Bồi dưỠng học sinh giỏi văN 8 NĂm họC 2016 2017


--------------------------------------------------------------------



tải về 1.23 Mb.
trang5/10
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích1.23 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

--------------------------------------------------------------------

Ngày soạn: 29/9

Ngày dạy:

Kiểm tra chuyên đề "Truyện, kí Việt Nam 1930-1945"
A. Mục tiêu

- Kiểm tra lại toàn bộ kiến thức đã học trong chuyên đề. Từ đó giáo viên có phương pháp dạy phù hợp.

- Rèn kĩ năng làm bài tổng hợp cho học sinh.

- Học sinh có ý học bài và làm bài

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn đề bài

Học sinh: ôn tập

C. Tiến trình

Đề bài:

Câu 1:( 7.0 điểm)

Qua các văn bản Tôi đi học, Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, em hiểu được những gì về phẩm chất của người mẹ, người vợ, người phụ nữ Việt Nam.



Câu 2:( 13.0 điểm)

Nhận xét về người nông dân trong văn học trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 có ý kiến cho rằng:

Người nông dân tuy nghèo khổ, lam lũ, ít học nhưng không ít tấm lòng”

Bằng hiểu biết của em về nhân vật chị Dậu trong tác phẩm Tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố, lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên Lão Hạc của Nam Cao, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.


Đáp án- Biểu điểm


Câu 1

( 7điểm

Hình thức: Là một đoạn văn

Trình bày sạch đẹp, diễn đạt lưu loát




1,0

Câu 1: Qua những nhân vật người vợ, người mẹ trong các tác phẩm Tôi đi học, Trong lòng mẹ, Tức nước vỡ bờ, chúng ta thấy sáng ngời những phẩm chất cao quý của người mẹ- người phụ nữ Việt Nam. Đó là:

- Tình cảm thắm thiết, sâu nặng đối với chồng con dù trong những hoàn cảnh đâu đớn tủi cực, gay cấn nhất.

- Học không chỉ bộc lộ bản chất dịu hiền, đảm đang mà còn thể hiện sức mạnh tiềm tàng, đức hi sinh quên mình chống lại bọn bạo tàn để bảo vệ gia đình.



6,00


Câu 2 (13,0)


* Yêu cầu về kĩ năng:

- Bài làm phải hoàn chỉnh, bố cục rõ ràng, luận điểm đầy đủ, chính xác.

- Biết vận dụng cách làm bài văn nghị luận kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự.

- Lời văn chuẩn xác, không mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả.





2,0

* Yêu cầu về kiến thức: Cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

* Lão Hạc, chị Dậu là người nông dân nghèo khổ, lam lũ, ít học.

Cảnh ngộ hai nhân vật bi thảm:


5,5

- Lão Hạc:

+) Vợ chết, hai cha con sống ăn rau cháo qua ngày.

+) Nhà nghèo, không có tiền cưới vợ cho con trai, con phẫn uất đi đồn điền cao su.

+) Nghèo khổ, không biết chữ nên con trai viết thư lão nhờ ông giáo đọc, làm văn tự lão cũng nhờ ông giáo viết cho.

+) Nghèo khổ, sau trận ốm kéo dài, lại mưa bão, không kiếm ra tiền để nuôi thân, nuôi con chó Vàng – kỉ vật con trai lão để lại, lão dằn lòng quyết định bán con chó.

+) Lão sống đã khổ, chết cũng khổ.

- Chị Dậu.

+) Gia đình nghèo khổ, được xếp vào hạng cùng đinh nhất làng.

+) Không có tiền nộp sưu cho gia đình, lại phải chịu tiền sưu cho em chú chết từ một năm trước nên gia đình càng cùng cực.

+) Anh Dậu bị đánh thập tử nhất sinh, chị Dậu bán đàn chó con, dằn lòng bán cái Tí – đứa con dứt ruột đẻ ra.



- Học sinh lấy dẫn chứng phân tích, chứng minh.






* Giàu lòng thương yêu gia đình và lòng nhân hậu

- Lão Hạc:

+) Cả đời yêu thương con thầm lặng, vợ chết ở vậy nuôi con, dành dụm tiền cưới vợ cho con không đủ con bỏ đi đồn điền cao su lão day dứt, buồn khổ.

HS lấy dẫn chứng, chứng minh.

+) Yêu thương con nên lão nâng niu, trân trọng kỉ vật mà con trai lão để lại – con chó lão gọi là cậu Vàng. Bán con chó lão day dứt, dằn vặt, đau đớn cho thấy lòng nhân hậu.

+) Yêu thương con, muốn giữ lại phẩm giá của một người nông dân chất phác, hiền lành nên lão chọn cái chết chứ không động tới mảnh vườn của con trai, không làm điều sai trái như Binh Tư để kiếm miếng ăn.

- Chị Dậu:

+) Yêu thương chồng con nên chạy đôn đáo, vất vả để kiếm tiền nộp sưu.

+) Chồng bị đánh, chị chạy vạy vay mượn nấu cháo, động viên anh Dậu ăn, chăm sóc để chồng khỏe lại.

+) Nhún nhường, van xin cai lệ, lý trưởng bằng đủ lời lẽ để khất sưu nhưng không được, nhìn chồng tiếp tục bị đánh chị đã vùng lên chống trả theo quy luật “có đàn áp, có đấu tranh”.

Qua cuộc đời khốn khổ và phẩm chất cao quý của lão Hạc và chị Dậu nhà văn thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng đối với người nông dân.

Nghệ thuật: Kể, miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật.





5,5

* Dặn dò:

Ôn tập chuẩn bị buổi sau học chuyên đề: Từ vựng

* Rút kinh nghiệm:

....................................................................................................................................
Ngày tháng năm

Ngày soạn: 7/10/2015

Ngày dạy: 14/10/2015

Chuyên đề: Từ vựng



A. Mục tiêu:

1. Kiến thức:

1.1. Kiến thức trọng tâm:

- Hiểu và nhận biết các trường từ vựng trong văn bản.

- Hiểu và nhận biết các từ tượng hình và từ tượng thanh và giá trị của chúng trong văn bản.

1.2. Kiến thức mở rộng, nâng cao.

- Vận dụng kiến thức về trường từ vựng để sử dụng cách chuyển trường từ vựng nhằm tăng tính nghệ thuật cho ngôn từ.

- Sử dụng từ tượng hình và tượng thanh trong việc thể hiện nội dung đoạn thơ hoặc trong khắc họa ngoại hình, tính cách nhân vật.

2. Kỹ năng

- Biết phân tích tác dụng của việc sử dụng trường từ vựng trong đoạn trích thơ, trích văn.

- Biết cách sử dụng các từ cùng trường từ vựng để nâng cao hiệu quả diễn đạt.

- Biết cách sử dụng từ tượng hình và từ tượng thanh.

- Biết viết đoạn văn có sử dụng từ tượng hình và tượng thanh để nâng cao hiệu quả diễn đạt.



3. Các dạng bài

- Phát hiện việc sử dụng và tác dụng của các trường từ vựng, từ tượng thanh, từ tượng hình trong đoạn văn, đoạn thơ.

- Viết đoạn văn có sử dụng trường từ vựng và từ tượng thanh, từ tượng hình.

4. Thời lượng dạy: 2 buổi

5. Tài liệu tham khảo:

- Sách Ngữ văn 8 nâng cao ( Nhà xuất bản Giáo dục)

- Ôn tập Ngữ văn 8

- Tư liệu Ngữ văn 8



B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh: ôn tập, đọc tài liệu

C. Tiến trình

I. Trường từ vựng

1.Trường từ vựng là gì?

- Là tập hợp những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. Ở đây nét chung về nghĩa được hiểu là dùng chung cho một phạm vi sự vật nào đó.

2. Một trường từ vựng có thể chia thành các trường từ vựng nhỏ hơn

3. Trường từ vựng không phải là phân loại từ giống như phân loại từ về mặt cấu tạo( từ đơn, từ ghép, từ láy) nên một từ có thể tham gia vào nhiều trường từ vựng khác nhau.

4. Khi sử dụng, người ta có thể chuyển trường từ vựng cho từ ngữ để tăng hiệu quả diễn đạt:

Trong làng tôi không thiếu gì các loài cây, nhưng hai cây phong này khác hẳn - chúng có tiếng nói riêng và hẳn phải có tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu

( Ai-ma-tốp)

=>Các từ in đậm chuyển từ trường từ vựng người sang trường từ vựng cây để nhân hóa.

II. Bài tập:

Bài tập 1: Tìm những từ thuộc trường từ vựng " mặt" trong câu: " Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong và nước da mịn, làm nổi bật màu hồng của hai gò má."

Gợi ý: Trường từ vựng"mặt": gương mặt, đôi mắt, nước da, gò má.

Bài 2: Tìm các trường từ vựng" phong cảnh đất nước" trong đoạn thơ sau:

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những canhs đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người không bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về.

( Nguyễn Đình Thi, Đất nước)

Gợi ý: Trường từ vựng phong cảnh đất nước: trời xanh, núi rừng, cánh đồng, dòng sông, ngả đường.

Bài 3: Nhà thơ Vũ Đình Liên đã viết:

“… Nhưng mỗi năm mỗi vắng



Người thuê viết nay đâu?

Giấy đỏ buồn không thắm;

Mực đọng trong nghiên sầu...”

(Ông đồ)

?Xác định các trường từ vựng có trong đoạn thơ ?

Gợi ý: Các trường từ vựng:

- Vật dụng: giấy, mực, nghiên

- Tình cảm: buồn, sầu

- Màu sắc: đỏ, thắm



Bài 4: Trong đoạn thơ sau, tác giả đã chuyển các từ in đậm từ trường từ vựng nào sang trường từ vựng nào?

“Ruộng rẫy là chiến trường,

Cuốc cày là vũ khí,

Nhà nông là chiến sĩ,

Hậu phương thi đua với tiền phương.”

(Hồ Chí Minh)



Gợi ý:Chuyển trường từ vựng:

- Ruộng rẫy (nông nghiệp)  Chiến trường (quân sự)

- Cuốc cày (nông nghiệp)  Vũ khí (quân sự)

- Nhà nông (nông nghiệp)  Chiến sĩ (quân sự)

 Tác giả chuyển từ trường “quân sự” sang trường “nông nghiệp”.

Bài 5: Vận dụng các kiến thức đã học về trường từ vựng để phân tích cái hay trong cách dùng từ ở bài thơ sau:

Áo đỏ em đi giữa phố đông

Cây xanh như cũng ánh theo hồng

Em đi lửa cháy trong bao mắt

Anh đứng thành tro,em biết không?

(Vũ Quần Phương – Áo đỏ)



Gợi ý:

Tác giả sử dụng 2 trường từ vựng:

+Trường từ vựng về màu sắc : đỏ - hồng – ánh

+Trường từ vựng chỉ về lửa : lửa cháy to.

Các từ trong hai trường từ vựng có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên vẻ đẹp của đoạn thơ. Màu áo đỏ của cô gái thắp lên trong mắt chàng trai ( nhiều người khác) ngọn lửa. Ngọn lửa đó lan tỏa tronh người anh, làm anh say đắm, ngất ngây, và lan tỏa cả không gian, làm không gian cũng biến sắc (cây xanh cũng ánh hồng).

Xây dựng hình ảnh gây ấn tượng mạnh với người đọc .Nó miêu tả một tình yêu mãnh liệt, cháy bỏng,đắm say…( ngoài ra bài thơ còn sử dụng một số phép đối.



Bài 6: Cho đoạn văn sau:

a, Sau giây phút hoàn hồn, con chim quay đầu lại, giương đôi mắt đen tròn, trong veo như hai hạt cườm nhỏ lặng nhìn Vinh tha thiết. Những âm thanh trầm bổng, ríu ran hòa quyện trong nhau vừa quen thân vừa kì lạ. Con chim gật đầu chào Vinh rồi như một tia chớp, tung cánh vụt về phía rừng xa thẳm.

( Châu Loan)

b, Thiên nga thật là một loài chim biết tự khoe vì vẻ đẹp và các động tác múa của mình. Nếu như bầy chim công múa rất dẻo, uyển chuyển, nhịp nhàng, xứng đáng là nghệ sĩ của rừng xanh, thì thiên nga còn được coi là những giọng nữ cao tuyệt diệu, ngoài các động tác múa khỏe khoắn của nó.[...]

Chúng vừa múa vừa hát. Cặp chân vàng run rẩy tạo nên những đường nét khỏe khoắn. Đôi cánh xòe trên mặt cỏ xanh xoay tròn, nom giống như một bông hoa ê-puy đẹp tuyệt vời, đến chim anh vũ bay qua cũng phải nghiêng đầu tìm chỗ đậu để thưởng thức.

( Thiên Lương)

- Tìm các trường từ vựng thuộc trường từ vựng chỉ Người.

- Các trường từ vựng dùng như vậy thuộc phép tu từ nào?



Gợi ý:

- Các từ thuộc trường từ vựng Người:

a,hoàn hồn, quay đầu, giương đôi mắt, lặng nhìn thiết tha, gật đầu chào

b, khoe, vẻ đẹp, động tác múa, múa rất dèo, uyển chuyển, nhịp nhàng, xứng đáng là nghệ sĩ, giọng nữ cao tuyệt diệu, múa khỏe khoắn,vừa múa vừa hát, cặp chân vàng, đường nét khỏe khoắn, nghiêng đầu.

- Sử dụng phép tu từ nhân hóa.

Bài 7:Cách dùng các từ ngữ thuộc một trường từ vựng để miêu tả các sự vật, hiện tượng thuộc trường từ vựng khác( như ở bài tập 6) được gọi là hiện tượng chuyển trường từ vựng của từ ngữ. Hãy sưu tầm trong văn thơ các đoạn có hiện tượng chuyển trường từ vựng như vậy. Phân tích giá trị diễn đạt của hiện tượng này.

- Học sinh tìm và phân tích

* Dặn dò:

Chuẩn bị buổi sau học bài " Từ tượng thanh, từ tượng hình"

* Rút kinh nghiệm:

....................................................................................................................................


Ngày tháng năm

Ngày soạn:13/10/2015

Ngày dạy: 21/10/2015

Chuyên đề: Từ vựng (tiếp)



A. Mục tiêu:

1. Kiến thức:

1.1. Kiến thức trọng tâm:

- Hiểu và nhận biết các trường từ vựng trong văn bản.

- Hiểu và nhận biết các từ tượng hình và từ tượng thanh và giá trị của chúng trong văn bản.

1.2. Kiến thức mở rộng, nâng cao.

- Vận dụng kiến thức về trường từ vựng để sử dụng cách chuyển trường từ vựng nhằm tăng tính nghệ thuật cho ngôn từ.

- Sử dụng từ tượng hình và tượng thanh trong việc thể hiện nội dung đoạn thơ hoặc trong khắc họa ngoại hình, tính cách nhân vật.

2. Kỹ năng

- Biết phân tích tác dụng của việc sử dụng trường từ vựng trong đoạn trích thơ, trích văn.

- Biết cách sử dụng các từ cùng trường từ vựng để nâng cao hiệu quả diễn đạt.

- Biết cách sử dụng từ tượng hình và từ tượng thanh.

- Biết viết đoạn văn có sử dụng từ tượng hình và tượng thanh để nâng cao hiệu quả diễn đạt.



3. Các dạng bài

- Phát hiện việc sử dụng và tác dụng của các trường từ vựng, từ tượng thanh, từ tượng hình trong đoạn văn, đoạn thơ.

- Viết đoạn văn có sử dụng trường từ vựng và từ tượng thanh, từ tượng hình.

4. Thời lượng dạy: 2 buổi

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh: ôn tập, đọc tài liệu

II. Từ tượng hình, từ tượng thanh

1. Thế nào là từ tượng hình, từ tượng thanh?

- Từ tượng hình là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật.

- Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người.

2. Công dụng

Từ tượng hình, từ tượng thanh gợi được hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động, có giá trị biểu cảm cao; thường được dùng trong văn miêu tả và tự sự.

Vd: Cười là một động từ chỉ hoạt động của con người.Nhưng cười cũng có nhiều kiểu và nhiều dáng vẻ, âm sắc và tâm trạng khác nhau. Cười ha ha và cười hô hố không chỉ khác nhau về âm sắc mà còn khác nhau về tâm trạng , về sắc thái biểu cảm.

- Ha ha là từ gợi tả tiếng cười to, tỏ ý tán thưởng hoặc sảng khoái

- Hô hố là từ mô phỏng tiếng cười to và thô lỗ, gây cảm giác khó chịu cho người khác.

Bài tập:

Câu 1: Tìm từ tượng hình, tư tượng thanh trong những câu sau"

a, Thằng Dần vục đâu vừa thổi vừa húp soàn soạt. Chị Dậu rón rén bưng một bát lớn đến chỗ chồng nằm.

b,Vừa nói hắn vừa bịch vào ngực luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn để trói anh Dậu

c, Cai lệ lại tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu.

d, Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng cai nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất, miệng vẫn nham nhảm thét trói vợ chồng kẻ thiếu sưu.



Câu 2:

Cho đoạn văn:

Mặt lão đột nhiên co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc...”.

(Trích Lão Hạc, Nam Cao)

a. Tìm câu ghép trong đoạn văn trên. Xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế trong câu đó.

b. Chỉ rõ từ tượng hình, từ tượng thanh và phân tích giá trị biểu hiện (tác dụng) của các từ tượng hình, tượng thanh trong đoạn văn đó



Gợi ý:

a/ - Câu ghép: Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít.

- Quan hệ ý nghĩa giữa 2 vế câu: quan hệ bổ sung hoặc đồng thời



b/ - Từ tượng hình: móm mém

- Từ tượng thanh: hu hu

- Giá trị biểu hiện (tác dụng): Gợi tả hình ảnh, âm thanh cụ thể, sinh động có giá trị biểu cảm cao.

Câu 3.Xác định từ tượng hình, từ tượng thanh và phân tích nghệ thuật sử dụng từ tượng hình, từ tượng thanh trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của tác giả Bà Huyện Thanh Quan.

Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,



Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Lom khom dưới núi, tiều vài chú,

Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.

Dừng chân đứng lại, trời non nước,

Một mảnh tình riêng, ta với ta.”

Từ tượng hình: Lom khom, lác đác (Tả dáng người, cảnh vật khi hoàng hôn xuống

Từ tượng thanh: quốc quốc, gia gia (gợi tiếng chim kêu thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà của nhân vật trữ tình

Cách biểu hiện thời gian độc đáo của Bà Huyện Thanh Quan



Câu 4: Cho các câu sau:

- Chị Dậu run run:[...]

- Chị Dậu vẫn thiết tha[...]

- Chị Dậu nghiến hai hàm răng[...].

Tìm các từ ngữ miêu tả cách nói năng của chị Dậu từ đó chỉ ra sự thay đổi trạng thái tâm lí của chị.

Gợi ý: chú ý các từ run run,thiết tha,nghiến hai hàm răng

Câu 5. Chộn một đề tài và viết một đoạn văn ngắn có sử dụng các từ tượng hình, từ tượng thanh.

Ngày soạn:

Ngày dạy

Chuyên đề: Văn học nước ngoài

A. Mục tiêu

1. Kiến thức cần đạt:

- Củng cố lại nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm văn học nước ngoài.

- Làm một số đề bài nâng cao xoay quanh các nhân vật tình huống truyện và các nghệ thuật đặc sắc.

2. Kĩ năng cần đạt:

- Nhớ truyện, biết viết thành thạo các bài cảm thụ.

3. Các dạng bài

- Phát biểu cảm nghĩ, giới thiệu tác giả, nội dung & nghệ thuật đặc sắc của một tác phẩm, phân tích tác phẩm…

4. Thời lượng: 2 buôie

B. Chuẩn bị

Giáo viên: soạn giáo án

Học sinh ; ôn tập

C. Tiến trình

. Cụm văn bản nước ngoài


    • Cô bé bán diêm – An- déc xen

    • Đánh nhau với cối xay gió – Xéc van tét

    • Chiếc lá cuối cùng – O Hen – ri

    • Hai cây phong – Ai ma tốp

    • Đi bộ ngao du – Rút xô

    • Ông Giuốc Đanh mặc lễ phục – Mô li e

Văn bản : Cô bé bán diêm

1. Nghệ thuật:

- Miêu tả rõ nét cảnh ngộ và nỗi khổ cực cua em bé bằng những chi tiết, hình ảnh đối lập.

- Sắp xếp trình tự sự việc nhằm khắc họa tâm lí em bé trong cảnh ngộ bất hạnh.

- Sáng tạo trong cách kể chuyện.

2. Nội dung:

- Số phận của em bé bán diêm:

+ Gia cảnh đáng thương

+ Em phải chịu cảnh ngộ đói rét, không nhà, không người yêu thương ngay cả trong đêm giao thừa

- Lòng thương cảm của tác giả đối với em bé bất hạnh:

+ Đồng cảm với khao khát hạnh phúc của em bé( qua những mộng tưởng của em bé về chiếc lò sưởi ấm áp, bữa ăn ngon, cảnh đầm ấm với người bà đã khuất,...

+Cách kết thúc chuyện thể hiện nỗi day dứt, nỗi xót xa của nhà văn đối với em bé bất hạnh.



Bài tập:

Câu 1. Qua phần đầu, chúng ta được biết về gia cảnh của em bé bán diêm và thời gian, không gian xảy ra câu chuyện. Những hình ảnh tương phản đối lập được nhà văn sử dụng nhằm khắc họa nỗi khổ cực của cô bé.

- Hoàn cảnh của em bé bán diêm:

+ Gia đình mới sa sút (bà chết, gia sản tiêu tan, dời khỏi chỗ ở đẹp đẽ, ấm cúng ngày trước…)

+ Ở với cha trên gác sát mái nhà, gió lùa rét buốt.

- Hình ảnh cô bé bán diêm thật tội nghiệp

+ Đầu trần, chân đất (đỏ ửng lên rồi tím bầm lại vì lạnh)

+ Quần áo cũ kĩ, tạp dề đựng đầy diêm đi bán, tay còn cầm thêm một bao nữa.

+ Bụng đói.

+ Lo âu vì không bán được diêm, không xin được tiền không dám về vì sợ bố đánh. - Bối cảnh:

+ Ngồi trước góc tường tối tăm giữa phố

+ Co ro trong đêm giao thừa gió rét căm căm (tuyết phủ trắng xóa cả phố xá, gió bất thổi vun vút…)

- Nhiều sự tương phản đã diễn ra xung quanh em bé và trong lòng em bé:

+ Quá khứ -  hiện tại (yên vui sum họp – sa sút chia lìa)

+ Phố xá tưng bừng tấp nập – em bé lang thang cô đơn nghèo khó.

+ Mộng tượng huy hoàng – thực tế tối tăm khắc nghiệt Sự tương phản làm nổi bật hình ảnh và cảnh ngộ em bé: bị bỏ rơi trong bần cũng, bất hạnh nhưng tâm hồn luôn luôn hướng về điều thiện, cái đẹp.

Câu 2. Chứng minh những mộng tưởng của em bé qua các lần đánh diêm diễn ra theo thứ tự hợp lí. Trong số các mộng tưởng ấy có các điều gắn với thực tế, có điều thuần túy chỉ là mộng tưởng. Qua các lần đánh diêm, các mộng tưởng đã lần lượt hiện ra, rất hợp lí, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và tâm lí của em bé:

- Từ khao khát được sưởi ấm đến được ăn no và ngon.

- Đến vui vầy xung quanh cây Nô-en.

- Đến hồi tưởng về những lần đón giao thừa ngày trước khi bà nội còn sống.

- Đến cảnh hai bà cháu cầm tay nhau bay lên trời. Những cảnh đầu là những cảnh gần với sự thật, lúc em bé đang bị đẩy vào cảnh đói rét, không được như mọi người đón năm mới. Những cảnh sau, nhất là cảnh cuối cùng, là những ảo ảnh do em tưởng tượng nên, không có thực.

Viết đoạn văn ngắn (khoảng mươi dòng) triển khai luận điểm: Trong truyện Cô bé bán diêm của An-đéc-xen, thực tế và mộng tưởng xen kẽ với nhau và được diễn ra lần lượt theo một trình tự hợp lí.

- Về mặt hình thức: đáp ứng yêu cầu của đề (có độ dài khoảng mươi dòng; diễn đạt trôi chảy, văn phong trong sáng có tính thuyết phục).

- Về mặt nội dung: thể hiện rõ ràng, chính xác nội dung của luận điểm; tổ chức lập luận theo một trình tự hợp lý để làm nổi bật luận điểm. Cụ thể:

+ Các mộng tưởng của cô bé bán diêm có gắn với thực tế như: lò sưởi, bàn ăn, cây thông No-en

+ Diễn ra theo một trình tự hợp lý: rét – lò sưởi; đói – bàn ăn; không khí đón giao thừa – cây thông No-en; nhớ đến cảnh đầm ấm – hình ảnh của bà.



Câu 3. Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm nói chung và về đoạn kết nói riêng. Cô bé bán diêm đã qua đời tron giấc mộng (má hồng, môi mỉm cười), em đã chết thảm thương trước sự lạnh lùng của cảnh vật xung quanh và của mọi người qua đường. Những cái chết ấy không gây ấn tượng nặng nề. Trước hết là do không khí vui tươi của ngày đầu năm, của cuộc sống đang phát triển tự nhiên theo quy luật. Sau là do hình ảnh ấm áp, tươi tắn của em bé đã chết, nhất là những cái kì diệu mà tác giả đã gợi ra từ sự ra đi của em bé. Cái chết của em bé không hẳn là cái chết bình thường mà nó giống nha một sự giải thoát, một sự dạo chơi về nơi thiên đường.
Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Chẳng ai biết những cái kì diệu em đã trông thấy và nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”

– Em đã đi vào bầu ánh sáng vĩ đại, vào sống trong một thế giới của ánh sáng, tình thương, nơi ấy có người bà hiền hậu thân thương, có những lò sưởi ấm, những bữa ăn thịnh soạn, những cây thông trang hoàng rực rỡ, được sống trong sự bao dung chở che và lòng độ lượng nhân từ vô hạn của Chúa. Em đã vĩnh viễn thoát khỏi những đọa đày trên mặt đất đau thương, vĩnh viễn thoát khỏi những cơn đói hành hạ, thoát khỏi cái rét cắt da cắt thịt, khỏi nỗi cô đơn, bất hạnh. Em ra đi thanh thản và mãn nguyện “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”. Chắc hẳn gương mặt ấy sẽ còn ám ảnh độc giả bao thế hệ: cô bé ra đi trong niềm vui, sự bao dung, tha thứ. Cô mỉm cười từ giã tất cả, tha thứ tất cả: những lời chửi mắng thậm tệ, những trận đòn roi, những sự lạnh lùng vô cảm của con người…. Cô bé ra đi tựa như một thiên thần, sau khi chịu đựng những đọa đày thế gian đã được trở về với Chúa, về nước thiên đàng. Ở phương diện đó, kết thúc câu chuyện là một cái kết có hậu, ấm áp và đầy tính nhân văn. Andersen đã không dùng đôi cánh tưởng tượng để thoát li mà cúi sát xuống hiện thực khốc liệt của cuộc sống, để cảm thông và yêu thương những số phận bất hạnh, để nhận ra và trân trọng những ước mơ trong sáng, thánh thiện của con người.

– Nhưng không hẳn là một cái kết hoàn toàn có hậu. Truyện của Andersen khép lại nhưng lòng người đọc vẫn không nguôi băn khoăn, trăn trở, day dứt suy nghĩ về con người, cuộc đời, về tình người, tình đời. Nhà văn không né tránh hiện thực nghiệt ngã. Cô bé có tâm hồn trong sáng, thánh thiện ấy đã chết, chết trong chính đêm giao thừa, trong cái đói, cái rét hành hạ. Một năm mới sang hứa hẹn những khởi đầu mới nhưng cô bé đã kết thúc cuộc hành trình của mình tại chính ngưỡng cửa của năm mới. Chẳng có cơ hội, chẳng có tương lai nào cho em. Trước khi chết vì đói, vì rét, em đã chết vì chính sự lạnh lùng, vô cảm, tàn nhẫn, ích kỉ của con người. Em không dám về nhà vì sợ những lời chửi mắng, đánh đập của bố, em trơ trọi, bơ vơ, tuyệt vọng chống chọi với cái giá rét trước ánh mắt vô cảm, thờ ơ của những người qua đường, em cô đơn, buồn tủi khi mọi người vui vẻ, hân hoan đón chào năm mới, em nằm đó trong những lời đàm tiếu vô tâm của mọi người. Em từ giã cõi đời, giã từ cuộc sống vì không ai thương em, không ai che chở, bảo vệ em. Cái chết của em mãi để lại nỗi xót thương, niềm day dứt như một câu hỏi ám ảnh trong lòng mỗi người: làm sao để không bao giờ trên mặt đất này còn có những trẻ em bất hạnh như cô bé bán diêm ?

Truyện nhẹ nhàng, dung dị nhưng đặt ra những vấn đề vô cùng sâu sắc, thể hiện giá trị nhân văn cao đẹp qua tấm lòng yêu thương, trân trọng con người của nhà văn. Cái kết truyện như một câu hỏi đầy day dứt, như một lời đề nghị nhà văn gửi tới độc giả nhiều thế hệ, ở mọi phương trời về cách sống, về thái độ, tình cảm đối với những người xung quanh, nhất là những mảnh đời bất hạnh.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương