, thiếu tính tự động, chậm trả lời các câu hỏi; nội dung đơn điệu, nghèo nàn tập trung vào các sự kiện hiện tại hoặc các sự kiện gây khó chịu.

Bệnh nhân không quyết định được, khó quyết định và không tin ở bản thân mình. Bệnh nhân nhìn tương lai một cách đầy bi quan, không hy vọng. Nội dung mang màu sắc của rối loạn trầm cảm, xuất hiện sự sụp đổ, tự ti.

Ý nghĩ không tự tin vào bản thân mình, bênh nhân cảm thấy mất khả năng sống thoải mái, mất các hoạt động bình thường. Bệnh nhân cho rằng cuộc sống là một chuỗi dài những thất bại của bản thân và chất lượng cuộc sống giảm rõ rệt.

Cảm thấy cuộc sống đầy những khó khăn, khó vượt qua được và cho rằng mình “ không là ai và không là cái gì”. Có ý nghĩ tội lỗi thường là hoang tưởng tự buộc tội mình. Bệnh nhân cho rằng mình là gánh nặng của gia đình, trong trầm cảm nặng, ý nghĩ tội lỗi sẽ trở thành hoang tưởng Cotar. Cho rằng mình có tội, rằng những tội lỗi, những thảm họa cho gia đình và cho cả thế giới sắp sụp đổ đến nơi và người bệnh rất hoảng sợ, than thở, khóc lóc.

Có ý tưởng và hành vi tự sát, hầu hết các trường hợp rối loạn trầm cảm có ý nghĩ về cái chết, đi đến tự sát và tự sát nhiều lần mà không thành công. Trong rối loạn trầm cảm có 10-15% tự sát thành công, 25-30% tự sát nhiều lần nhưng không thành công và 55-65% có ý tưởng tự sát.

+ Rối loạn tâm thần vận động:

Vận động tâm thần chậm: triệu chứng hay gặp nhất là vận động tâm thần chậm chạp. Các hệ thống phân loại cổ điển xếp triệu chứng vận động như một tiêu chuẩn quan trọng để chẩn đoán. Vận động chậm chạp như trả lời chậm, nói chậm, nhịp tư duy chậm, nhớ chậm quá mức được biểu hiện bằng trạng thái sững sờ, trầm cảm, vận động tâm thần.

Không yên tĩnh, kích động tâm thần, (kích động trầm cảm), thường phối hợp với rối loạn lo âu. Thiếu năng lượng hoặc mệt mỏi là một trong những triệu chứng không đặc trưng và cần phân biệt với rối loạn trầm cảm.

+ Rối loạn về ăn uống: bệnh nhân thường ăn uống kém nhưng một số lại ăn nhiều.

+ Mất ngủ hoặc ngủ nhiều: thường gặp là ít ngủ hoặc không ngủ, mất ngủ hỗn hợp, mất ngủ ở cuối giấc. Trong giai đoạn rối loạn trầm cảm chủ yếu, có một số thay đổi đăc trưng điện não đồ ghi trong thời gian ngủ là:

- Giảm biên độ REM (giai đoạn vận động nhãn cầu xanh): thời gian từ khi bắt đầu ngủ đến giai đoạn đầu của REM.

- Tăng độ dài của giai đoạn đầu có REM.

- Giảm tính thường xuyên của giai đoạn REM.

- Giảm giai đoạn 4 của giấc ngủ Delta

1.3. LIỆU PHÁP KÍCH HOẠT HÀNH VI VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÁC




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương