Bồi dưỠng học sinh giỏi văN 8 NĂm họC 2016 2017



tải về 1.23 Mb.
trang9/10
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích1.23 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Tình yêu thương chân thành, tha thiết dành cho tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đều được xuất phát từ lòng nhân hậu từ lòng yêu nước. Với quân sĩ dưới quyền, Trần Quốc Tuấn luôn đối xử như với con mình, với những người quen: "Các ngươi cùng ta coi giữ binh quyển đã lâu ngày, không có mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm; quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít thì ta cấp bổng; đi thuỷ thì ta cho thuyển, đi bộ thì ta cho ngựa; lúc trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau vui cười". Đó là mối ân tình giữa chủ và tướng nhằm khích lệ ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người đối với lẽ vui tôi cũng như tình cốt nhục. Chính tình yêu thương tướng sĩ chân thành tha thiết mà Trần Quốc Tuấn đã phê phán những biểu hiện sai, đồng thời chỉ ra cho tướng sĩ những hành động đúng nên theo, nên làm. Những hành động này đều xuất phát từ ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược. Đó là sự băn khoăn trước tình trạng tướng sĩ không biết lo lắng cho đất nước: không thấy lo, thấy thẹn khi nhà vua và đất nước bị kẻ thù làm nhục; chỉ biết vui thú, tiêu khiển, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát,... Nguy cơ thất bại rất lớn khi có giặc Mông Thái tràn sang: "cựa gà trống không thể đâm thùng áo giáp của giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh; dẫu rằng ruộng lắm, vườn nhiều, tấm thân quí nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu; việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không mua được đầu giặc, chó săn tuy khoẻ không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bây giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!". Chính lòng yêu nước mà Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra cho tướng sĩ những hành động nên làm: "Nay ta bảo thật các ngươi: nên nhớ câu "đặt mồi lửa vào giữa đông củi là nguy cơ, nên lấy điều "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" "làm run sợ, huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên".
Bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta nói chung và Trần Quốc Tuấn nói riêng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Nó được thể hiện qua lòng căm thù giặc, ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược và những tình cảm dành cho tướng sĩ dưới trướng.

Đề bài: Cảm nghĩ về tác phẩm Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là vị anh hùng dân tộc văn võ toàn tài.Tên tuổi ông gắn liền với Binh thư yếu lược, Hịch tướng sĩ và chiến công Bạch Đằng bất tử.

Trần Quốc Tuấn được vua nhà Trần cử giữ chức Tiết chế thống lĩnh lãnh đạo cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) đánh thắng quân xâm lược Nguyên- Mông.

Hịch tướng sĩ được Trần Quốc Tuấn viết vào năm 1282 và trước hội nghị quân sự Bình Than của các vương hầu. Đó là một luận văn quân sự nổi tiếng trong lịch sử dân tộc, là lời kêu gọi chiến đấu quyết tâm đánh thắng quân xâm lược để bảo vệ sơn hà xã tắc của ông cha ta hơn bảy trăm năm về trước từng làm sôi sục lòng người. Có ý kiến cho rằng: Hịch tướng sĩ là khúc tráng ca anh hùng sáng ngời hào khí Đông – A.

Đông – A là khái niệm mà các nhà lịch sử dùng để chỉ triều đại nhà Trần(1226-1400), hào khí nghĩa là chí khí hào hùng, chí khí anh hùng. Câu nói trên nhằm ca ngợi Hịch tướng sĩ là bản anh hùng ca sáng ngời chí khí hào hùng, chí khí anh hùng của Đại Việt trong triều đại nhà Trần. Bài hịch đã vạch trần âm mưu xâm lược của giặc Nguyên – Mông , thể hiện lòng căm thù giặc sôi sục, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, sẵn sàng xả thân trên chiến địa để bảo vệ sơn hà xã tắc.Hào khí Đông-A tỏa sáng trong Hịch tướng sĩ chính là lòng yêu nước nồng nàn, khí phách anh hùng lẫm liệt của tướng sĩ nhà Trần và nhân dân ta trong thế kỉ XIII đã ba lần đánh giặc Nguyên – Mông.

Hịch tướng sĩ là một khúc ca, bởi lẽ trước hết Trần Quốc Tuấn đã nêu cao gương sáng các bậc trung thần nghĩa sĩ, những mẫu người lí tưởng của chế độ phong kiến đã xả thân vì lòng trung quân ái quốc. Đó là Kỉ Tín, Do Vũ, Dự Nhượng, Thân Khoái, Kính Đức, Cảo Khanh… đã bỏ mình vì nước, thoát khỏi thói nữ nhi thường tình trở thành vĩ nhân lưu danh sử sách, cùng trời đất muôn đời bất hủ.

Hịch tướng sĩ là bản hùng ca của Đại Việt sáng ngời hào khí Đông- A. Nó thể hiện một tầm nhìn chiến lược, thấy rõ tim gan đen tối, dã tâm của quân giặc phương Bắc, tham lam tàn bạo cực độ, của âm mưu biến nước ta thành quận, huyện của chúng. Sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, coi kinh thành Thăng Long như lãnh địa của chúng. Lòng tham vô đáy, lúc thì chúng thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, lúc thì giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn. Chúng là cú diều, là dê chó, là hổ đói rất bẩn thỉu, tham lam, độc ác, phải khinh bỉ và căm ghét tận xương tủy, phải tiêu diệt!

Hịch tướng sĩ là tiếng nói căm giận bốc lửa quyết không đội trời chung với luc giặc Nguyên – Mông. Nó là khúc tráng ca chứa chan tinh thần yêu nước, biểu lộ khí phách của anh hùng Trần Quốc Tuấn quyết chiến quyết thắng quân xâm lược, nguyện xả thân trên chiến trường để bảo vệ Tổ quốc Đại Việt:

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng. Có thể nói, đây là đoạn văn hay nhất, hùng tráng nhất trong Hịch tướng sĩ thể hiện một cách tuyệt vời hào khí Đông-A.

Hịch tướng sĩ là một áng văn chính luận đanh thép nhất, hùng biện nhất thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng Đại Việt sáng ngời hào khí Đông- A. Trần Quốc Tuấn đã nói với tướng sĩ đời Trần về nhục và vinh, thắng và bại, mất và còn, sống và chết, khi vận mệnh Tổ quốc lâm nguy. Mất cảnh giác, chỉ biết hưởng lạc như: lấy việc chọi gà làm vui đùa, …, lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển,(…) lo làm giàu mà quên việc nước, ham săn bắn và quên việc binh, chỉ thích rượu ngon,mê tiếng hát,… thì bại vong là tất yếu. Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang thì ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào? Bại vong là thảm họa:

Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất, chẳng những gia quyến của ta bị tan, mà vợ con các ngươi cũng khốn, chẳng những xã tắc tổ tong ta bị giày xéo mà phần mộ cha mẹ các ngươi cũng vị quật lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, rồi đến trăm năm sau, tiếng dơ không rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận.

Thân làm tướng, kẻ nam nhi trong thời loạn phải biết lo khi nhìn chủ nhục, phải biết thẹn khi thấy nước nhục, phải biết tức khi thấy nước nhục, phải biết tức khi phải hầu quân giặc, phải biết căm khi nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ!

Thân làm tướng phải cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu: huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa khuyết, làm rũa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai. Đó là quyrts chiến quyết thắng, là vinh quang.

Hịch tướng sĩ sáng ngời hào khí Đông-A, nó có tác dụng khích lệ, động viên tướng sĩ quyết chiến quyết thắng giặc Nguyên- Mông. Hịch của vị Tiết chế Quốc công như tiếng kèn xung trận vang dội núi sông. Nó đã góp phần không nhỏ tạo nên sức mạnh của đoàn dũng sĩ Sát Thát lập nên bao chiến công oai hùng như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng Giang,…, Hịch tướng sĩ đã phản chiếu sáng ngời hào khí Đông-A qua những tấm gương đầy khí phách lẫm liệt. Là tiếng nói sắt đá vang lên trong những giờ phút hiểm nghèo: Nếu bệ hạ muốn hàng, xin chems đầu thần trước đã! Là tư thế lẫm liệt hiên ngang của Trần Bình Trọng: Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Là chí khí anh hùng của Trần Quốc Toản: phá cường địch, báo hoàng ân. Là dũng khí của Phạm Ngũ Lão với đạo quân phụ- tử chi binh trăm trận trăm thắng: “ Múa giáo non sông trải mấy thâu,

Ba quân hùng khí át sao ngưu.” (Thuận hoài – Phạm Ngũ Lão)

Tóm lại, Hịch tướng sĩ là tác phẩm lớn nhất, tráng lệ nhất,biểu hiện tinh thần yêu nước của văn học đời Trần. Qua bài hịch, ta càng thêm ngưỡng mộ và biết ơn vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn. Hịch tướng sĩ, còn có tác dụng to lớn, sâu sắc bồi dưỡng lòng yêu nước, khí phách anh hùng, tinh thần tự lập tự cường cho thế hệ trẻ Việt Nam. .

NƯỚC ĐẠI VIỆT TA

(trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi)

Nhắc đến những áng thiên cổ hùng văn của mọi thời đại, phải kể đến Bình Ngô đại cáo. Bình Ngô đại cáo là bản tuyên cáo khẳng định cộng đồng Đại Việt với tư cách một quốc gia độc lập và tổng kết sự nghiệp bình Ngô Phục quốc đã kết thúc thắng lợi, đất nước đã giành được độc lập toàn vẹn từ tay kẻ thù, và bắt đầu thời kỳ xây dựng phát triển mới. Với những ý nghĩa như vậy Bình Ngô đại cáo đã trở thành bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của dân tộc Đại Việt. Nội dung tuyên ngôn được thể hiện tập trung trong đoạn trích Nước Đại Việt ta.

Trong lịch sử nhân loại đã có không ít những bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, gây được tiếng vang lớn trong dư luận. Riêng dân tộc Việt Nam cũng đã có tới ba bản tuyên ngôn độc lập bất hủ: Sông núi nước Nam (Lý Thường Kiệt), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) và Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh). Ba bản tuyên ngôn ấy không những là kiệt tác văn chương mà còn là ý chí độc lập tự chủ của một dân tộc biết tự khẳng định mình, tự hào về truyền thống và sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự tồn vong của quốc gia, dân tộc.

Bình Ngô đại cáo là một trong ba bản tuyên ngôn độc lập ấy, ra đời vào cuối năm 1427, ngay sau khi đại nghiệp chống Minh thu được thắng lợi.
Mở đầu bài Cáo, Nguyễn Trãi nêu ra nguyên lý nhân nghĩa có tính chất là tư tưởng chủ đạo cho cả bài Cáo:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân 


Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Đó là tư tưởng nhân nghĩa vì dân vì nước hết sức cao đẹp và tiến bộ. Ngay sau đó, Nguyễn Trãi khẳng định chân lí về sự tồn tại độc lập có chủ quyền của dân tộc Đại Việt:

Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền vãn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam củng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bèn xưng đế một phương,
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.

Tám câu văn đã thâu tóm cả một quan điểm lớn về quốc gia và dân tộc.

Trước Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt cũng đã nêu lên một quan điểm về quốc gia dân tộc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư 


Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Lý Thường Kiệt đã khẳng định một chân lí tự nhiên không thể chối bỏ: Sông núi nước Nam là của người Nam. Đó là đạo lí hợp với lẽ trời và lòng người. Người Việt ta coi trọng đạo lí ấy và sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì nó. Bài thơ Sông núi nước Nam ra đời và được tuyên đọc ngay trước cuộc kháng chiến chống Tống lần hai, đã thổi bùng lên cả một hào khí chiến đấu và chiến thắng giặc thù. Âm hưởng của bài thơ ngân vang bên chiến tuyến Như Nguyệt ngày ấy vẫn còn vang vọng đến tận hôm nay. Nguyễn Trãi đã kế thừa tư tưởng của Lý Thường Kiệt về quốc gia, dân tộc và nâng nó lên một bước phát triển mới, sâu sắc và toàn diện hơn nhiều.

Nếu như quan niệm về quốc gia, dân tộc của Lý Thường Kiệt mới chỉ dừng lại ở hai yếu tố cơ bản: chủ quyền và lãnh thổ, thì đến Nguyễn Trãi, quan điểm ấy được bổ sung thêm ba yếu tố rất quan trọng. Nguyễn Trãi khẳng định: nước Đại Việt là của dân tộc Việt. Dân tộc ấy là một dân tộc có nền văn hiến lâu đời, có núi sông bờ cõi riêng, có phong tục tập quán riêng, có lịch sử riêng và có chế độ chủ quyền riêng.

Điều đáng nói ở đây là Nguyễn Trãi đã ý thức được sâu xa và bền vững về độc lập chủ quyền dân tộc. Một dân tộc độc lập không chi là một dân tộc có độc lập và chủ quyền riêng, mà điều cần thiết không thể thiếu là dân tộc ấy phải có một nền văn hiến lâu đời. Nền văn hiến ấy chính là truyền thống văn hóa tốt đẹp. Nền văn hóa ấy kết hợp với phong tục tập quán sẽ làm nên bản sắc dân tộc. Nhớ lại hơn một ngàn năm Bắc thuộc bọn phong kiến phương Bắc ra sức đồng hóa dân tộc nhưng chúng đã thất bại thảm hại. Truyền thống văn hiến đã tạo nên ý chí kiên cường bất khuất để dân tộc ta tồn tại và phát triển trong suốt đêm trường đen tối ấy. Và cũng chính truyền thống văn hiến làm nên ý chí quật khởi, tạo nên một bề dày lịch sử oanh liệt hiếm có.

Quan điểm về quốc gia dân tộc của Nguyễn Trãi đã trở thành một chân lí bất hủ và ngời sáng: chân lí độc lập dân tộc. Chân lí độc lập dân tộc dược ánh sáng tư tưởng nhân nghĩa vì dân, vì nước chiếu rọi đã tạo nên sức mạnh diệu kì:

Vậy nên:


Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong 
Cửa Hàm Tử bát sống Toa Đồ,
 Sồng Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

Bằng những chứng cứ xác thực và hùng hồn, Nguyễn Trãi đã thêm một lần nữa khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc với niềm tự hào cao độ. Theo Nguyễn Trãi, nền độc lập ấy đâu phải tự nhiên vốn có, mà đó là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ đầy hi sinh; đó là xương máu của bao lớp cha anh đã ngã xuống để xây đắp lên.

Nếu như toàn bộ bài Cáo là một bản anh hùng ca lẫm liệt về một dân tộc với hào khí thời đại, khát vọng chiến thắng kẻ thù để giành lấy nền độc lập thái bình muôn thuở thì đoạn trích Nước Đại Việt ta chính là tuyên ngôn về hào khí, khí phách, khát vọng ấy. Năm tháng qua đi nhưng ý nghĩa của bản tuyên ngôn vẫn còn ngời sáng đến muôn đời.

BÀN LUẬN VỀ PHÉP HỌC

Nguyễn Thiếp

‘Bàn luận về phép học’là đoạn trích từ bài tấu (là lời của thần dân tâu với vua đế trình bày sự việc, ý kiến) của Nguyễn Thiếp gửi lên vua Quang Trung. Lúc đó Nguyễn Thiếp đang làm Viện trưởng viện Sùng Chính phụ trách việc biên soạn sách và xây dựng Trung đô Phượng Hoàng, một công việc vô cùng to lớn và nặng nề.

Nhìn một cách khái quát, bài ‘tấu’ này thể hiện cái tâm của Nguyễn Thiếp đối với việc chấn hưng nền quốc học, nhằm mở mang dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước.

Mở đầu bài tấu tác giả dùng câu châm ngôn vừa dễ hiểu vừa tăng tính thuyết phục. ‘Ngọc không mài không thành đồ vật, người không học không biết rỗ đạo’, ởđây khái niệm ‘học’ được giải thích bằng hình ảnh cụ thể nên rất dễ hiểu. Khái niệm ‘đạo’ vốn rất trừu tượng cũng được giải thích ngắn gọn, rõ ràng; ‘đạo là lẽ đối xử hàng ngày giữa mọi người’.

Như vậy mục đích chân chính của việc học là học để làm người.

Sau khi đã xác định mục đích của việc học tác giả soi vào thực tế để phê phán những biểu hiện lệch lạc, sai trái trong việc học. Tác giả chỉ ra mấy hiện tượng:

Ông phê phán lối học chuộng hình thức, học thuộc lòng từng câu chữ mà không hiểu nội dung. Kiểu học này cốt học để cầu danh lợi, học để có danh tiếng, được trọng vọng, được nhàn nhã, được nhiều lợi lộc.

Tác giả của lối học này làm cho ‘chúa trọng nịnh thần’, người trên, kẻ dưới đều thích sự chạy chọt, luồn cúi, không có thực chất dẫn đến cảnh ‘mất nước nhà tan’.

Tác giả đề cập đến yêu cầu và phương pháp học tập:

+Việc học cần phổ biến rộng khắp, mở thêm trường, mở rộng thành phần người học, tạo điều kiện thuận lợi cho người đi học.

+Việc học phải bắt đầu từ kiến thức cơ bản, tuần tự từ thấp đến cao.

+Học rộng nghĩ sâu, biết tóm lược những điều cơ bản, cốt yếu nhất.

+Học phải biết kết hợp với hành. Học không phải chỉ để biết mà còn để làm.

ở đây ta thấy La Sơn Phu Tử đã quan niệm rất đúng đắn về yêu cầu và phương pháp học. Nhung khi đề cập đến nội dung học cái gì thì tác giả cho hay:

Nhất định theo Chu Tử (một học giả thời Nam Tống - Trung Quốc). ‘Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến Tứ thư, Ngũ kinh, Chư sử... Điều này cho thấy nội dung học mà tác giả chỉ ra không có gì mới mẻ. Ông chưa vượt qua được những hạn chế của lịch sử, của thời đại cho nên vẫn còn tôn thờ sách Tàu đã có mấy nghìn năm... và chưa hướng tới khoa học.

Phần cuối Nguyễn Thiếp giãi bày lòng mình, ta thấy bài tấu bàn về phép học là lòng chân thật, chứ không nói vu vơ cho qua chuyện.

Thiệt tâm của tiên sinh đối với dân với nước, đối với sự nghiệp giáo dục đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng.

* Dặn dò: Ôn tập

*Rút kinh nghiệm:

Ngày tháng năm


-----------------------------------------------------------------------------------
Ngày soạn:

Ngày dạy:



CHUYÊN ĐỀ: VĂN NGHỊ LUẬN
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN:

A/ Phân biệt các dạng của Nghị luận xã hội


1. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí: Là một dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài được đưa ra trong đề là những vấn đề về tư tưởng ( lí tưởng, mục đích sống tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân hoặc tập thể), đạo lí ( những chuẩn mực luân lí, đạo đức của dân tộc ). Các vấn đề tiêu biểu thường gặp là :
– Nhận thức : Lí tưởng, mục đích sống.
– Tâm hồn, tích cách, đức tính : Lòng yêu nước, lòng biết ơn, lòng nhân ái; tính trung thực, tính dũng cảm, chăm chỉ cần cù; thái độ hòa nhã, khiêm tốn,; thói ba hoa, ích kỉ, vụ lợi,…
– Quan hệ gia đình : Tình mẫu tử, tình anh em.
– Quan hệ xã hội : Tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn.
– Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: văn hóa giao thông, ý thức vệ sinh môi trường, giữ trật tự nơi công cộng….

2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống


Nghị luận về một hiện tượng đời sống: Là một dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về một hiện tượng thường xảy ra, thường gặp trong đời sống và lấy hiện tượng đó để bàn bạc.
Các đề tài để bàn bạc gần gũi với đời sống và sát hợp trình độ nhận biết xã hội của học sinh như: Tấm gương người tốt việc tốt, thói hư tật xấu, tai nạn giao thông, hiện tượng ô nhiễm môi trường, hiện tượng suy thoái đạo đức, nhân cách, các tệ nạn xã hội, những tiêu cực trong thi cử …

3. Nghị luận về một vấn đề xã hội được phản ánh trong văn học


Nghị luận về một vấn đề xã hội được phản ánh trong văn học: Là dạng đề của Nghị luận xã hội. Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về lí tưởng sống ( qua nhân vật anh hùng ), vấn đề về số phận con người (qua nhân vật bất hạnh ), vấn đề về đạo đức, nhân cách, nhân phẩm ( nhân vật mang tính cách điển hình )…được phản ánh trong tác phẩm văn học.
Ở dạng đề này, là sự tích hợp giữa nghị luận đạo lí tư tưởng và nghị luận đời sống xã hội.

B. Một vài định hướng về phương pháp


1. Kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí:
a. Các dạng đề thường gặp:
– Dạng mệnh lệnh ( thường có các mệnh lệnh bắt đầu với lệnh từ “ hãy”: suy nghĩ, bình luận, giải thích, chứng minh, bác bỏ…)
– Dạng đề mở, không có mệnh lệnh ( thường chỉ cung cấp một câu tục ngữ, một khái niệm mang tư tưởng, đòi hỏi người làm bài phải suy nghĩ để làm sáng tỏ)
b. Cách làm:
*Tìm hiểu đề và tìm ý:
– Đọc kỹ đề và trả lời các câu hỏi : Đề thuộc loại nào? Đề nêu vấn đề tư tưởng , đạo lý gì ? Đề yêu cầu làm gì ? Thao tác lập luận để nghị luận ?
– Tìm ý : Phân tích để khẳng định (hoặc phủ định) tư tưởng đạo lí đó bằng những ý kiến nào ?
*Lập dàn ý:
Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn luận.
– Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh ngôn ( nếu có ).
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
Thân bài:
– Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng, đạo lí này).
– Nêu những biểu hiện của vấn đề trong thực tế đời sống (Vấn đề biểu hiện như thế nào ?).
– Phân tích, bàn luận, định hướng nhận thức và hành động (Vấn đề đúng hay sai, tích cực hay tiêu cực? Tại sao phải nhận thức hoặc hành động như thế ?).
– Khẳng định nhận thức và hành động ( Muốn được như thế ta phải làm gì ?).
– Đồng tình, biểu dương, ca ngợi ( Nếu là vấn đề tích cực ).
– Phê phán, chỉ trích, bác bỏ những suy nghĩ và hành động sai trái ( Nếu là vấn đề tiêu cực).
– Nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành động.
Kết bài:
– Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
* Lưu ý : Trong quá trình giải thích, phân tích, bàn luận vấn đề cần lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu) để chứng minh làm cho lý lẽ thêm phần xác đáng và thuyết phục.

Nghị luận vấn đề tư tưởng, đạo lí (vấn đề tích cực) 


Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề nghị luận được đưa ra bàn luận.
– Nêu luận đề: Dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh ngôn ( nếu có ).
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
Thân bài:
– Giải thích tư tưởng, đạo lí, phát ngôn cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng, đạo lí, này).
– Nêu những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí trong thực tế đời sống ( Vấn đề biểu hiện như thế nào ?).
– Phân tích, chứng minh, bàn luận làm sáng tỏ các khía cạnh biểu hiện của tư tưởng, đạo lí ( Vấn đề đúng hay sai? Có Tác động thế nào đối với đời sống xã hội?)
– Khẳng định vấn đề, định hướng nhận thức và hành động (Tại sao phải nhận thức và hành động như thế ?).
– Khẳng định nhận thức và hành động đúng đắn; đồng tình, ca ngợi, biểu dương và kêu gọi học tập làm theo ( Muốn phát huy, phổ biến vấn đề ta phải làm gì ?).
– Phê phán, bác bỏ những nhận thức và hành động sai trái, lệch lạc.

– Nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.


Kết bài: Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.

Nghị luận vấn đề tư tưởng, đại lí (vấn đề tiêu cực)

Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề nghị luận được đưa ra bàn luận.
– Nêu luận đề: Dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của phát ngôn ( nếu có ).
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
Thân bài:
– Giải thích tư tưởng, phát ngôn cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng này).
– Nêu những biểu hiện của tư tưởng, phát ngôn trong thực tế đời sống (Vấn đề biểu hiện như thế nào ?).
– Phân tích, chứng minh, bàn luận làm sáng tỏ các khía cạnh của tư tưởng ( Vấn đề đúng hay sai ? Có tác động thế nào đối với đời sống xã hội?).
– Phê phán, bác bỏ, phủ nhận vấn đề.

– Khẳng định nhận thức và hành động đúng đắn ( Muốn hạn chế, khắc phục, loại bỏ vấn đề ta phải làm gì ?).

– Ca ngợi, biểu dương những tấm gương tích cực và kêu gọi học tập làm theo .
– Nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành động cho bản thân.
Kết bài: Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.

2. Với kiểu bài về hiện tượng đời sống:


Các dạng đề:
– Có sự việc , hiện tượng tốt cần ca ngợi, biểu dương.
– Có sự việc , hiện tượng không tốt cần lưu ý , phê phán, nhắc nhở.
– Có đề cung cấp sẵn sự việc, hiện tượng dưới dạng một truyện kể, một mẩu tin, một phát ngôn để người làm bài làm cơ sở nghị luận; cũng có đề không cung cấp nội dung sẵn mà chỉ gọi tên vấn đề, người làm bài phải tự trình bày, mô tả sự việc , hiện tượng đó.
b. Cách làm bài:
* Tìm hiểu đề và tìm ý:
– Đọc kỹ đề để xác định : Đề thuộc kiểu loại nào? Đề nêu ra hiện tượng gì, sự việc gì? Đề yêu cầu làm gì ?
– Tìm ý : Phân tích để tìm hiểu ý nghĩa của sự việc, hiện tượng. Đánh giá hiện tượng ở những khía cạnh nào?
* Lập dàn ý:
Mở bài:
– Giới thiệu vấn đề được đưa ra bàn luận.
– Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu danh ngôn hoặc nội dung bao trùm của danh ngôn ( nếu có ).
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
Thân bài:
– Giải thích vấn đề
– Phân tích thực trạng/ biểu hiên/ hiện trạng vấn đề trong đời sống.
– Nếu nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên ( khách quan và chủ quan ).
– Đánh giá, nhận xét tác động ( tích cực và tiêu cực ) của vấn đề đối với đời sống xã hội.
– Đề xuất giải pháp phát huy, phổ biến ( nếu là hiện tượng tích cực ) hay khắc phục, ngăn chặn ( nếu là hiện tượng tiêu cực ).
Kết bài:

Tóm tắt, khái quát lại vấn đề đã nghị luận. Rút ra ý nghĩa, bài học từ hiện tượng đời sống đã nghị luận. Bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghị luận và định hướng phấn đấu.

* Lưu ý: Trong quá trình giải thích, phân tích, bàn luận vấn đề cần lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu) để chứng minh làm cho lý lẽ thêm phần xác đáng và thuyết phục. Dẫn chứng đưa ra phải tiêu biểu, chính xác, thuyết phục cao.

3. Nghị luận một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học:


* Xác định đề tài và phạm vi vấn đề:
– Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị luận xã hội chứ không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Khi làm bài cần tránh tình trạng làm lạc đề sang nghị luận văn học.
– Đề tài đưa ra trong đề là những vấn đề về lí tưởng sống ( qua nhân vật anh hùng ), vấn đề về số phận con người (qua nhân vật bất hạnh ), vấn đề về đạo đức, nhân cách, nhân phẩm ( nhân vật mang tính cách điển hình )…được phản ánh trong tác phẩm văn học.
– Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn đã học hoặc chưa được học.

* Về cấu trúc triển khai tổng quát:


– Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).
– Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phân tích, chứng minh, bàn luận,…) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện) và tác động của nó đối với bản thân và xã hội hiện tại.

* Dàn ý chung:


Mở bài:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề xã hội mà tác phẩm nêu ở đề bài đặt ra. Trích dẫn câu thơ, câu văn hoặc đoạn văn, đoạn thơ nếu đề bài có nêu ra.
Thân bài:
– Giải thích và rút ra vấn đề xã hội đã được đặt ra từ tác phẩm ( Phần này chỉ giải thích, phân tích một cách khái quát và cuối cùng phải chốt lại thành một luận đề ngắn gọn ).
– Chứng minh, bàn luận, khẳng định hoặc phản bác luận đề vừa rút ra ở phần trên (thực hiện trình tự các thao tác nghị luận tương tự như ở bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí hoặc nghị luận về hiện tượng đời sống như đã nêu ở trên).
– So sánh, bàn luận mở rộng vấn đề.
– Rút ra bài học giáo dục từ hiện tượng đời sống đã nghị luận. Bày tỏ thái độ của bản thân về vấn đề đã nghị luận và định hướng phấn đấu.
Kết bài:
Khẳng định chung về ý nghĩa xã hội mà vấn đề được nói đến trong tác phẩm văn học, khái quát thành thông điệp gửi đến tất cả mọi người .

II/ LUYỆN TẬP:





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương