Báo cáo khoa họC 2014 bscki trần thị HẢi vâN



tải về 382.02 Kb.
trang2/11
Chuyển đổi dữ liệu07.11.2017
Kích382.02 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

1.1.3. Lịch sử bệnh trầm cảm


Những rối loạn trầm cảm đã có từ khi con người biết viết lịch sử. Trong kinh thánh, Vua David cũng như vua Job đã mắc phải căn bệnh này. Hippocrates thì đề cập tới vấn đề trầm cảm là tình trạng u sầu với bản chất là “mật đen”. Mật đen cùng với máu, đờm và mật vàng là 4 loại dịch thể giải thích cho sinh lý y học cơ bản lúc bấy giờ. Trầm cảm đã được đưa vào trong các tác phẩm văn học và nghệ thuật trong hàng trăm năm nhưng ngày nay chúng được hiểu như thế nào?

Vào thế kỷ thứ 19, trầm cảm được xem là một sự yếu đuối về cá tính do di truyền. Vào nửa đầu của thế kỷ 20, Freud kết nối giữa quá trình bệnh sinh của trầm cảm với vấn đề phạm tội và xung đột. John Cheever, tác giả và cũng là người bị rối loạn về trầm cảm, đã viết về những xung đột và những kinh nghiệm trải qua với cha mẹ mà ảnh hưởng đến quá trình tiến triển trầm cảm của ông.Trong thập niên 50-60, trầm cảm được chia làm 2 loại, nội tại và thần kinh. Khi trầm cảm bắt nguồn từ bên trong cơ thể, có thể do nguồn gốc từ gen hoặc vô căn thì được gọi là loại nội tại.

Trầm cảm do thần kinh hay trầm cảm phản ứng có một yếu tố thúc đẩy rõ ràng từ môi trường như là cái chết của người thân hoặc những mất mát đáng kể khác như bị mất việc làm. Trong thập niên 70-80, người ta chuyển tập trung từ nguyên nhân của trầm cảm sang những ảnh hưởng của nó lên người bệnh. Điều đó nghĩa là tìm hiểu các triệu chứng và các chức năng bị suy giảm để nhà chuyên môn có thể chẩn đoán xác định ra bệnh trầm cảm cho dù đó là nguyên nhân gì đi nữa. Mặc dù có một số tranh cãi cho tới nay (giữa các ngành trong y khoa ) thì hầu hết các nhà chuyên khoa đồng ý rằng: Rối loạn trầm cảm là một hội chứng phản ánh tâm trạng buồn bã hoặc một nổi khổ quá mức bình thường.

Đặc biệt, sự u sầu này trong trầm cảm có mức độ nặng hơn, kéo dài hơn, nhiều triệu chứng nghiêm trọng hơn và mất chức năng nhiều hơn bình thường.Những rối loạn trầm cảm không chỉ đặc trưng bởi các suy nghĩ, tâm trạng và hành vi tiêu cực mà còn bởi những thay đổi đặc hiệu trong các hoạt động chức năng (ví dụ như ăn, ngủ, và hoạt động tình dục).

Những thay đổi về chức năng thường được gọi là các dấu hiệu thần kinh thực thể.Một số người bị trầm cảm, đặc biệt là rối loạn cảm xúc lưỡng cực, dường như có tính di truyền.Rối loạn trầm cảm là một vấn đề lớn về sức khoẻ trong cộng đồng: Trong năm 1990, phí điều trị trầm cảm ở Mỹ là  43 tỉ đôla bao gồm tiền điều trị, chi phí gián tiếp (như là mất khả năng lao động hay vắng mặt lâu ngày).Một nghiên cứu y học quan trọng cho thấy bệnh trầm cảm gây nên những vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh hơn là các vấn đề từ viêm khớp hay huyết áp cao, bệnh phổi mạn tínhtiểu đườngmang lại; và trong hai loại bệnh, trầm cảm có ảnh hưởng ngang với  bệnh động mạch vành.Trầm cảm làm tăng nguy cơ tiến triển bệnh mạch vành, HIVhenvà các bệnh lý nội khoa khác. Hơn nữa, trầm cảm làm tăng độ mắc bệnh, và tỉ lệ tử vong của các bệnh trên. Thường trầm cảm được chẩn đoán đầu tiên ở một trung tâm sức khoẻ ban đầu chứ không phải trong một phòng khám của bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Hơn thế nữa, bệnh thường nằm trong nhiều dạng lẫn lộn khác nhau khiến cho rất hay bỏ sót chẩn đoán.Trầm cảm thường không thể chữa trị cho dù có rất nhiều tài liệu nghiên cứu và các chỉ dẫn lâm sàng tập trung vào vấn đề điều trị. Hi vọng rằng tình trạng này sẽ được cải thiện.Để có thể thoát khỏi một rối loạn tâm lý cần phải điều trị bằng thuốc hoặc bằng liệu pháp tâm lý cho dù nó có yếu tố thúc đẩy hay do vô căn.

1.1.4 Dịch tể học trầm cảm:

Rối loạn trầm cảm là rối loạn phổ biến và mãn tính, điều trị hiệu quả thì khó và đắt đỏ, giá cả vượt trội hơn một số bệnh mãn tính khác như đái tháo đường hay tăng huyết áp, hơn một nửa số bệnh nhân trải qua điều trị lần thứ nhất thì cũng trải qua lần thứ hai, điều này sẽ làm cho bệnh nhân mất việc làm, cản trở quan hệ cá nhân, lạm dụng thuốc, tình trạng sức khỏe trở nên tồi tệ và ước lượng trầm cảm là nguyên nhân dẫn đầu mất khả năng hoạt động được tính toán bởi YLDs chiếm tỉ lệ 12% của tất cả căn nguyên gây mất khả năng lao động.

Theo Tổ chức y tế thế giới tới năm 2020 trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh tim mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong. Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đến người già Ở Pháp 10% dân số có nguy cơ mắc bệnh này, tỉ lệ mắc bệnh chung ở một thời điểm nhất định là 2-3% số dân ở Anh hơn 2.9 triệu người được chẩn đoán trầm cảm ở một thời điểm nào đó và ở Mỹ tỉ lệ mắc bệnh chung ở giới nữ là 5-9%, nam giới là 2-3% tỉ lệ trầm cảm tái phát sau 6 tháng là 27% sau 1 năm là 50% tần suất suốt đời của trầm cảm và lo âu khoảng 15-20% ở các bệnh viện thực hành tỉ lệ còn cao hơn khoảng 10-12%.

Nữ giới chiếm tỉ lệ cao (70%), phụ nữ thu nhập thấp có nguy cơ trầm cảm cao hơn các phụ nữ ở nhóm thu nhập khác phụ nữ có thai có nguy cơ cao hơn phụ nữ bình thường những bà mẹ mới sinh nguy cơ trầm cảm từ 13-16% khoảng 80% phụ nữ sau sinh trải nghiệm sự buồn chán, nhưng chỉ có khoảng 10-15% có triệu chứng nghiêm trọng trầm cảm sau sinh tỉ lệ dàn trải từ 5-25% phụ thuộc vào sự thay đổi định nghĩa và tính đa dạng của cộng đồng nghiên cứu, tỉ lệ cao ở các nước phát triển và từ 16-35% trong các nền văn hóa khác nhau, nhưng trong giai đoạn tiền mãn kinh nguy cơ trầm cảm gấp 14 lần so với tuổi trước 30.

Phù hợp với mẫu nghiên cứu cộng đồng, ở nhóm sinh viên các trường Đại học Mỹ tỉ lệ trầm cảm khoảng từ 15-20% và gia tăng trong 2 thập kỷ trước.

Trẻem và trẻ vị thành niên trong cộngđồng bị trầm cảm có tỉ lệ 2-6%, theo một báo cáo của trung tâm thông tin sức khỏe thanh thiếu niên quốc gia Mỹ hơn 25% thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi trầm cảm mức độ nhẹ, nguy cơ tự sát ở nhóm này cũng cao hơn so với cộng đồng chung.

Yếu tố thể tạng đóng vai trò quan trọng, thường hay gặp ở người có thể tạng mập mạp 67% và thường gặp ở người lớn tuổi từ 35- 60, tuổi trung bình khoảng 40 tuổi, đặc biệt ở phụ nữ tuổi xuất hiện sớm hơn nam giới, tần suất trong cả cuộc đời khoảng 15% dân số, ở nam giới khoảng 15%, ở nữ giới là 24% .

Theo Dunlop (2003), tỉ lệ trầm cảm ở người da trắng và cộng đồng người Hispanic (Tây ban nha và Bồ Đào Nha) thì cao hơn người da đen.

Ở người già tỉ lệ trầm cảm và loạn khí sắc khoảng từ 5-10%. Khi so sánh với trầm cảm ở người trẻ ở những người già mắc bệnh trầm cảm thường tồn tại cùng lúc nhiều bệnh mãn tính mặc dù tỉ lệ cao như vậy nhưng do phần lớn bênh nhân đánh giá không đúng mức tình trạng bệnh nên chỉ có khoảng 70% bệnh nhân tìm kiếm đến để điều trị , nhưng chỉ 10% được điều trị đầy đủ .

Theo nghiên cứu của Polit, D;& Martinez (2001), chỉ ra rằng, những người phụ nữ có nguy cơ trầm cảm cao thì khả năng lạm dụng chất cao, còn những người phụ nữ có lạm dụng chất thì có nguy cơ trầm cảm cao .

Năm 1961, E. Moller cho rằng tỉ lệ rối loạn trầm cảm nói chung là 6-7% dân số và tỉ lệ trầm cảm điển hình chỉ là 1%.

Greenfield (1997) đã xác định tỉ lệ trầm cảm là 10-13% và trong đó có 55% số bệnh nhân đã có một cơn trầm cảm trong vòng 12 tháng gần đây. Nghiên cứu của các tác giả khác cũng đã chỉ ra rằng: trầm cảm thường không được thừa nhận, chỉ có 9,2% tổng số bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm trong các khoa lâm sàng khác. Việc gia tăng tỉ lệ rối loạn trầm cảm được giải thích như sau:

+ Do tăng tuổi thọ.

+ Do quá trình đô thị hóa nhanh làm người ta không thích ứng kịp.

Ngược lại tỉ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực chỉ chiếm 1% dân số và phân bố đều cho 2 giới.

+ Rối loạn trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực có sự khác nhau rõ về tuổi khởi phát, số lượng và thời gian tồn tại của các giai đoạn bệnh.

+ Theo Angst (1986): tuổi khởi phát trung bình của trầm cảm chủ yếu là tuổi 45, trong khi đó tuổi của rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 29, tuổi trung bình trên 30 và trên 40 đối với thể đơn cực .

1.1.5 Nguyên nhân gây bệnh trầm cảm:

Có nhiều nguyên nhân gây ra trầm cảm, có thể tập trung vào 4 nhóm nguyên nhân chính sau đây:

- Do sang chấn tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp gây trầm cảm. Sang chấn tâm lý hay còn gọi là stress có thể đến từ bên ngoài cơ thể như những mâu thuẫn trong gia đình, bạn bè, công việc... hoặc stress cũng có thể đến từ bên trong cơ thể như bị các bệnh nặng, nan y (HIV-AIDS, ung thư...). Tuy nhiên cần đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của những stress này khi chẩn đoán vì có thể một mình yếu tố stress ấy đã đủ gây ra trầm cảm (những stress nặng, cấp tính như người thân qua đời hay thiên tai thảm khốc... hoặc những stress không nặng nhưng kéo dài, trường diễn như sức ép công việc kéo dài, mệt mỏi trong quan hệ vợ chồng, gia đình, bệnh nặng kéo dài...); tuy nhiên cũng có những stress không đủ mức độ gây bệnh mà chỉ là một yếu tố góp thêm vào những nhân tố có sẵn (như stress trường diễn, dịp này chỉ là giọt nước làm tràn ly, hoặc là trên cơ sở một rối loạn tâm thần tiềm ẩn có trước, nay có dịp bùng phát). Chẩn đoán đúng mức độ ảnh hưởng của những sang chấn tâm lý này sẽ rất có ích trong điều trị trầm cảm.

- Do bệnh thực thể ở não: Như chấn thương sọ não, viêm não, u não... Những rối loạn và tổn thương cấu trúc não này làm giảm ngưỡng chịu đựng stress của cơ thể, chỉ cần một stress nhỏ cũng có thể gây ra các rối loạn cảm xúc, đặc biệt là trầm cảm. Xác định được chính xác và điều trị triệt để nguyên nhân thì có thể điều trị khỏi trạng thái trầm cảm.

- Do sử dụng các chất gây nghiện hoặc các chất tác động tâm thần:
Như Heroin, Amphetamin (thuốc lắc), rượu, thuốc lá... Đặc điểm chung của các chất này là giai đoạn đầu thường gây kích thích, sảng khoái, hưng phấn nhưng sau đó thường rơi vào trạng thái trầm cảm, mệt mỏi, uể oải, giảm sút và ức chế các hoạt động tâm thần (giai đoạn ức chế). Như vậy cứ tưởng rằng khi buồn có thể giải sầu bằng rượu nhưng thực ra càng uống rượu vào lại càng buồn, càng trầm cảm nhiều hơn

- Nguyên nhân nội sinh: Khi đã loại trừ tất cả các nguyên nhân trên. Do rối loạn hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh trong não như Serotonin, Noradrenalin... thường là dẫn đến trầm cảm nặng, có thể có ý tưởng và hành vi tự sát, kèm theo các rối loạn loạn thần như hoang tưởng bị tội, ảo thanh sai khiến tự sát... Loại trầm cảm này điều trị rất khó khăn và thường dễ tái phát.


1.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN TRẦM CẢM



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương