Bồi dưỠng học sinh giỏi văN 8 NĂm họC 2016 2017


Chuyên đề: VĂN THUYẾT MINH (tiếp)



tải về 1.23 Mb.
trang8/10
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích1.23 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Chuyên đề: VĂN THUYẾT MINH (tiếp)

Tiến trình:

1. Ổn định tổ chức

2. Kiểm tra bài cũ: Xen trong giờ học

3. Bài mới

Khi làm bài văn TM, cần xác định các ý lớn, mỗi ý viết thành 1 đoạn văn.

Khi viết đoạn văn, cần trình bày rõ ý chủ đề của đoạn, tránh lẫn ý của đoạn văn khác.

Các ý trong đoạn văn cần sắp xếp theo thứ tự cấu tạo của sự vật, thứ tự nhận thức (từ tổng thể đến bộ phận, từ ngoài vào trong, từ xa đến gần), thứ tự diễn biến sự việc trong thời gian trước sau hay theo thứ tự chính phụ (cái chính nói trước, cái phụ nói sau).

I. Thuyết minh về 1 cách làm:

- Khi giới thiệu 1 phương pháp (1 cách làm) nào, người viết phải tìm hiểu, nắm chắc phương pháp, cách làm đó.

- Khi thuyết minh, cần trình bày rõ điều kiện, cách thức, trình tự,…làm ra sản phẩm và y/c chất lượng đối với sản phẩm đó.

- Lời văn ngắn gọn, rõ ràng.

II. Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh:

- Muốn viết bài giới thiệu về 1 danh lam thắng cảnh thì tốt nhất phải đến nơi thăm thú, quan sát hoặc tra cứu sách vở, hỏi han những người hiểu biết về những nơi ấy.

- Bài giới thiệu nên có bố cục đủ 3 phần. Lời giới thiệu ít nhiều có kèm theo miêu tả, bình luận thì sẽ hấp dẫn hơn; tuy nhiên bài giới thiệu phải dựa trên cơ sở kiến thức đáng tin cậy và có phương pháp thích hợp.

- Lời văn cần chính xác và biểu cảm.



III/ Ôn tập chung về VB thuyết minh:

Định nghĩa

- Là kiểu VB thông dụng trong mọi lĩnh vực ĐS nhằm cung cấp tri thức về đặc điểm, t/c, nguyên nhân, ý nghĩa ... của các hiện tượng, sự vật trong tự nhiên, XH bằng phương thức trình bày, GT.

Y/c

- Mọi tri thức đều phải khách quan, xác thực, đáng tin cậy.

Lời văn

- Rõ ràng, chặt chẽ, vừa đủ, dễ hiểu, giản dị, hấp dẫn.

Các kiểu

đề văn TM




- TM một đồ vật, động vật, thực vật.

- TM một hiện tượng TN, XH.

- TM một phương pháp (cách làm).

- TM một DLTC.

- TM một thể loại văn học.

- GT một danh nhân (một gương mặt nổi tiếng).

- GT một phong tục, tập quán DT, một lễ hội, Tết.


Các bước

XD VB


- HT, nghiên cứu tích lũy tri thức bằng nhiều biện pháp gián tiếp, trực tiếp để nắm vững và sâu sắc đối tượng.

- Lập dàn ý, bố cục, chọn VD, số liệu.

- Viết bài văn TM, sửa chữa, hoàn chỉnh.

- Trình bày.



Dàn ý chung của VB TM

1. MB: GT khái quát về đối tượng.

2. TB: Lần lượt GT từng mặt, từng phần, từng v/đ, đặc điểm của đối tượng. Nếu là TM một PP thì theo 3 bước:

- Chuẩn bị - Quá trình tiến hành - Kết quả, thành phẩm.

3. KB: Ý nghĩa của đối tượng hoặc bài học thực tế, XH, văn hóa, LS, nhân sinh.



Vtrò,Vtrí, ytố

- MT, TS, NL chiếm một tỉ lệ nhỏ và được sử dụng hợp lí. Tất cả nhằm làm nổi bật đối tượng cần TM.

B. Bài tập:

1/ Giới thiệu cách làm một món ăn mà em yêu thích.

2/ Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê em?

- Đình Lũng Xuyờn

- Đền Lảnh Giang

- Chùa Long Đọi Sơn

* HS: - Lập dàn ý

- Viết bài; Đọc bài; Nhận xét



4. Củng cố:

- Giáo viên chốt lại kiến thức trọng tâm



5. HDVN:

- Ôn tập kĩ các kiến thức trọng tâm.

- Xem lại & hoàn thiện tiếp các BT.

* Rút kinh nghiệm:

……………………………………………………………………………………

Ngày tháng năm

--------------------------------------------------------------------------------------

Ngày soạn:

Ngày dạy:



KIỂM TRA

Chuyên đề: VĂN THUYẾT MINH (tiếp)

Tiến trình:

1. Ổn định tổ chức

2. Kiểm tra bài cũ:

3. Bài mới



ĐỀ BÀI: Đọc bài ca dao sau rồi thực hiện yêu cầu bên dưới :

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Câu1. ( 1,25 điểm)

Bài ca dao trên đã lược bỏ một số dấu câu cần thiết .Em hãy chép lại bài ca dao, điền các dấu câu bị lược bỏ và cho biết công dụng của các dấu câu đó.



Câu 2. (1,25 điểm)

a.Xét về cấu tạo ngữ pháp, bài ca dao trên gồm mấy câu ?

b. Hãy phân tích ngữ pháp và cho biết đó là câu đơn hay câu ghép ? Nếu là câu ghép, em hãy chỉ rõ quan hệ giữa các vế câu trong câu ghép đó.

Câu 3. ( 2 điểm)

Trình bày cảm nhận của em về bài ca dao trên.



Câu 4. ( 5,5 điểm)

Bài ca dao được viết theo thể thơ nào? Hãy viết bài văn thuyết minh về thể thơ đó.



ĐÁP ÁN:

Câu 1. ( 1,25 diểm)

a. Học sinh điền đúng, đủ các dấu câu cần thiết cho 0,5 điểm

Anh đi, anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương,

Nhớ ai dãi nắng dầm sương,

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

b. Công dụng các dấu câu :


Dấu câu

Công dụng

Dấu phẩy 1

Phân tách các vế trong một câu ghép 0,25 điểm

Dấu phẩy 2,3,4,5

Phân tách các thành phần có cùng chức vụ ngữ pháp trong câu. ( Vị ngữ) 0,25 điểm

Dấu chấm

Kết thúc câu trần thuật 0,25 điểm

Câu 2. ( 1,25 điểm)

a.Xét về cấu tạo ngữ pháp, bài ca dao trên gồm 1 câu. ( 0,25 điểm)

b. Phân tích cấu tạo ngữ pháp : ( 0,5 điểm )

Anh / đi, anh / nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương,

CN1 VN1 CN2 VN2



nhớ ai dãi nắng dầm sương, nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

  • Câu trên là câu ghép. ( 0,25 điểm)

  • Quan hệ giữa hai vế câu là quan hệ nối tiếp. ( 0,25 điểm)



Câu 3. ( 2 điểm)

a. Yêu cầu về hình thức : HS phải viết thành bài có bố cục Mở – Thân – Kết, diễn đạt rõ ràng, lưu loát. ( 0,5 điểm)

* Lưu ý : Nếu HS không viết thành bài thì không cho điểm này.

b. Yêu cầu về nội dung : Cần chỉ ra và phân tích tác dụng của những dấu hiệu nghệ thuật có trong bài ca dao

* Các dấu hiệu nghệ thuật: ( 0,5 điểm)

- Điệp ngữ “nhớ” nhắc lại 5 lần

- Liệt kê

* Tác dụng : ( 1 điểm) Khắc hoạ nỗi nhớ da diết của người xa quê.

- Anh đi, đi vì việc lớn, vì sự nghiệp chung, cho nên nỗi nhớ đầu tiên anh dành cho quê nhà. Đó là quê hương, chiếc nôi cuộc đời của mỗi con người, nơi ta cất tiếng khóc chào đời, nơi tất cả tuổi thơ ta lớn lên từ đó. Nơi ấy có bát canh rau muống, có món cà dầm tương . Những món ăn hết sức dân dã của quê nhà đã nuôi anh khôn lớn, trưởng thành…Và cái hương vị quê hương ấy đã hoà vào máu thịt, hoà vào hơi thở của anh.

- Có sản phẩm ắt có bàn tay người trồng tỉa, bón chăm, dãi dầu một nắng hai sương. Có lẽ vì thế, từ nỗi nhớ những món ăn dân dã, món ăn được tạo ra từ bàn tay và giọt mồ hôi của mẹ cha, của những người thân thiết anh lại nhớ tới con người quê hương. Ban đầu là nỗi nhớ chung chung.Thế nhưng đến cuối bài ca, nỗi nhớ ấy hướng vào một con người cụ thể hơn : Cô thôn nữ dịu dàng, duyên dáng trong công việc lao động : tát nước.

- Điệp từ “nhớ”, phép liệt kê và thể thơ lục bát nhẹ nhàng đã khắc hoạ nỗi nhớ sâu xa, da diết , dồn dập của người xa quê. Nỗi nhớ nọ bao trùm nỗi nhớ kia, hoá thành những lời dặn dò, những lời tâm sự, giúp người ở nhà giữ vững niềm tin, giúp người đi xa có thêm sức mạnh. Bài ca dao đã gợi tình yêu quê hương đất nước trong trái tim mỗi người.

Câu 4 : ( 5,5 điểm)

A. Bài ca dao được viết theo thể thơ lục bát . ( 0,25 điểm)

B. Bài văn thuyết minh cần đảm bảo những yêu cầu sau

I. Yêu cầu chung :

- Kiểu bài : Thuyết minh ( nhóm bài thuyết minh về một thể loại văn học).

- Đối tượng : thể thơ lục bát

II. Yêu cầu cụ thể :

1. Mở bài : Giới thiệu khái quát về thể thơ lục bát. ( 0,5 điểm)

2. Thân bài : Cần đảm bảo những ý cơ bản sau :

a. Nguồn gốc : (0,5 điểm) Thể thơ lục bát là thể thơ truyền thống của dân tộc, do chính cha ông chúng ta sáng tác. Trước kia, hầu hết các bài ca dao đều được sáng tác bằng thể thơ này.Sau này, lục bát được hoàn thiện dần và đỉnh cao là “Truyện Kiều” của Nguyễn Du với 3254 câu lục bát.

b. Đặc điểm :

* Nhận diện câu chữ : (0,5 điểm) Gọi là lục bát căn cứ vào số tiếng trong mỗi câu. Thơ lục bát tồn tại thành từng cặp : câu trên 6 tiếng được gọi là câu lục, câu dưới 8 tiếng được gọi là câu bát. Thơ LB không hạn định về số câu trong một bài . Như thế, một bài lục bát có thể rất dài nhưng cũng có khi chỉ là một cặp câu LB.

* Cách gieo vần: ( 0,5 điểm)

- Tiếng thứ 6 câu lục vần với tiềng thứ 6 câu bát, tiếng thứ 8 câu bát lại vần với tiếng thứ 6 câu lục tiếp theo. Cứ thế luân phiên nhau cho đến hết bài thơ.

* Luật B-T : ( 0,75 điểm)

- Các tiếng 1,3,5,7 không bắt buộc phải theo luật B-T

- Các tiếng 2,6,8 trong dòng thơ thường là thanh B, còn tiếng thứ 4 là thanh T.

- Luật trầm – bổng : Trong câu bát, nếu tiếng thứ sáu là bổng ( thanh ngang) thì tiếng thứ 8 là trầm (thanh huyền) và ngược lại.



*Đối : ( 0,25 điểm) Đối trong thơ lục bát là tiểu đối ( đối trong một dòng thơ)

* Nhịp điệu : ( 0,25 điểm) Thơ LB chủ yếu ngắt nhịp chẵn : 4/4, 2/2/2, 2/4, 4/2…Tuy nhiên cách ngắt nhịp này cũng rất linh hoạt, có khi ngắt nhịp lẻ 3/3.

* Lục bát biến thể : ( 0,5 điểm)

- Số chữ trong một câu tăng lên hoặc giảm đi ( thường là tăng lên).

- Tiếng cuối là thanh T.

- Xê dịch trong cách hiệp vần tạo nên sự thay đổi luật B-T : Tiếng thứ 4 là thanh B

c. Ưu điểm : ( 0,5 điểm)

- Âm hưởng của lục bát khi thì thiết tha sâu lắng, khi thì dữ dội, dồn dập. Vì thế , thể thơ này có thể diễn tả được mọi cung bậc tình cảm của con người.

- Dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng ngườido đó cũng dễ sáng tác hơn các thể thơ khác

* Lưu ý : Khi thuyết minh, bắt buộc HS phải đưa ra ví dụ minh hoạ. Nếu bài viết không có ví dụ thì không cho quá 1/2 số điểm.

4. Củng cố:

- Giáo viên thu bài



5. HDVN:

- Ôn tập kĩ các kiến thức trọng tâm.

- Xem lại & hoàn thiện tiếp các BT.

* Rút kinh nghiệm:

……………………………………………………………………………………

Ngày tháng năm

Ngày soạn:

Ngày dạy:

Chuyên đề: Thơ Việt Nam 1900-1945

A. Mục tiêu

1. Kiến thức:

1.1. Kiến thức trọng tâm

- Lịch sử phong trào Thơ Mới:

+ Hoàn cảnh lịch sử phát triển phong trào Thơ mới.

+ Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và Thơ mới.

+ Những thời kì phát triển và suy thoái của phong trào “ Thơ mới”.

-Giới thiệu được tác giả; thuộc lòng các bài thơ vànội dung, nghệ thuật đặc sắc của từng bài được học trong chương trình văn 8 .

Ngoài ra GV cần cung cấp thêm cho HS các bài thơ tiêu biểu khác trong phong trào Thơ mới để HS vận dụng khi làm các đề bài tổng hợp

- Hiểu, cảm nhận được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong những bài thơ của một số nhà yêu nước và tiến bộ và cách mạng Việt Nam 1900-1945.

- Nắm vững hiểu biết về tác giả Tố Hữu và Hồ Chí Minh .

- Nắm vững những hiểu biết về vẻ đẹp tâm hồn và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

1.2. Kiến thức mở rộng, nâng cao.

- Biết một số đổi mới về thể loại, đề tài, cảm hứng, sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của thơ Việt Nam 1900-1945

2. Kỹ năng

- Rèn kĩ năng cảm thụ văn học.

-Hình thành kĩ năng so sánh đối chiếu trong khi phân tích, cảm nhận thơ.

-Kĩ năng cảm thụ văn chương thông qua ngôn từ và hình ảnh thơ.

- Biết phân tích hiệu quả của những biện pháp nghệ thuật trong việc diễn tả nội dung

- Vận dụng các kiểu văn bản đã học để viết được bài luận văn theo kiểu văn bản Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Thuyết minh, Nghị luận. Vận dụng kết hợp các kiểu văn bản (phương thức biểu đạt) trong một bài văn.

- Vân dụng các kiến thức đã học để giải quyết một yêu cầu nào đó của đề bài.

- Kĩ năng lập ý, sắp xếp ý, kĩ năng xây dựng hệ thống luận điểm, kĩ năng lập luận, trình bày bố cục.

- Kĩ năng viết phần mở bài, kết bài hay, kĩ năng dùng từ ngữ độc đáo gợi cảm, giàu hình ảnh, kĩ năng sử dụng đa dạng các kiểu câu.

- Kỹ năng liên hệ, so sánh, mở rộng trong khi làm bài.

- Kỹ năng cảm thụ một tác phẩm thông qua các ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm

- Kỹ năng xác lập luận điểm , trình bày luận điểm , luận chứng, luận cứ .

- Kỹ năng làm các dạng đề , đặc biệt là đề tổng hợp …

- Cũng như các chủ đề khác GV cần rèn cho HS kỹ năng phân tích , nâng cao , tổng hợp .



3. Các dạng bài:

- Trình bày cảm nhận về những câu thơ đặc sắc băng một đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp. Trong đoạn văn có kết hợp sử dụng các kiến thức Tiếng Việt

- Phân tích hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật trong thơ.

- Thuyết minh về một thể thơ.

- Viết bài nghị luận tổng hợp để làm sáng tỏ những giá trị của các bài thơ mới như: lòng yêu nước thầm kín, sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống; tình yêu quê hương .

- Thuyết minh về tác giả.

- Cảm thụ văn học có lồng ghép so sánh đối chiếu.

- Viết bài nghị luận tổng hợplàm sáng tỏ những phẩm chất đáng quý của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh và Tố Hữu

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh: ôn tập

C. Thời lượng: 6 buổi

C. Tiến trình
Phong trào thơ mới

- Khoảng sau năm 1930, một loạt các thi sĩ trẻ xuất thân Tây học lên án thơ cũ là khuôn sáo, trói buộc. Họ đòi hỏi đổi mới thi ca và sáng tác những bài thơ không hạn định về số câu, chữ -> Thơ mới.

- Phong trào Thơ mới ra đời và phát triển mạnh mẽ rồi đi vào bế tắc chưa đầy 15 năm. Thơ mới chủ yếu là thơ tự do7 hoặc 8 tiếng. So với thơ cũ, nhất là thơ Đường luật, thì Thơ mới tự do, phóng túng, linh hoạt hơn, không còn bị ràng buôc bởi những quy tắc nghiệt ngã của thi pháp thơ cổ điển.

Hai chữ Thơ mới trở thành tên gọi của một phong trào thơ (còn gọi là thơ lãng mạn), gắn liền với tên tuổi của thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Xuân Diệu...



  1. Lịch sử phong trào Thơ mới (1932-1945)

1. Hoàn cảnh lịch sử làm xuất hiện phong trào Thơ mới

- Sự xuất hiện của giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị với những tư tưởng, tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùng sự giao lưu văn hóa Đông Tây là nguyên nhân chính làm phong trào Thơ mới ra đời

- Thơ mới lãng mạn xuất hiện từ trước 1930, thi sĩ Tản Đà chính là người dạo khúc nhạc đầu tiên cho cuộc hòa tấu lãng mạn sau này.

Thơ mới là phong trào thơ ca lãng mạn mang ý thức hệ tư sản và quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật



2. Cuộc đấu tranh giữa “thơ cũ” và “Thơ mới”

- Thơ mới chuyển dần từ Nam ra Bắc, lớn tiếng công kích thơ cũ sáo mòn, công thức, hô hào bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ...Thơ mới lần lượt dăng trên các tạp chí ở Hà Nội

năm 1933, Lưu Trọng Lư cho đăng một loạt thơ mới của mình trong tập “ Người sơn nhân”. Ttrong bài Một cuộc cải cách về thơ ca, Lưu Trọng Lư gọi những người làm thơ cũ là “Thợ thơ’. Họ cũng như những người thợ mộc chỉ lo chạm chìm, chạm nổi, trổ rồng, trổ phượng... nào hay khi chạm trổ xong, chưa biết dùng vào việc gì thì rồng phượng đã bay về trời hết.

Lưu Trọng Lư đề nghị các nhà thơ phải mau đem những ý tưởng mới những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, tình cảm cũ.

- Năm1934-1936 hàng loạt tác phẩm ra đời

- Năm 1936, có thể coi thơ mới thắng thế trong cuộc tranh luận về thể loại

- Từ 1936, tiếng tranh cãi yếu dần, Thơ mới chính thức được dạy trong các trờng học, đã chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong các tạp chí từ Nam ra Bắc

3. Các thời kỳ phát triển và suy thoái của Thơ mới

a. Từ 1932- 1939

- Lớp nhà thơ đầu tiên: Thế Lữ, Lu Trọng L, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên....

- Lớp nhà thơ xuất hiện sau: Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, Hàn mặc Tử, Chế Lan Viên, Anh Thơ, Nguyễn Bính,...

b.Từ 1940-1945

Do điều kiện lịch sử, văn chương tự lực văn đoàn cũng như thơ mới sa vào bế tắc, cùng quẫn, xuất hiện nhiều khuynh hướng tiêu cực.



II Một số nhàThơ mới tiêu biểu

1. THẾ LỮ

a. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca

(SGK)


Nhà thơ chọn bút danh Thế Lữ ngoài ý nghĩa để chơi chữ còn ngụ ý tự nhận mình là ngời khách tiên của trần thế, chỉ biết đi tìm cái đẹp:

Tôi là ngời bộ hành phiêu lãng

Đờng trần gian xuôi ngợc để vui chơi...

Tôi chỉ là ngời khách tình si

Ham cái đẹp muôn hình muôn vẻ

b. Đôi nét về hồn thơ Thế Lữ

- Thế Lữ không bàn về Thơ mới, không bênh vực Thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ lặng lẽ, điềm nhiên bớc những bớc vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xa phải tan rã.

- Thơ Thế Lữ về thể cách mới không chút rụt rè, mới từ số câu, số chữ, cách bỏ vần cho đến tiết tấu âm thanh.

- Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò giữa hai nguồn thi cảm;: nẻo về quá khứ mơ màng, nẻo tới tương lai và thực tế...Sau một hồi mơ mộng vẩn vơ, thơ Thê Lư như một luồng gió lạ xui người ta biết say sưa với cái xán lạn của cuộc đời thực tế, biết cười cùng hoa nở chim kêu.

- Thơ ông mang nặng tâm sự thời thế đất nước.

-> Thế Lữ không những là người cắm ngọn cờ thắng lợi cho phong trào Thơ mới mà còn là nhà thơ tiêu biểu nhất cho phong trào Thơ mới thời kì đầu.



c. Tác phẩm Nhớ rừng

- Là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Thế Lữ và là tác phẩm mở đường cho sự thắng lợi của Thơ mới



Nhớ rừng là lời con hổ trong vờn bách thú. Tác giả mượn lời con hổ để nói lên tâm sự u uất của lớp thanh niên thế hệ 1930- đó là những thanh niên trí thức Tây học vừa thức tỉnh ý thức cá nhân cảm thấy bất hòa sâu sắc với thực tại xã hội tù túng, ngột ngạt đương thời. Họ khao khát cái tôi cá nhân được khẳng định và phát triển trong một cuộc đời rộng lớn, tự do. Đó cũng đồng thời là tâm sự chung của người dân mất nước bấy giờ. Vì vậy, Nhớrừng đã có được sự đồng cảm đặc biệt rộng rãi, có tiếng vang lớn. Có thể coi Nhớ rừng như một áng văn thơ yêu nước tiếp nối mạch thơ trữ tình yêu nước hợp pháp đầu thế kỷ XX.

- Bài thơ tràn trề cảm hứng lãng mạn: thân tù hãm mà hồn vẫn sôi sục, khao khát tự do. Cảm thấy bất hòa sâu sắc với thực tại tầm thường tù túng nhưng không có cách gì thoát ra được, nó chỉ biết buông mình trong mộng tưởng để thoát ly hẳn cái thực tại đó, tìm đến một thế giới khoáng đạt, mạnh mẽ, phi thường.



d. Tham khảo một số bài thơ của Thế Lữ

-Tiếng trúc tuyệt vời



- Tiếng sáo thiên thai

- Bên sông đưa khách

- Cây đàn muôn điệu

* Bài tập: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối

Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn

Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?

Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,

Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

Đâu những chiều lênh lánh máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Trích “ Nhớ rừng ” – Thế Lữ

a. Vì sao nhà thơ Thế Lữ lại mượn lời con hổ sa cơ bị nhốt trong vườn bách thú để làm tiếng nói trữ tình? Những câu nghi vấn trong đoạn thơ trên được dùng để làm gì?

b. Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật điệp ngữ trong đoạn thơ trên?

c. Viết đoạn văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên.



Gợi ý

a.

- Lời con hổ sa cơ thích hợp để nói lên một cách đầy đủ, sâu sắc tâm sự u uất của một lớp người lúc bấy giờ.



- Những câu nghi vấn trong đoạn trích được dùng để bộc lộ tình cảm, cảm xúc… của chúa sơn lâm.

b. Tác dụng của biện pháp nghệ thuật điệp ngữ trong đoạn thơ: diễn tả thấm thía nỗi nhớ tiếc khôn nguôi của con hổ đối với những cảnh không gian huy hoàng không bao giờ còn thấy nữa.

c,Học sinh cảm nhận được :

- Đoạn thơ là khổ thơ thứ ba trong bài thơ “ Nhớ rừng ” của Thế lữ ( đặt đoạn thơ vào bài thơ, vào thời điểm ra đời của bài thơ để cảm nhận )

- Đoạn thơ viết theo thể thơ 8 chữ, gieo vần liền, vần bằng, vần trắc hoán vị đều đặn, làm cho đoạn thơ rất giàu tính nhạc. Bằng những câu thơ, hình ảnh thơ giàu hình ảnh, rất sáng tạo, gợi cảm, gợi tả, gợi hình, gợi liên tưởng ... đoạn thơ như một bức tranh tứ bình đẹp lộng lẫy. Bốn cảnh, cảnh nào cũng có núi rừng hùng vĩ, tráng lệ. Đó là cảnh “ những đêm vàng bên bờ suối ” hết sức diễm ảo với hình ảnh con hổ như một thi sĩ mơ màng “ đứng uống ánh trăng tan ” đầy lãng mạn. Đó là cảnh “ ngày mưa chuyển bốn phương ngàn ” con hổ mang dáng dấp đế vương đang lặng ngắm giang san đổi mới. Cảnh “ bình minh cây xanh nắng gội ” chan hoà ánh sáng rộn rã tiếng chim ca hát bên giấc ngủ của chúa sơn lâm. Và cảnh “ chiều lênh láng máu sau rừng ” thật dữ dội, con hổ đang đợi mặt trời “ chết ” để chiếm lấy riêng phần bí mật ” trong vũ trụ. ở cảnh nào núi rừng cũng mang một vẻ đẹp vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, và con hổ nổi bật lên với tư thế lẫm liệt, kiêu hùng của vị chúa tể sơn lâm.

- Những câu hỏi tu từ, những điệp ngữ cứ lặp đi lặp lại cho thấy sự nuối tiếc khôn nguôi. Những cảnh huy hoàng, oai phong lẫm liệt chỉ là của dĩ vãng, hiện ra trong nỗi nhớ da diết đến đau đớn . Sự nuối tiếc ấy gắn liền với tâm trạng tuyệt vọng qua lời than u uất “ Than ôi ! Thời oanh liệt nay còn đâu ”

- Lời than u uất của con hổ bị giam cầm trong cũi sắt khao khát tự do, bất hoà với thực tại, nuối tiếc quá khứ oai hùng cũng chính là tâm trạng của nhà thơ lãng mạn, đồng thời cũng là tâm trạng chung của người Việt Nam lúc bấy giờ. Qua tâm sự của chúa sơn lâm, tác giả đã khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của người dân mất nước.

* Dặn dò


Tìm hiểu tiếp về Vũ Đình Liên và bài thơ" Ông đồ"

* Rút kinh nghiệm:

......................................................................................................................................
Ngày tháng năm

----------------------------------------------------------------------

Ngày soan:

Ngày dạy:

Chuyên đề: Thơ Việt Nam 1900-1945

A. Mục tiêu

1. Kiến thức:

1.1. Kiến thức trọng tâm

- Lịch sử phong trào Thơ Mới:

+ Hoàn cảnh lịch sử phát triển phong trào Thơ mới.

+ Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và Thơ mới.

+ Những thời kì phát triển và suy thoái của phong trào “ Thơ mới”.

-Giới thiệu được tác giả; thuộc lòng các bài thơ vànội dung, nghệ thuật đặc sắc của từng bài được học trong chương trình văn 8 .

Ngoài ra GV cần cung cấp thêm cho HS các bài thơ tiêu biểu khác trong phong trào Thơ mới để HS vận dụng khi làm các đề bài tổng hợp

- Hiểu, cảm nhận được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong những bài thơ của một số nhà yêu nước và tiến bộ và cách mạng Việt Nam 1900-1945.

- Nắm vững hiểu biết về tác giả Tố Hữu và Hồ Chí Minh .

- Nắm vững những hiểu biết về vẻ đẹp tâm hồn và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

1.2. Kiến thức mở rộng, nâng cao.

- Biết một số đổi mới về thể loại, đề tài, cảm hứng, sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của thơ Việt Nam 1900-1945

2. Kỹ năng

- Rèn kĩ năng cảm thụ văn học.

-Hình thành kĩ năng so sánh đối chiếu trong khi phân tích, cảm nhận thơ.

-Kĩ năng cảm thụ văn chương thông qua ngôn từ và hình ảnh thơ.

- Biết phân tích hiệu quả của những biện pháp nghệ thuật trong việc diễn tả nội dung

- Vận dụng các kiểu văn bản đã học để viết được bài luận văn theo kiểu văn bản Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Thuyết minh, Nghị luận. Vận dụng kết hợp các kiểu văn bản (phương thức biểu đạt) trong một bài văn.

- Vân dụng các kiến thức đã học để giải quyết một yêu cầu nào đó của đề bài.

- Kĩ năng lập ý, sắp xếp ý, kĩ năng xây dựng hệ thống luận điểm, kĩ năng lập luận, trình bày bố cục.

- Kĩ năng viết phần mở bài, kết bài hay, kĩ năng dùng từ ngữ độc đáo gợi cảm, giàu hình ảnh, kĩ năng sử dụng đa dạng các kiểu câu.

- Kỹ năng liên hệ, so sánh, mở rộng trong khi làm bài.

- Kỹ năng cảm thụ một tác phẩm thông qua các ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm

- Kỹ năng xác lập luận điểm , trình bày luận điểm , luận chứng, luận cứ .

- Kỹ năng làm các dạng đề , đặc biệt là đề tổng hợp …

- Cũng như các chủ đề khác GV cần rèn cho HS kỹ năng phân tích , nâng cao , tổng hợp .



3. Các dạng bài:

- Trình bày cảm nhận về những câu thơ đặc sắc băng một đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp. Trong đoạn văn có kết hợp sử dụng các kiến thức Tiếng Việt

- Phân tích hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật trong thơ.

- Thuyết minh về một thể thơ.

- Viết bài nghị luận tổng hợp để làm sáng tỏ những giá trị của các bài thơ mới như: lòng yêu nước thầm kín, sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống; tình yêu quê hương .

- Thuyết minh về tác giả.

- Cảm thụ văn học có lồng ghép so sánh đối chiếu.

- Viết bài nghị luận tổng hợplàm sáng tỏ những phẩm chất đáng quý của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh và Tố Hữu

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh: ôn tập

C. Thời lượng: 6 buổi

C. Tiến trình

VŨ ĐÌNH LIÊN VÀ BÀI THƠ" ÔNG ĐỒ"

Sinh ngày 15 tháng 10 năm Quý Sửu(1913) ở Hà Nội

" Có nhưng nhà thơ không bao giờ có thể làm được một câu thơ. Những người ấy hẳn là những người đáng thương nhất trong thiên hạ. Sao người ta lại thương hại những kẻ bị tình phụ nuôi một giấc mộng ái ân không thành, mà không ai thương lấy những kẻ mang một mối tình thơ u uất chịu để tan tành giấc mộng lớn nhất và quý nhất ở đời: giấc mộng thơ?

Hôm nay trong khi viết quyển sách này, một quyển sách họ sẽ xem như một sự mỉa mai đau đớn, thơ Vũ Đình Liên bỗng nhắc tôi nghĩ đến người xấu số kia.

Tôi có cần phải nói ngay rằng Vũ Đình Liên không phải là một người xấu số? Trong làng Thơ mới, Vũ Đình Liên là một người cũ. Từ khi phong trào Thơ mới ra đời, ta đã tháy thơ Vũ Đình Liên trên các báo. người cũng ca ngợi tình yêu như hầu hết các nhà thơ mới bây giờ. Nhưng hai nguồn thi cảm chính của người là lòng thương người và hoài cổ. Người thương những kẻ thân tàn ma dại, người nhớ nhưng cảnh cũ người xưa. Có một lần hai nguồn cảm hứng ấy đã gặp nhau và đã để lại cho chúng ta một bài thơ kiệt tác: Ông đồ. Ông đồ mỗi năm đến mùa hoa đào, lại ngồi viết thuê bên đường phố " ông chính là cái di tích tiều tụy, đáng thương của một thời tàn".

It khi có một bài thơ bình dị mà cảm động như vậy. Tôi tưởng như đọc lời sám hối của cả bọn thanh niên chúng ta đối với lớp người đương đi về cõi chết. Đã lâu lắm chúng ta chỉ xúm nhau lại chế giễu họ quê mùa, mạt sát họ hủ hậu. Cái cảnh thương tâm của nền học Nho lúc mạt vận chúng ta vô tình không lưu ý. Trong bọn chúng ta vẫn có một hai người ca tụng đạo Nho và các nhà Nho. Nhưng chế giễu mạt sát không nên, mà ca tụng cũng không được. Phần đông các nhà Nho còn sót lại chỉ đáng thương. Không nghiên cứu, không lý luận Vũ Đình Liên với một tấm lòng dễ cảm nhận đã nhận ra sự thực ấy và gián tiếp chỉ cho ta cái thái độ hợp lý hơn cả đối với các bậc phụ huynh của ta. Bài thơ của người có thể xem là một nghĩa cử.

Theo đuổi một nghề văn mà làm được một bài thơ như thế cũng đủ. Nghĩa là đủ để lưu danh, đủ với ngời đời. Còn riêng đối với thi nhân thực chưa đủ. Tôi thấy Vũ Đình Liên còn bao điều muốn nói, cần nói mà nghẹn ngào không nói được. "Tôi bao giờ - Lời Vũ Đình Liên - cũng có cái cảm tưởng là không đạt được ý thơ của mình. Cũng vì không tin thơ tôi có một chút giá trị nên đã lâu tôi không làm thơ nữa" Vũ Đình Liên đã hạ mình, chúng ta đều thấy. Nhưng chúng ta cũng thấy trong lời nói của người một nỗi đau lòng kín đáo. Ngời đau lòng thấy ý thơ không thoát được lời thơ như linh hồn bị giam trong nhà tù xác thịt. Có phải vì thế mà hồi 1937, trước khi từ giã thi đàn, người đã gửi lại đôi vần thơ u uất:

Nặng mang mãi khối hình hài ô nhục.

Tâm hồn ta đã nhọc tự lâu rồi.

Bao nhiêu thăm thẳm trên bầu trời;

Bao bóng tối trong lòng ta vẩn đục!

Nghĩ cũng tức! Từ hồi 1935 tả cảnh thu, Vũ Đình Liên viết:



Làn gió heo may xưa hiu hắt,

Lạnh lùng chẳng biết tiễn đưa ai!

Hai câu thơ cũng sạch sẽ, dễ thương. Nhưng làm sao người ta còn nhớ được Vũ Đình Liên khi người ta đã đọc, bốn năm sau mấy câu thơ Huy Cận cùng một tứ:

Ôi! nắng vàng sao mà nhớ nhung!

Có ai đàn lẻ để tơ chùng?

Có ai tiễn biệt nơi xa ấy

Xui bước chân đây cũng ngại ngùng …..

Cũng may những câu thơ hoài cổ của Huy Cận:



Bờ tre rung động trống chầu,

Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan

Đêm mơ lay ánh trăng tàn,

Hồn xa gửi tiếng thời gian, trống dồn.

Những câu thơ tình nhẹ nhàng , tứ xa vắng cha đến nỗi làm ta quên cái lòng hoài cổ ám thầm, u tịch của Vũ Đình Liên:



Lòng ta là những hàng thành quách cũ,

Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa.

* Bài thơ: Ông đồ

Những nét chính về nghệ thuật và nội dung:

1. Nghệ thuật:

- Thể thơ ngũ ngôn được sử dụng , khai thác có hiệu quả nghệ thuật cao

- Kết cấu bài thơ giản dị mà chặt chặt chẽ, có nghệ thuật

- Ngôn ngữ trong sáng, bình dị , đồng thời hàm súc

2. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình qua hai câu thơ:

Lá vàng rơi trên giấy

Ngoài giời mưa bụi bay

Có thể nói đây là hai câu thơ đặc sắc nhất của bài thơ. Hai câu là sự minh họa rất chuẩn cho các khái niệm mượn cảnh ngụ tình và ý tại ngôn ngoại trong thơ trữ tình. Lá vàng rơi vốn đã gợi sự tàn tạ, buồn bã; đây lại là lá vàng rơi trên những tờ giấy dành viết câu đối của ông đồ. Vì ông ế khách, tờ giấy cứ phơi ra đấy hứng lá vàng rơi và ông cũng bỏ mặc...!Ngoài giời mưa bụi bay, câu thơ tả cảnh hay tả lòng người? Chẳng phải mưa to gió lớn, cũng chẳng phải mưa rả rích dầm dề sầu não ghê gớm, chỉ là mưa bụi bay rất nhẹ, vậy sao mà ảm đạm,mà lạnh lẽo tới buốt giá. Chính là mưa trong lòng người chứ đâu còn là mưa ngoài trơi. Dường như cả trời đât cũng ảm đạm, buồn bã cùng với ông đồ.



3. Tâm tư của tác giả qua bài thơ:

Trong thơ trữ tình, cảm xúc trữ tình mới là nội dung cốt lõi của tác phẩm; nếu có tự sự, miêu tả thì cũng vẫn hướng tới việc bộc lộ cảm xúc, tâm trạng nhà thơ, vẫn đâm sắc thái biểu cảm. Trong bài thơ" Ông đồ", qua sự tương phản giữa hai cảnh tượng cùng miêu tả ông đồ ngồi viết câu đối ngày Tết, có thể thấy rõ tâm tư tình cảm của nhà thơ. Tâm tư ấy biểu lộ kín đáo qua những chi tiết miêu tả, có khi được nhà thơ trực tiếp phát biểu( như hai câu kết) có khi chỉ toát ra qua giọng điệu ngậm ngùi của bài thơ. Đó là niềm cảm thương chân thành đối với tình cảnh những ông đồ đang tàn tạ trước sự đổi thay của cuộc đời; đồng thời đó còn là niềm nhớ nhung, luyến tiếc những cảnh cũ, người xưa nay đã vắng bóng. Sự cảm thương chân thành trước những số phận bị bất hạnh thì rõ ràng là tình cảm nhân đạo đáng quý, nhưng hoài cổ( nhớ tiếc cái cũ) cũng không thể chỉ coi là tiêu cực. Đặc biệt, ở bài thơ này, cái xưa cũ không còn nữa mà nhà thơ ngậm ngùi nhớ tiếc đó đã từng gắn bó thân thiết, dường như không thể thiếu đối với đời sống Việt Nam hàng trăm năm, lại mang một vẻ đẹp văn hóa và gắn với những giá trị tinh thần truyền thống, thì niềm hoài cổ đó có một ý nghĩa nhân văn và thể hiện một tình thần dân tộc đáng trân trọng



TẾ HANH VÀ BÀI THƠ QUÊ HƯƠNG

Vào bài: Tế Hanh là nhà thơ có mặt trong phong trào Thơ Mới chặng cuối. Thơ Tế Hanh là một hồn thơ lãng mạn. Tế Hanh được biết đến nhiều nhất như một nhà thơ của quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương. Cái làng chài ven biển có dòng sông bao quanh, nơi Tế Hanh được sinh ra, luôn đau đáu trong nỗi nhớ thương của Tế Hanh, gợi những nguồn cảm hứng vô tận cho thơ ông, giúp ông viết nên những vần thơ hay nhất, đẹp nhất. Quê hương là một trong những vần thơ như vậy.
I. Tìm hiểu chung 
- Tế Hanh sinh năm 1921, quê Quảng Ngãi.
- Tế Hanh được mệnh danh là nhà thơ của quê hương.
- Bài thơ Quê hương được in trong tập Hoa niên 1945.
II. Phân tích
1. Tám câu thơ đầu: Cảnh dân chài bơi thuyền đi đánh cá.
- Đoàn thuyền ra khơi trong một buổi bình minh đẹp, khoáng đạt: bầu trời cao rộng, trong trẻo được điểm bởi những tia nắng hồng rực rỡ. Chỉ một câu thơ: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, tác giả đã vẽ được một không gian rộng lớn, vô tận. 
- Nổi bật giữa không gian êm ả ấy, đoàn thuyền băng mình ra khơi với khí thế dũng mãnh của một con tuấn mã. Hình ảnh so sánh và một loạt các động từ mạnh đã làm toát lên sức sống mạnh mẽ và vẻ đẹp hùng tráng, bất ngờ của những con người lao động.
- Hình ảnh cánh buồm căng gió vốn mang một vẻ đẹp lãng mạn, có thể quan sát được, bất ngờ được so sánh với hồn làng là những gì lớn lao, thiêng liêng, phi vật thể. Sự so sánh này không làm cho cánh buồm được miêu tả cụ thể hơn nhưng nó đã gợi nên một vẻ đẹp mới, lớn lao, thiêng liêng, vừa thơ mộng, vừa hùng tráng. Biểu hiện linh hồn làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng no gió biển khơi là một sáng tạo độc đáo của Tế Hanh.
- Với âm điệu mạnh mẽ, sôi nổi, bằng những hình ảnh so sánh độc đáo, tám câu thơ đầu vừa vẽ ra một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, vừa khắc hoạ đậm nét bức tranh lao động khoẻ khoắn, đầy sức sống của người dân nơi biển cả.
2. Tám câu thơ tiếp theo: Cảnh thuyền cá về bến.
- Cảnh dân chài đón thuyền cá về bến cũng là một bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống.
- Bốn câu thơ miêu tả người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến ra khơi là những câu thơ đặc sắc nhất, tinh tế nhất của bài Quê hương. Hình ảnh người dân chài vừa nổi bật với vẻ đẹp ngoại hình rắn rỏi, vạm vỡ: "làn ra ngăm rám nắng", vừa gợi mở vẻ đẹp của một tâm hồn mộc mạc, đằm thắm, mặn mà - vẻ đẹp của biển cả. Đó là một vẻ đẹp vừa chân thực vừa lãng mạn. Hai câu thơ vừa tả thực vừa gợi cho người đọc những liên tưởng sâu xa, thú vị.
- Hai câu thơ tả chiếc thuyền nghỉ ngơi trên bến cũng là một sáng tạo độc đáo của Tế Hanh. Tác giả không chỉ nhìn thấy mà còn cảm nhận thấy "sự mệt mỏi say sưa" của con thuyền. Con thuyền vô tri đã trở thành một tâm hồn tinh tế không kém chủ nhân của nó. Sau bao ngày tháng lênh đênh, miệt mài trên biển, giờ đây, nó đang nằm và lắng nghe chất muối mặn mòi của biển thấm dần vào từng thớ vỏ, như một người lao động đang nằm và ngẫm nghĩ lại cả chặng đường vất vả, những giọt mồ hôi mà mình đã đổ xuống để có được thành quả lao động như ngày hôm nay. 
- Trong cách miêu tả của Tế Hanh, ta thấy có sự gắn bó làm một giữa thiên nhiên cuộc sống với tâm hồn con người nơi đây. Và dù tác giả không biểu lộ trực tiếp tình cảm của mình nhưng trong cách miêu tả của ông, người đọc cảm nhận được sợi dây tình cảm thiêng liêng sâu nặng nối liền tâm hồn ông với thiên nhiên, cuộc sống và con người nơi đây. Không phải là một người con yêu dấu của quê hương, không yêu quê hương bằng tình yêu máu thịt và không có sự tinh tế tài hoa của một nhà nghệ sĩ thì không thể viết được những câu thơ sâu xa, xúc động như vậy.
3. Khổ thơ cuối: Tình cảm nhớ thương quê hương của tác giả.
- Quê hương được viết trong xa cách, trong niềm thương nhớ khôn nguôi của tác giả. Nỗi nhớ được nói lên một cách giản dị, tự nhiên, chân thành mà sâu sắc. Tế Hanh nhớ tất cả, từ màu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi... rồi cuối cùng hội tụ lại ở cái mùi nồng mặn. Cái mùi nồng mặn, trong tâm tưởng nhà thơ, chính là hồn thơm, hồn thiêng của quê hương. Những tưởng không có cách nào diễn tả tình yêu và nỗi nhớ quê giản dị mà sâu sắc, xúc động hơn nữa vậy.
4. Vài nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.
- Tuy phần lớn số câu thơ là câu miêu tả, song toàn bộ hình ảnh miêu tả đó đều nằm trong dòng tưởng nhớ, trong tình yêu quê hương da diết của chủ thể trữ tình. Vì vậy, miêu tả chỉ là một yếu tố phục vụ cho biểu cảm. Hơn nữa, tình cảm của một người con xa quê, nhớ quê luôn đầy ắp sau mỗi câu chữ, hình ảnh; thổi linh hồn vào từng câu chữ, hình ảnh làm cho bức tranh quê hương mang một vẻ đẹp lớn lao, bất ngờ và đầy lãng mạn.
- Nét nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ Quê hương là ở sự sáng tạo hình ảnh thơ. Bài thơ khá phong phú hình ảnh. Các hình ảnh ở đây vừa chân xác, cụ thể, vừa độc đáo, bay bổng, lãng mạn, có khả năng gợi ra những trường liên tưởng phong phú ở người đọc.
III. Tổng kết
- Nội dung: Quê hương đã khắc hoạ được bức tranh tươi sáng, khoẻ khoắn, đầy sức sống về cuộc sống lao động của một làng quê miền biển, qua đó thể hiện tình yêu quê hương tha thiết, đằm thắm của tác giả.
- Nghệ thuật: Bài thơ bình dị, giọng thơ mộc mạc, chân thành, hình ảnh thơ giàu tính sáng tạo và gợi cảm.

* Dặn dò : Tìm hiểu tiếp các bài trong chuyên đề

* Rút kinh nghiệm;

.....................................................................................................................................
Ngày tháng năm

Ngày soạn:

Ngày dạy:

Chuyên đề: Thơ Việt Nam 1900-1945

A. Mục tiêu

1. Kiến thức:

1.1. Kiến thức trọng tâm

- Lịch sử phong trào Thơ Mới:

+ Hoàn cảnh lịch sử phát triển phong trào Thơ mới.

+ Cuộc đấu tranh giữa thơ cũ và Thơ mới.

+ Những thời kì phát triển và suy thoái của phong trào “ Thơ mới”.

-Giới thiệu được tác giả; thuộc lòng các bài thơ vànội dung, nghệ thuật đặc sắc của từng bài được học trong chương trình văn 8 .

Ngoài ra GV cần cung cấp thêm cho HS các bài thơ tiêu biểu khác trong phong trào Thơ mới để HS vận dụng khi làm các đề bài tổng hợp

- Hiểu, cảm nhận được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong những bài thơ của một số nhà yêu nước và tiến bộ và cách mạng Việt Nam 1900-1945.

- Nắm vững hiểu biết về tác giả Tố Hữu và Hồ Chí Minh .

- Nắm vững những hiểu biết về vẻ đẹp tâm hồn và cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ.

1.2. Kiến thức mở rộng, nâng cao.

- Biết một số đổi mới về thể loại, đề tài, cảm hứng, sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại của thơ Việt Nam 1900-1945

2. Kỹ năng

- Rèn kĩ năng cảm thụ văn học.

-Hình thành kĩ năng so sánh đối chiếu trong khi phân tích, cảm nhận thơ.

-Kĩ năng cảm thụ văn chương thông qua ngôn từ và hình ảnh thơ.

- Biết phân tích hiệu quả của những biện pháp nghệ thuật trong việc diễn tả nội dung

- Vận dụng các kiểu văn bản đã học để viết được bài luận văn theo kiểu văn bản Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Thuyết minh, Nghị luận. Vận dụng kết hợp các kiểu văn bản (phương thức biểu đạt) trong một bài văn.

- Vân dụng các kiến thức đã học để giải quyết một yêu cầu nào đó của đề bài.

- Kĩ năng lập ý, sắp xếp ý, kĩ năng xây dựng hệ thống luận điểm, kĩ năng lập luận, trình bày bố cục.

- Kĩ năng viết phần mở bài, kết bài hay, kĩ năng dùng từ ngữ độc đáo gợi cảm, giàu hình ảnh, kĩ năng sử dụng đa dạng các kiểu câu.

- Kỹ năng liên hệ, so sánh, mở rộng trong khi làm bài.

- Kỹ năng cảm thụ một tác phẩm thông qua các ngôn từ, hình ảnh trong tác phẩm

- Kỹ năng xác lập luận điểm , trình bày luận điểm , luận chứng, luận cứ .

- Kỹ năng làm các dạng đề , đặc biệt là đề tổng hợp …

- Cũng như các chủ đề khác GV cần rèn cho HS kỹ năng phân tích , nâng cao , tổng hợp .



3. Các dạng bài:

- Trình bày cảm nhận về những câu thơ đặc sắc băng một đoạn văn diễn dịch hoặc quy nạp. Trong đoạn văn có kết hợp sử dụng các kiến thức Tiếng Việt

- Phân tích hiệu quả của các biện pháp nghệ thuật trong thơ.

- Thuyết minh về một thể thơ.

- Viết bài nghị luận tổng hợp để làm sáng tỏ những giá trị của các bài thơ mới như: lòng yêu nước thầm kín, sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống; tình yêu quê hương .

- Thuyết minh về tác giả.

- Cảm thụ văn học có lồng ghép so sánh đối chiếu.

- Viết bài nghị luận tổng hợplàm sáng tỏ những phẩm chất đáng quý của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh và Tố Hữu

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh: ôn tập

C. Thời lượng: 6 buổi

C. Tiến trình
Câu 1: Hai câu thơ dưới đây, tác giả đều sử dụng biện pháp so sánh:

- Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã.

- Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng.

Em thấy hai cách so sánh trên có gì khác nhau? Mỗi cách có hiệu quả nghệ thuật riêng như thế nào?



Câu 2:

Trình bày cảm nhận của em về khổ thơ sau (bằng một đoạn văn ngắn):



Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay,
Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài giời mưa bụi bay.”

(Ông đồ, Vũ Đình Liên - Sách giáo khoa Ngữ văn 8 - Tập II)



Câu 3: Trong chương trình ngữ văn 8 có hai bài thơ được viết theo kiểu đầu cuối tương ứng. Em hãy nêu tên tác giả của hai bài thơ ấy?

Câu 4Cho đoạn thơ sau:

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm

Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ


  1. Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên?

  2. Suy nghĩ của em về hình ảnh những ngư dân đang ngày đêm bám biển hiện nay?

Đáp án:

Câu 1:

  • Hai câu thơ trên tác giả đều dùng biện pháp so sánh. Tuy nhiên mỗi câu lại có hiệu quả nghệ thuật riêng:

  • So sánh con thuyền ra khơi “hăng như con tuấn mã” tức là con thuyền chạy nhanh như con ngựa đẹp và khỏe (tuấn mã) đang phi, tác giả so sánh cái cụ thể, hữu hình này với cái cụ thể hữu hình khác. Sự so sánh này làm nổi bật vẻ đẹp, sự mạnh mẽ của con thuyền ra khơi.

  • So sánh “Cánh buồm với mảnh hồn làng” tức là so sánh một vật cụ thể hữu hình, quen thuộc với một cái trừu tượng vô hình có ý nghĩa thiêng liêng. Cách so sánh này làm cho hình ảnh cánh buồm chẳng những trở nên cụ thể sống động mà còn có vẻ đẹp lớn lao, trang trọng, thiêng liêng. Cánh buồm no gió ra khơi trở thành biểu tượng rất phù hợp và đầy ý nghĩa của làng chài.

Câu 2:Cảm nhận về khổ thơ:

  • Về kỹ năng: HS viết đúng dạng một đoạn văn ngắn, lập luận chặt chẽ, lời văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả.

  • Về kiến thức: Nêu được các ý sau

    • Đoạn thơ trên trích trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên miêu tả tâm trạng ông đồ thời suy tàn.

    • Bằng các biện pháp nghệ thuật đối lập, tả cảnh ngụ tình để thể hiện niềm cảm thương trước hình ảnh ông đồ lạc lõng, trơ trọi “vẫn ngồi đấy” như bất động, lẻ loi và cô đơn khi người qua đường thờ ơ vô tình không ai nhận thấy hoặc đoái hoài tới sự tồn tại của ông.

    • Qua hai câu thơ tả cảnh ngụ tình tuyệt bút, hiểu được nỗi buồn của con người thấm sâu vào cảnh vật. Hình ảnh “lá vàng, mưa bụi” giàu giá trị tạo hình vẽ nên một bức tranh xuân lặng lẽ, âm thầm, tàn tạ với gam màu nhạt nhòa, xám xịt.

    • Khổ thơ cực tả cái cảnh thê lương của nghề viết và sự ám ảnh ngày tàn của nền nho học đồng thời thể hiện sự đồng cảm xót thương của nhà thơ trước số phận những nhà nho và một nền văn hóa bị lãng quên.


Câu 4:

A. Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ trên là: nhân hóa, ẩn dụ

B. Đọc đoạn thơ trên , em thấy hình ảnh người dân chài được miêu tả vừa chân thực vừa lãng mạn và trở nên có tầm vóc phi thường. Em lại liên tưởng tới những con người vùng biển đảo thiêng liêng của tồ quốc hiện nay. Họ ngày đêm bám biển vừa làm giàu cho quê hương vừa khẳng định chủ quyền của dân tộc . Họ phải chịu đựng bao gian lao , nguy hiểm nhưng họ sẵn sàng đương đầu với mọi thử thách. Ta khâm phục, tự hào về họ. Hiện nay , một số vùng biển của đất nước ta bị giặc ngoại xâm, là công dân Việt Nam mỗi người hãy chung tay góp sức giúp đỡ những người dân vùng biển để một phần nào đó động viên , tiếp thêm sức mạnh cả vật chất lẫn tinh thần cho những người con của biển khơi………

* Dặn dò: Ôn tập

*Rút kinh nghiệm:
Ngày tháng năm

---------------------------------------------------------------------

Ngày soạn:

Ngày dạy:



CHUYÊN ĐỀ: HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP
I/ KIẾN THỨC CƠ BẢN:

1. Kiểu câu.




KC

Khái niệm

1.

Câu nghi vấn

* Câu nghi vấn là câu:

- Có những từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, tại sao...) hoặc có từ hay ( nối các vế có quan hệ lựa chọn).

- Có chức năng chính là dùng để hỏi.

* Khi viết câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi.

*Trong nhiều trường hợp câu nghi vấn không dùng để hỏi mà để cầu khiến, khẳng định, phủ định, đe dọa, bộc lộ tình cảm, cảm xúc... và không yêu cầu người đối thoại trả lời


2.

Câu cầu khiến

* Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như : hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào,... hay ngữ điệu cầu khiến; dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo...

* Khi viết câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm.



3.

Câu cảm thán

* Là câu có những từ cảm thán như: ôi, than ôi, hỡi ơi...dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc của người nói hoặc người viết, xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ nói hàng ngày hay ngôn ngữ văn chương.

- Khi viết câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than.



4.

Câu trần thuật

* Câu trần thuật không có đặc điểm hình thức của các kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, cảm thán; thường dùng để kể, thông báo, nhận đinh, miêu tả,..

- Ngoài những chức năng trên đây câu trần thuật còn dùng để yêu cầu, đề nghị hay bộc lộ tình cảm, cảm xúc...( vốn là chức năng chính của những kiểu câu khác).

* Khi viết câu trần thuật thường kết thúc bằng dấu chấm, nhưng đôi khi nó có thể kết thúc bằng dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng.

* Đây là kiểu câu cơ bản và được dùng phổ biến trong giao tiếp.



5.

Câu phủ định

* Câu phủ định là câu có những từ ngữ phủ định như: không, chưa, chẳng, đâu.....

*Câu phủ định dùng để :

- Thông báo, xác nhận không có sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó (Câu phủ định miêu tả)

- Phản bác một ý kiến, một nhận định.(Câu phủ định bác bỏ).



2. Hành động nói

* Hành động nói là hành động được thực hiện bằng lời nói nhằm những mục đích nhất định.

* Những kiểu hành động nói thường gặp là :

- Hành động hỏi ( Bạn làm gì vậy ? )

- Hành động trình bày( báo tin, kể, tả, nêu ý kiến, dự đoán..) ( Ngày mai trời sẽ mưa )

- Hành động điều khiển ( cầu khiến, đe dọa, thách thức,...) ( Bạn giúp tôi trực nhật nhé )

- Hành động hứa hẹn .( Tôi xin hứa sẽ không đi học muộn nữa )

- Hành động bộc lộ cảm xúc. ( Tôi sợ bị thi trượt học kì này )

* Mỗi hành động nói có thể được thực hiện bằng kiểu câu có chức năng chính phù hợp với hành động đó ( cách dùng trực tiếp) hoặc bằng kiểu câu khác ( cách dùng gián tiếp)

3. Hội thoại.

*Vai hội thoại là vị trí của người tham gia hội thoại đối với người khác trong cuộc thoại . Vai xã hội được xác định bằng các quan hệ xã hội:

- Quan hệ trên- dưới hay ngang hàng ( theo tuổi tác, thứ bậc trong gia đình và xã hội) .

- Quan hệ thân-sơ ( theo mức độ quen biết, thân tình)

* Trong hội thoại ai cũng được nói. Mỗi lần có một người tham gia hội thoại nói được gọi là một lượt lời .

* Để giữ lịch sự cần tôn trọng lượt lời của người khác, tránh nói tranh lượt lời, cắt lời hoặc tranh vào lời người khác.

* Nhiều khi, im lặng khi đến lượt lời của mình cũng là một cách biểu thị thái độ.

4. Lựa chọn trật tự từ trong câu.

* Trong một câu có thể có nhiều cách sắp xếp trật tự , mỗi cách đem lại hiệu quả diễn đạt riêng. Người nói,viết cần biết lựa chọn trật tự từ thích hợp với yêu cầu giao tiếp.

* Trật tự từ trong câu có tác dụng :

- Thể hiện thứ tự nhất định của sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm.

- Nhấn mạnh hình ảnh, đặc điểm của sự vật, hiện tượng.

- Liên kết câu với những câu khác trong văn bản.

- Đảm bảo sự hài hòa về mặt ngữ âm của lời nói.

II/ BÀI TẬP:



. Bài 1 : Câu nghi vấn .

a. Hồn ở đâu bây giờ? -> Dùng để bộc lộ thái độ bộc lộ tình cảm hoài niệm, tâm trạng nuối tiếc

b. Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? ->. Dùng với hàm ý đe dọa

c. Có biết không?...lính đâu? Sao bay dám để cho nó xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à? -> hàm ý đe dọa

D. Một người hàng ngày chỉ lo lắng vì mình… há chẳng phải…của văn chương. - >. Dùng để khẳng định.

e. Con gái tôi vẽ đấy ư? ->e. Dùng để cảm thán, bộc lộ sự ngạc nhiên.



Bài 2:

a. Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để kiếm ăn ư? ->Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc thái độ ngạc nhiên.

b. Trợ từ than ôi và các câu còn lại đều là câu nghi vấn. ->Tác dụng : Phủ định cảm xúc nuối tiếc.

cSao ta không ngắm sự biệt li theo tâm hồn một chiếc lá nhẹ nhàng rơi?->Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc,thể hiện sự phủ định.

Ôi nếu thế thì đâu là quả bóng bay.->Tác dụng: Bộc lộ cảm xúc, thể hiện sự phủ định

BÀI 3: Sao cụ lo xa quá thế? b - Tội gì bây giờ nhịn đói mà để tiền để lại? c- Ăn mãi hết đi thì đến lúc chết lấy gì mà lo liệu

Nó thể hiện trên văn bản bản bằng dấu chấm hỏi và bằng các từ nghi vấn ( Sao gì)-> Cả 3 đều mang ý nghĩa phủ định

c. Thay đổi CN : (Các anh) ý nghĩa bị thay đổi chúng ta bao gồm cả người nói và người nghe,


các anh chỉ có người nghe.

*Bài tập 3: a. Thôi….đi ->Từ cầu khiến: đi - Vắng CN

b. Các em đừng khóc. -> Từ cầu khiến - CN ngôi thứ 2 số nhiều

c. Đưa tay cho tôimau! cầm lấy tay tôi này ! -> Ngữ điệu cầu khiến: Vắng CN

Tình huống cấp bách đòi hỏi nhanh ngắn gọn - Vắng CN



*Bài tập 5: a.Hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột.

b.Thầy em hãy cố ngồi dậy..

-Giống:Câu cầu khiến vcó từ cầu khiến Hãy

-Khác: a.Vắng Cn có từ cầu khiến, ngữ điệu cầu khiến mang tính chất ra lệnh


b. có CN ý nghĩa động viên khích

Bài 6: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“ Với vẻ mặt băn khoăn, cái Tí bưng bát khoai chìa tận mặt mẹ: (1)

- Này, u ăn đi ! (2) Để mãi !(3) U có ăn đi thì con mới ăn.(4) U không ăn con cũng không muốn ăn nữa. (5)

Nể con, chị Dậu cầm lấy 1 củ, rồi chị lại đặt xuống chõng. (6)

Vẻ nghi ngài hiện ra sắc mặt, con bé hóm hỉnh hỏi mẹ một cách thiết tha. (7)

- Sáng ngày người ta đấm u có đau lắm không ?(8)- Chị Dậu khẽ gạt nước mắt: (9)

- Không đau con ạ !(10)

(Trích”Tắt đèn”-Ngô Tất Tố)

a, Xác định các kiểu câu chia theo mục đích nói và các hành động nói( từ câu 1-5)trong đoạn văn trên.

b, Hãy xác định vai xã hội của các nhân vật tham gia hội thoại trong đoạn trích trên và cho biết mỗi nhân vật nói bao nhiêu lượt ?



Bài 7: Hãy chuyển những câu sau thành câu trần thuật mà mục đích trực tiếp của mỗi câu về cơ bản vẫn giữ được.

a/ Anh uống nước đi!

b/ Tại sao em nghỉ học?

Bài 8: a/ Em hãy nêu các tác dụng của sự sắp xếp trật tự từ trong câu.

b/ Phân tích tác dụng của sự sắp xếp trật tự từ trong những câu in đậm sau:

Ta bước chân lên, dõng dạc đường hoàng,

Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng”

(Nhớ rừng – Thế Lữ)
* Dặn dò: Ôn tập

*Rút kinh nghiệm:……………………………………………………………………………………..

Ngày tháng năm

Ngày soạn:

Ngày dạy:

CHUYÊN ĐỀ: VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

Văn bản: CHIẾU DỜI ĐÔ

Lí Công Uẩn

Lý Công Uẩn (974-1028) quê ở Kinh Bắc, là võ tướng cao cấp của Lê Đại Hành, từng giữ chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ. Ông là người tài trí, đức độ, kín đáo, nhiều uy vọng. Năm 1009, Lê Ngọa Triều chết, ông được giới tăng lữ và triều thần tôn lên làm vua, tức Lý Thái Tổ dựng nên triều đại nhà Lý tồn tại hơn 200 năm (1009-1225).

Năm 1010, Lý Thái Tổ viết “Thiên đô chiếu ” dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, sau đổi là Thăng Long, Kinh đô của Đại Việt.

"Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần dân” (Dương Quảng Hàm), thuộc văn xuôi cổ, câu văn có vế đối, ngôn từ trang nghiêm, trang trọng. “Chiêu dời đô” của Lý Công Uẩn là một văn kiện mang ý nghĩa lịch sử to lớn. sắp đến đại lể ki niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (1010-2010), ta càng thấy rõ ý nghĩa lịch sử trọng đại của luận văn này.

Văn bản chữ Hán chỉ có 214 chữ, bản dịch của Nguyễn Đức Vân dài 360 chữ:

Phần đầu ‘Chiếu dời dô” nói lên mục đích sâu xa, tầm quan trọng của việc dời đô là để “Đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu; trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân'. Nói một cách khác, việc dời đô là một việc lớn, vừa hợp mệnh trời vừa hợp lòng dân, là để xây dựng đất nước cường thịnh, đem lại hạnh phúc, thái bình cho nhân dân.

Việc dời đô không còn là chuyện hi hữu, mà đó là những kinh nghiệm lịch sử, phản ánh xu thế phát triển lịch sử của từng quốc gia, từng thời đại. Tác giả đã nêu lên những dẫn chứng lịch sử đế thu phục nhân tâm. Chuyện ở xa là chuyện bên Tàu: “Xưa nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đố; nhà Chu đến vua Thành Vương cũng ba lần dời đô”. Chuyện gần là ở nước ta thời nhà Đinh, nhà Lê vì chỉ “ theo ý riêng mình, khinh thường, mệnh trời… ”, cứ “đóng yên đô thành” ở Hoa Lư nên dẫn đến thảm kịch: “triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi”… Sử sách cho biết, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp tan 12 sứ quân, năm 968 ông lên ngôi hoàng đế thì đến năm 979 nhà vua bị ám hại. Năm 981, Lê Hoàn lên làm vua, tuy đã đánh thắng giặc Tống xâm lược, nhưng năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, thì các thế lực phong kiến, các hoàng tử… lại xung đột, tranh giành ngôi báu, loạn lạc kéo dài “trăm họ phải hao tổn” nhiều xương máu, tiền của. Cái chết của vua Lê Ngọa Triều năm 1009 đã chứng tỏ hai triều đại Đinh, Lê "không được lâu bền, số vận ngắn ngủi”. Hai triều đại Đinh, Lê phải đóng đô là do nhiều nguyên nhân lịch sử: nhà nước phong kiến Việt Nam chưa đủ mạnh, nạn cát cứ của các lãnh chúa hoành hành, giặc giã loạn lạc kéo dài. Do đó, các vua nhà Đinh, nhà Lê phải nuôi hổ báo ở trong nhà, phải nấu vạc dầu ở ngoài sân, dựa vào sông sâu núi cao, địa thế hiểm trở vùng Hoa Lư để đóng đô và phòng thủ. Đóng đô ở Hoa Lư là một hạn chế của lịch sử của nhà Đinh, nhà Lê.

Lý Công Uẩn “đau xót” khi nghĩ về "vận số ngắn ngủi” của nhà Đinh, nhà Lê và cảm thấy việc dời đô là một việc cấp thiết "không thể không dời đô”.

“Chiếu dời đô ” trong phần mở đầu, lí lẽ sắc bén, dản chứng lịch sử là sự thật hiển nhiên, giàu sức thuyết phục lòng người. Tác giả đã lồng cảm xúc vào bài chiếu, tạo nên bao ấn tượng đẹp: "Trẫm rất đau xót vé việc đó, không thể không dời đổi

Cuốn “Lịch sử Việt Nam " của Viện Sử học đã viết:

“Việc dời dô vê Thăng Long phản ánh yêu cầu phát triển mới của quốc gia phong kiến tập quyền và chứng tó khả năng, lòng tin và quyết tâm của cả dân tộc giữ vững nền độc lập ”…

Đại La rất thuận lợi, rất đẹp để đóng đô.

Đại La không có gì xa lạ, là “Kinh đô cũ của Cao Vương”. Cao Vương là Cao Biền, đại quan của nhà Đường, từng làm Đô hộ sứ Giao Châu từ 864-875; năm 866, Cao Biền đã xây thành Đại La, thuộc Hà Nội ngày nay. Đại La rất thuận tiện.

Về vị trí địa lí là “ở vào nơi trung tâm trời đất… đã đúng ngôi nam bắc đông tây. Về địa thế, rất đẹp, rất hùng vĩ: "được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, "lại tiện hướng nhìn sông dựa núi”, “địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng".

Là một vùng đất cư trú lí tưởng cho dân cư, không “ngập lụt ”, “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”.

Tóm lại, Đại La là “thắng địa”, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước". Đại La xứng đáng là  “Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Phần thứ hai của “Chiếu dời dô” cho thấy tầm nhìn chiến lược của Lý Công Uẩn về Đại La, nơi sẽ dời đô đến. Một cái nhìn toàn diện, sâu sắc, chính xác về các mặt vị trí địa lí, địa thế, nhân văn… Sau một nghìn năm, Hà Nội đã trở thành thủ đô hòa bình của đất nước ta, nhân dân ta, ta càng thấy việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La của Lý Công Uẩn là một cống hiến vô cùng vĩ đại "mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”.

Sử sách còn ghi lại: khi thuyền rồng của nhà vua vừa cập bến sông Nhị Hà ở chân thành Đại La thì có con rồng vàng bay lên, vua cho là điềm tốt mới đổi tên là Thăng Long. Thăng Long là "Rồng bay lên” thể hiện thế nước và phản ánh khát vọng của nhân dân ta xây dựng Đại Việt thành một quốc gia cường thịnh có nền văn hiến muôn đời rực rỡ. Ý chí tự lập tự cường và niềm tin về ngày mai tốt đẹp được khẳng định một cách mạnh mẽ.

Về mặt văn chương, phần thứ hai “Chiếu dời đô” rất đặc sắc. Cách viết hàm súc, giàu hình ảnh và biểu cảm, những vế đối rất chính, đọc lên nghe rất thú vị, mặc dù phải qua bản dịch:

"Huống gì thành Đại La… ở vào nơi trung tâm trời đất //; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi nam bắc tây đông// , lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt //; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi… Thật là chôn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước //; cũng là nơi Kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời .”

Phần cuối nguyên tắc ‘Thiên đô chiếu” chỉ có 14 chữ, bản dịch thành 19 chữ. Nhà vua bày tỏ ý mình về việc dời đô và hỏi quần thần. Đúng Lý Công Uẩn là một người "tài trí, đức độ, kín dáo".

“Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất này để định chỗ ở. Các khanh  nghĩ thế nào ? "

Việc dời đô của Lý Công Uẩn là một kì tích, kì công. Sau gần một ngàn năm Thăng Long – Hà Nội “đất văn vật" đã trở thành thú đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trung tâm chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa của đất nước ta.

“Chiếu dời đô” là áng văn xuôi cổ độc đáo, đặc sắc của tổ tiên để lại. Ngôn từ trang trọng, đúng là khẩu khí của bậc đế vương. Nó là kết tinh vẻ dẹp tâm hồn và trí tuệ Việt Nam. Nó khơi dậy trong lòng nhân dân ta lòng tự hào và ý chí tự cường mạnh mẽ.

HỊCH TƯỚNG SĨ

Trần Quốc Tuấn
Trần Quốc Tuấn (1231 - 1300) - người đã được vua Trần giao cho thống lĩnh quân đội, đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thắng lợi vẻ vang. Ng nổi tiếng là biết trọng kẻ sĩ thu phục nhân tài. Trần Quốc Tuấn là 1 người anh hùng dân tộc, nhà quân sự thiên tài, lòng yêu nước của ông nước thể hiện rõ qua văn bản "Hịch tướng sĩ", văn bản khích lệ tướng sĩ học tập cuốn "Binh thư yếu lược" do ông biên soạn.

Trước sự lâm nguy của đất nước, lòng yêu nước thiết tha của vị chủ soái Trần Quốc Tuấn được thể hiện ở lòng căm thù sục sôi quân cướp nước. Ta hãy nghe ông kể tội ác của giặc: "Ngó thấy sự giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương mà thu bạc vàng, vét của kho có hạn, thật khác nào đem thịt mà nuôi hổ đói, sao cho khỏi để tai hoạ về sau!". Tác giả gọi giặc là "cú diều, dê chó, hổ đói" không chỉ vạch trần sự tham lam, độc ác mà còn vạch rõ dã tâm xâm lược của giặc; thể hiện sự khinh bỉ, căm ghét tột độ. Không chỉ kể tội ác của giặc mà Trần Quốc Tuấn còn bày tỏ nỗi đau xót trước nỗi nhục của quốc thể, nỗi đau đớn xót xa. Đó là biểu hiện của sự sẵn sàng xả thân để rửa nhục cho nước, để bảo vệ nền độc lập của dân tộc, khát vọng nước xả thân cho nước: "Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng".



Qua bài hịch, Trần Quốc Tuấn không chỉ thể hiện lòng căm thù sục sôi quân cướp nước mà còn thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng, quyết xả thân cho độc lập dân tộc. Ông vạch ra hai con đường chính - tà cũng là một con đường sống chết để thuyết phục tướng sĩ. Trần Quốc Tuấn biểu lộ một thái độ dứt khoát: hoặc là địch hoặc là ta, không có vị trí chông chênh cho những kẻ bàng quan trước thời cuộc. "Giặc với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên không biết rửa nhục, không lo trừ hung, không dạy quân sĩ, chẳng khác nào quay mũi giáo mà chịu đầu hàng, giơ tay mà không chịu thua giặc. Nếu vậy rồi đây sau khi giặc đã dẹp yên, muôn đời để thẹn, há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa?", đó là lời động viên tới mức cao nhất ý chí và quyết tâm chiến đấu của mọi người.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương