Bài học Kinh Thánh Thanh niên Tô Hiến Thành



tải về 54.63 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích54.63 Kb.

Bài học Kinh Thánh Thanh niên Tô Hiến Thành

2013




LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ


  1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH

  1. Năm 312 S.C Constantine đã chinh phục đế quốc La-mã, ông đã đưa Cơ đốc giáo trở thành quốc giáo.




  1. Giữa những năm 313-451 xuất hiện những cuộc tranh luận về thần học dẫn đến kết quả là các giáo hội nghị đã cố gắng giải quyết các vấn đề bằng cách phát triển những bài tín điều.




  1. Vào cuối thế kỷ thứ nhất, giáo phái Trí Huệ (Gnosticism) xuất hiện trong Hội Thánh sơ khai. Đến giữa thế kỷ thứ hai, giáo phái Marcion cũng xuất hiện trong Hội Thánh. Hai giáo phái này lan tràn nhanh chóng khắp nơi, phổ biến nhiều tà thuyết trái ngược với giáo lý của Giáo hội. Để chống lại các tà thuyết của hai giáo phái này, các Giáo phụ soạn ra bài “Tín Điều Các Sứ Đồ” chứa đựng các giáo lý chính yếu để tín hữu biết và tin theo hầu tránh khỏi bị phái Trí Huệ và Marcion lôi cuốn  theo các tà thuyết của họ.




  1. Giáo phái Trí Huệ cho rằng trong thế gian có thiện và ác. Nguồn của thiện là thần linh, nguồn của ác là vật chất. Nên Đức Chúa Trời không hề tạo dựng thế gian vật chất này. Phái Trí Huệ không tin Đấng Christ xuống thế gian làm người, và cũng không tin Đấng Christ sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri. Nhưng họ tin rằng Đấng Christ là thần tánh của Đức Chúa Giê-su đã nhập vào thân thể của Đức Chúa Giê-su lúc Ngài chịu báp-têm ở dưới sông Giô-đanh.  Đấng Christ lìa khỏi Đức Chúa Giê-su trước khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Như vậy, thuyết này chối bỏ sự cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá và sự nhập thể của Đấng Christ.




  1. Giáo phái Marcion cho rằng không có sự liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước nên đã chối bỏ Kinh Thánh Cựu Ước, chỉ nhận sách Phúc Âm Lu-ca và các thư  tín của sứ đồ Phao-lô. Phái Marcion còn cho rằng Đức Chúa Trời của thời Cựu Ước khác với Đức Chúa Trời của thời Tân Ước; Đức Chúa Trời của Cựu Ước không có lòng thương xót thường giáng tai họa hành phạt loài người. Trái lại Đức Chúa Trời của Tân Ước có lòng yêu thương nhân từ, chậm nóng giận và giàu ơn đối với loài người hơn. Phái Marcion không tin Đấng Christ là một hài nhi do nữ đồng trinh sanh ra, nhưng Ngài xuất hiện trên thế gian là một người trưởng thành. Phái Marcion chỉ tin có sự cứu chuộc của linh hồn, nhưng không tin có sự sống lại của thân thể.




  1. Phái Marcion bị Hội thánh Cơ-Đốc sơ khai coi là một tà giáo nên đã bị giáo hội dứt phép thông công vào năm 144.




  1. Một trong những giáo lý được sử dụng phổ biến ở đế quốc phương Tây là Bài Tín Điều các sứ đồ (Apostle Creed). Từ “Creed” có gốc từ La-tin là credo nghĩa là “tôi tin”. Lý do giáo lý này được gọi là Bài Tín Điều Các Sứ Đồ không phải vì nó được viết bởi các sứ đồ nhưng bởi chính xác là nó dựa trên những sự dạy dỗ của các sứ đồ.




  1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

  1. Bằng tiếng Hy lạp (khoảng năm 200)

  1. Được viết bởi Irenaeus. Bản tín điều này được miêu tả gần giống với Bài tín điều các đồ ngày nay và nó được coi là tiền thân của bài tín điều các sứ đồ sau này.




  1. Bản tín điều này không trình bày những điều mới mẻ mà chỉ dựa trên những điều mà giáo hội lúc bấy giờ đang sử dụng.




  1. Irenaeus lớn lên ở vùng Tiểu Á, sống ở một vùng ngày nay thuộc nước Pháp là học trò của Polycarp, Polycarp là học trò của sứ đồ Giăng.




  1. Bằng tiếng La-tin đầu tiên (khoảng năm 220)

  1. Được viết bởi Tertullian sống ở Bắc Phi (North Africa)




  1. Khoảng một thế kỷ sau Marcellus sống ở vùng Tiểu Á đã sử dụng bản tín điều giống như vậy.




  1. Năm 390 Rufinus đã phổ biến một bản tín điều tương tự như vậy ở miền bắc Italy sau khi ông đã học ở Ý, Ai-cập và Giu-đa.




  1. Agustine-giám mục ở Bắc Phi đã thừa nhận bản tín điều này vào năm 400 và nó đã trở thành bản tín điều chuẩn mực ở Gaul (vùng đất Tây Âu thời cổ đại, bao gồm Pháp, Bỉ, một phần nước Ý, Hà lan và Đức ngày nay) vào năm 650.




  1. Bản tín điều được chấp nhận và đang sử dụng hiện nay được Pirminius viết vào năm 750, ông sống ở Thuỵ Sĩ.




Ý NGHĨA CỦA BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ

PHẦN 1:

TÔI TIN ĐỨC CHÚA TRỜI TOÀN NĂNG LÀ CHA, Ê-sai 44:6; 45:5. Giăng 8:54


LÀ ĐẤNG DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT Sáng 1:1; Giăng 1:1-3; Công 14:15
TÔI TIN”

  • không dựa trên lý trí hay sự hiểu biết của con người.

  • xuất phát từ tấm lòng, là một sự đầu phục hoàn toàn vô điều kiện.

  • Một lời tuyên bố chắc chắn bởi đức tin.

ĐỨC CHÚA TRỜI”



  • Đấng Tối Cao mà con người không nhìn thấy bằng mắt, nhưng lương tâm nhận thức được sự hiện hữu của Ngài.

  • Đấng sắp đặt trật tự của mọi vật và vận hành nó một cách hài hoà tốt đẹp

  • Dù tôi không nhìn thấy Đức Chúa Trời nhưng tôi tin vào sự hiện diện của Ngài trên cuộc đời tôi.

TOÀN NĂNG”



  • Không có gì mà Đức Chúa Trời không làm được .

  • Ngài có quyền trên mọi loài vạn vật.

  • Ngài cầm quyền trên sự sống và sự chết

  • Ngài quyết định sự tồn vong của muôn vật.

  • Chúa là Đấng có toàn quyền trên cuộc đời tôi.

LÀ CHA”



  • Ngài là Đức Chúa Cha trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

  • Ngài là Đức Chúa Trời cũng là Cha của chúng ta (Công 17:28)

  • Chúa không chỉ là Đức Cha quyền năng trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời mà Ngài còn là một người Cha gần gũi, thân thiết, luôn yêu thương, chăm sóc bảo vệ cuộc đời tôi.

ĐẤNG DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT”



  • Muôn loài vạn vật đều được Ngài dựng nên. Ngài ở trên mọi loài.

  • Ngài đã dựng nên con người trong đó có tôi.

  • Ngài là Đấng Tạo Hoá. Ngài có quyền trên cuộc đời tôi. Tôi vâng phục ý muốn Ngài.

Tóm lại:

Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha, là Đấng dựng nên trời đất” nghĩa là tôi khẳng định và thừa nhận bằng tấm lòng rằng Đức Chúa Trời không phải là nhân vật do tôn giáo xây dựng nên mà Ngài là Đấng tối cao hiện hữu trong lương tâm của mỗi người. Ngài đã dựng nên muôn loài vạn vật trong đó có tôi. Ngài không chỉ là Đức Chúa Trời oai nghi, quyền năng, mà Ngài còn là một người cha đầy lòng yêu thương đối với tôi. Tôi tin cậy nơi quyền năng tể trị của Ngài.


Câu hỏi suy gẫm:

  1. Bạn có tin Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên thế gian và dựng nên chính bạn không ?

  2. Bạn sẽ nói gì khi ai đó hỏi bạn Đức Chúa Trời là ai?

  


PHẦN 2:

TÔI TIN GIÊ-XU CHRIST Lu-ca 2:11; Giăng 20:28

LÀ CON ĐỘC SANH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI Giăng 3:16; Châm 30:4
VÀ CHÚA CHÚNG TA
GIÊ-XU”

  • Là ngôi hai trong ba ngôi của Đức Chúa Trời.

  • Tên gọi của Chúa Giê-xu 

  • Gốc từ tiếng Hy-lạp là : lesous.

  • Tiếng Hy-bá-lai : Yehowshuwa.

  • Tiếng Việt được phiên âm là: Giô-suê hay Giê-hô-sua

  • Nghĩa là “Sự cứu rỗi của Chúa hằng hữu”

CHRIST”



  • Tiếng Hy-lạp là :christos

  • Nghĩa là “Người được xức dầu”

  • Vời người Do thái khi nói đến từ Christ là nói đến Đấng Cứu Thế hay Vị cứu tin từ trời.

  • Tôi tin Giê-xu Christ nghĩa là tôi tin nơi Ngài là Đấng cứu tin của nhân loại và Ngài là Đấng từ trời đến.

CON ĐỘC SANH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI”



  • Con duy nhất , không có người nào khác

  • Theo tiếng Hy-bá- lai thành ngữ “Con Đức Chúa Trời” nghĩa là Đức Chúa Trời đến hoặc chính Ngài là Đức Chúa Trời.

  • Tôi tin Đức Chúa Trời đã đến với nhân loại qua Chúa Giê-xu để bày tỏ tình yêu của Ngài. Không có một ai khác ngoài ra Ngài chính là Đức Chúa Trời.

VÀ CHÚA CHÚNG TA”



  • “Chúa”: là chủ của chúng ta. Ngài có toàn quyền trên chúng ta. Chúng ta ở dưới sự tể trị của Ngài, là đầy tớ của Ngài.


Tóm lại:

Tôi tin Chúa Giê-xu là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời và Chúa chúng ta” nghĩa là tôi Chúa Giê-xu chính là Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Cứu tin của nhân loại. Ngài đã đến thế gian trong hình ảnh của Chúa Giê-xu để bày tỏ tình yêu của Ngài cho con người. Và Ngài là chủ của cuộc đời tôi, tôi là đầy tớ của Ngài.


Câu hỏi suy gẫm: Xem Kinh Thánh Ma-thi-ơ 16 :13-17

  1. Vì sao Chúa hỏi các môn đồ “Ngài là ai” khi vào địa phận của thành Sê-sa-rê Phi-líp ?

  2. Vì sao người ta nghĩ Chúa Giê-xu là Giăng Báp-tít, là tiên tri Ê-li và tiên tri Giê-rê-mi ?

  3. Ngày nay, người ta nghĩ Chúa Giê-xu là ai ?

  4. Theo bạn Chúa Giê-xu là ai ?

  5. Bằng cách nào bạn biết Chúa Giê-xu thật sự là con của Đức Chúa Trời ?

  


PHẦN 3:

NGÀI ĐƯỢC THAI DỰNG BỞI THÁNH LINH

SANH BỞI NỮ ĐỒNG TRINH MA-RI Lu-ca 1:35
Lịch sử:

  • Được chép trong Ma-thi-ơ 1:18-25; Lu-ca 1:26-38).

  • Được giáo hội Cơ đốc giáo chấp nhận vào thế kỷ thứ 2

  • Được đưa vào Bài tín điều các sứ đồ

  • Được giáo hội Công giáo La-mã, Chính thống giáo, Tin lành chấp nhận. (Giáo hội Tin Lành không chấp nhận việc Ma-ri đồng trinh vĩnh viễn)

ĐƯỢC THAI DỰNG BỞI THÁNH LINH”



  • Chúa Giê-xu được đặt vào lòng Ma-ri qua phép lạ và quyền năng của Đức Thánh Linh (Lu-ca 1:35). Ngài là con người nhưng không được tạo dựng bởi sự kết hợp giữa nam và nữ như chúng ta

  • Lời hứa của Đức Chúa Trời trong Sáng 3:15 “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người” là ý nói về sự ra đời của Đấng Mê-si bắt nguồn từ người nữ chứ không phải từ người nam giống như thông thường

SANH BỞI NỮ ĐỒNG TRINH MA-RI” 



  1. Một số tranh luận xoay quanh lời dự ngôn của Ê-sai về con trai Em-ma-nu-ên cho dân Y-sơ-ra-ên và chữ “đồng trinh” được dùng trong Ê-sai 7:14 và Ma-thi-ơ 1:23

  1. Lời tiên tri của Ê-sai nói về sự ra đời của con trai mang tên Em-ma-nu-ên trong bối cảnh lịch sử thời vua A-cha và không có liên hệ đến lời hứa về một Đấng Mê-si mà Ma-thi-ơ đã đề cập.

(Lúc bấy giờ vua A-cha đang rất lo sợ về sự tấn công của hai vua Rê-xin xứ Sy-ri và Phê-ca vua Y-sơ-ra-ên. Và Ê-sai nói rằng Chúa sẽ ban một dấu hiệu. Còn Ma-thi-ơ lại sử dụng lời dự ngôn của Ê-sai để nói về sự ra đời của Đấng Cứu Thế.)


  1. Chữ “gái đồng trinh” trong Ê-sai 7:14 có gốc từ trong tiếng Hy-bá-lai là chữ “almah” nghĩa là “người con gái trẻ” chứ không phải là “gái đồng trinh”. Từ này được sử dụng 7 lần trong bản Kinh Thánh nguyên ngữ Hy-bá (Sáng 24:43; Xuất 2:8; Thi 68:25; Châm 30:29; Nhã ca 1:3; 6:8; Ê-sai 7:14)




  1. Trong Ma-thi-ơ 1:23 người dịch đã sử dụng từ “parthenos”  nghĩa là “ gái đồng trinh” để thay thế cho từ “ almah”




  1. Theo y học ngày nay, một số em gái bị mất trinh do một số nguyên nhân như đạp xe đạp, chạy nhảy, té ngã … chứ không hẳn do có quan hệ tình dục.

  • Như vậy, việc cho rằng Ma-ri là một trinh nữ dù rằng không có quan hệ xác thịt với người nam là một quan điểm cần được xem xét lại




  1. Những giải thích cho những tranh luận ở trên

  1. Ma-thi-ơ được sự cảm thúc bởi Đức Thánh Linh để sử dụng lời tiên tri trong Ê-sai dù rằng lời tiên tri của Ê-sai đề cập đến sự ra đời của đấng Mê-si nhưng cả hai đều nói về một Đấng cứu tin cho dân Y-sơ-ra-ên . Nên chúng ta có thể hiểu theo nghĩa đen đây là một lời tiên tri dành cho dân Y-sơ-ra-ên trong thời vua A-cha nhưng theo nghĩa bóng nó là lời tiên tri dành cho cả nhân loại ngày nay.




  1. Lời nói của Ma-ri chứng minh sự trinh trắng của bà  “Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó?” Lu-ca 1 :34

  • Nhận biết  (Tiếng Việt)

  • Know (English)

  • Ginosko (Hy-lạp) ngoài nghĩa là hiểu biết, chắc chắn, lĩnh hội, thì nói một cách hoa mỹ trong ngữ cảnh của câu nói này ý Ma-ri muốn nói là bà không hề có quan hệ tình dục với bất cứ người nam nào.




  1. Chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa màng trinh và trinh tiết. Màng trinh là khái niệm sinh học chỉ một bộ phận của phụ nữ, còn trinh tiết là một khái niệm xã hội, chỉ người chưa từng quan hệ tình dục. Như vậy, khi nói về các vấn đề xã hội liên quan (như quan hệ tình dục sớm, sống thử, hoặc giữ gìn thể xác tới đêm tân hôn) thì phải dùng từ "trinh tiết, trong trắng" mới thật chính xác. Những ý kiến cho rằng trinh tiết chỉ là "chiếc màng sinh học" (màng trinh) thực chất là không hiểu rõ, lẫn lộn giữa 2 khái niệm hoặc cố tình hạ thấp giá trị tinh thần đích thực của trinh tiết.


Tóm lại:

Khi nói rằng tôi tin “Ngài được thai dựng bởi Thánh Linh, sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri” nghĩa là tôi tin Chúa Giê-xu thật sự là một con người, nhưng Ngài khác với những người khác ở chỗ Ngài là người vô tội, do bởi Ngài được sanh ra bởi quyền năng của Đức Thánh Linh tác động trên một người phụ nữ đức hạnh trọn vẹn tên là Ma-ri.
  





Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương