BàI 8 : ung thư tuyến tiền liệT



tải về 0.72 Mb.
Chuyển đổi dữ liệu19.11.2017
Kích0.72 Mb.
#2316








BÀI 8 : UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Tuyến Tiền Liệt là một phần của hệ sinh dục nam có nhiệm vụ sản xuất và lưu trữ tinh dịch. Đó là một hạch nhỏ nằm dưới bọng đái gần ruột già. Nó bao quanh niệu đạo, tức ống dẫn nằm bên trong dương vật qua đó nước tiểu và tinh dịch thoát ra. Ở nam giới trưởng thành, tuyến tiền liệt điển hình dài khoảng 3cm và nặng khoảng 20gr. Nó nằm trong khung chậu, dưới bàng quang và trước trực tràng. Tuyến tiền liệt bao quanh một phần của niệu đạo là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang trong quá trình tiểu tiện và tinh dịch trong quá trình xuất tinh. Do vị trí của nó, cho nên các bệnh về tuyến tiền liệt thường ảnh hưởng đến việc đi tiểu, xuất tinh, hiếm khi ảnh hưởng đến đại tiện. Tuyến tiền liệt có nhiều tuyến nhỏ sản xuất khoảng 20% chất lỏng tạo thành tinh dịch.

Bởi vì tuyến tiền liệt bao quanh một phần của đường niệu đạo cho nên ung thư tuyến tiền liệt có thể làm rối loạn chức năng tiết niệu và tuyến tiền liệt cũng tiết chất dịch tao thành tinh dịch theo ống dẫn tinh vào niệu đạo cho nên ung thư tuyến tiền liệt cũng có thể gây ra rối loạn các chức năng và hoạt động tình dục, chẳng hạn như khó đạt được sự cương cứng hoặc đau khi xuất tinh.
Vẫn chưa biết chính xác các nguyên nhân cụ thể gây nên bệnh ung thư tuyến tiền liệt,

Trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt, các tế bào của các tuyến tiền liệt biến đổi thành tế bào ung thư. Các tuyến tiền liệt cần các kích thích tố nam được gọi chung là androgen để có thể hoạt động. Androgen bao gồm; testosterone được sản xuất trong tinh hoàn, dehydroepiandrosterone được sản xuất tại các tuyến thượng thận, và dihydrotestosterone được chuyển đổi từ testosterone trong chính tuyến tiền liệt.

Androgen cũng là tác nhân ảnh hưởng về các đặc điểm giới tính thứ cấp như râu và cơ bắp.
Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư ở đàn ông được chẩn đoán nhiều nhất ở Đức và sau ung thư phổi ung thư đại tràng đứng hàng thứ ba trong số các bệnh ung thư gây ra cái chết ở đàn ông. Khoảng 26 % tất cả các loại ung thư phát ra mỗi năm ở nam giới là từ tuyến tiền liệt. Theo một thống kê 2013 ở Đức mỗi năm 67.600 người đàn ông bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Các quan sát, có sự gia tăng từ các thập kỷ sau này là do sự cải tiến về các phương pháp chẩn đoán và do sự gia tăng về tuổi thọ.

Hàng năm tỷ lệ tử vong (tổng số trường hợp tử vong) là khoảng 12.000. Ở nam giới dưới 40 tuổi, ung thư tuyến tiền liệt hầu như là không có. Sau đó tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi tác rất cao. Qua khám nghiệm tử thi, người ta khám phá ra rằng, có đến 80% những người trên 70 tuổi có bệnh ung thư tuyến tiền liệt tiềm ẩn nhưng không chết vì nó. Độ tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 71 năm.




I-NHỮNG TRIỆU CHỨNG, NHỮNG NGUY CƠ VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA :

1-Triệu chứng :
Trong giai đoạn đầu có thể không có triệu chứng.
Ung thư tuyến tiền liệt thường là một bệnh phát triển chậm và đa số đàn ông mắc chứng ung thư tuyến tiền liệt mức nhẹ sống nhiều năm không có triệu chứng và bệnh không lan ra và không đe dọa mạng sống.

Ung thư tuyền tiền liệt xảy ra khi những tế bào bất thường phát triển trong tuyến tiền liệt. Những tế bào bất thường này có thể tiếp tục nhân lên một cách không kiểm soát được và đôi khi lan ra ngoài tuyến tiền liệt sang những bộ phận kế cận hay xa hơn của cơ thể đặc biệt là vào xương và các hạch bạch huyết. Bệnh mức nặng lan ra nhanh chóng và có thể gây tử vong.

Ung thư tuyến tiền liệt có thể gây đau đớn và khó khăn trong việc đi tiểu, quan hệ tình dục gặp vấn đề, hoặc rối loạn chức năng cương dương. Các triệu chứng khác có khả năng phát triển trong giai đoạn sau của bệnh.
Trong các giai đoan sau vài triệu chứng cảnh báo ung thư tuyến tiền liệt có thể bao gồm:

  • 1-Cảm thấy mắc tiểu thường xuyên hay bất thình lình

  • 2-Đái rắt, đặc biệt vào ban đêm.

  • 3-Bí tiểu hoặc không tiểu tiện được, tiểu tiện khó khăn (thí dụ khó tiểu khi bắt đầu hay không tiểu được khi mắc tiểu hay nước tiểu chảy ra yếu hay ngắt quãng)

  • 4-Khó chịu khi đi tiểu đau và rát.

  • 5-Thấy có máu trong nước tiểu hay tinh dịch

  • 6-Đau ngang thắt lưng, và co cứng ở phần dưới lưng, mông và phần trên đùi bắp vế hay hai bên hông.

Những triệu chứng này không có nghĩa là quý vị mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt nhưng nếu quý vị thấy có bất cứ triệu chứng nào trong số đó thì hãy đi gặp bác sĩ của mình.
Giai đoạn I, II: Không có dấu hiệu khối u lan ra khỏi tuyến tiền liệt, u khu trú.

Giai đoạn III: U xâm lấn qua vỏ bao tuyến hoặc lan tràn đến các mô lân cận.

Giai đoạn IV: Có di căn xa
2-Những nguy cơ :

Những yếu tố có liên hệ chặt chẽ với gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt:



Tuổi tác: Khả năng ung thư tuyến tiền liệt gia tăng theo tuổi. Nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt: ở tuổi 75 là 1 trong 7 người đàn ông. Đến tuổi 85 mức này tăng lên 1 trong 5 người.


  • Tiền sử gia đình: Nếu quý vị có thân nhân nam giới ruột thịt đời thứ nhất mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt thì nguy cơ quý vị mắc bệnh sẽ cao hơn những người đàn ông không có tiền sử như vậy. Nguy cơ này sẽ tăng cao hơn nữa nếu có hơn một thân nhân nam mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Nguy cơ cũng cao hơn với đàn ông có nhiều thân nhân nam giới được chẩn đoán bệnh khi còn trẻ.

  • Nam giới bị cao áp huyết sẽ có nhiều khả năng phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Một nghiên cứu trong năm 2010 phát hiện ra tế bào đáy của tuyến tiền liệt là những nơi phổ biến nhất để bắt đầu cho những mầm mống của bệnh ung thư tuyến tiền liệt.




Di truyền: Gen được tìm thấy trong mọi tế bào cơ thể. Chúng kiểm soát cách thức các tế bào cơ thể tăng trưởng và hoạt động. Mỗi người có một tập hợp gồm nhiều ngàn gen thừa hưởng từ cả cha lẫn mẹ. Những thay đổi về gen có thể gia tăng nguy cơ truyền bệnh ung thư tuyến tiền liệt từ cha mẹ sang con cái. Mặc dầu bệnh ung thư tuyến tiền liệt không di truyền, một người đàn ông có thể thừa hưởng các gen có thể gây gia tăng nguy cơ.
Chế độ ăn uống: Có vài bằng chứng cho thấy ăn nhiều thịt hay thực phẩm đã chế biến có nhiều chất béo có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

Lối sống : Có bằng chứng cho thấy là môi trường và lối sống có thể tác động lên nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Thí dụ, Á Châu có tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt thấp nhất, nhưng khi một người đàn ông từ một nước Á Châu di dân sang một nước Tây Phương thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt của người này gia tăng. Điều này cho thấy là những yếu tố bên ngoài như môi trường và lối sống có thể thay đổi mức nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

3-Phòng ngừa :

Giữ trọng lượng trung bình.



Không có bằng chứng nào cho thấy những yếu tố bảo vệ sau đây có thể chận ung thư tuyến tiền liệt phát triển, nhưng chúng có thể cải thiện sức khỏe tổng quát và giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Chế độ ăn uống: Hãy ăn các bữa ăn có chất dinh dưỡng. Món gì tốt cho tim là tốt cho tuyến tiền liệt. Ăn uống lành mạnh, đều độ bằng cách ăn nhiều rau quả và ít ăn thịt, nhất là thịt đỏ. Chỉ uống rượu vừa phải.

Hoạt động /Tập thể dục: Vận động đều đặn. Có vài bằng chứng cho thấy hoạt động thể lực và tập thể dục đều đặn có thể là những yếu tố bảo vệ chống ung thư. Hãy tập tối thiểu 30 phút mỗi ngày.

II-CHẨN ĐOÁN UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Một phần quan trọng của việc đánh giá bệnh ung thư tuyến tiền liệt là xác định các giai đoạn của bệnh, hoặc xác định ung thư đã di căn bao xa. Biết được giai đoạn sẽ giúp xác định chẩn đoán và rất hữu ích khi lựa chọn phương pháp điều trị. Phổ biến nhất là hệ thống phân loại TNM (viết tắt của các từ khối u/hạch/di căn tumor/nodes/metastasis) gồm 4 giai đoạn. Các thông tin của hệ thống này bao gồm kích thước của khối u, số lượng hạch bạch huyết có liên quan, và sự hiện diện của bất kỳ di căn nào khác.

Sự phân biệt quan trọng nhất đối với bất kỳ hệ thống chia giai đoạn ung thư nào đó là ung thư vẫn còn nằm giới hạn trong tuyến tiền liệt hay đã di căn ra ngoài. Trong hệ thống TNM, giai đoạn ung thư lâm sàng T1 và T2 chỉ nằm trong tuyến tiền liệt, còn T3 và T4 có nghĩa là ung thư đã di căn sang nơi khác. Có thể thực hiện thêm một số thử nghiệm để tìm ra bằng chứng di căn, bao gồm chụp cắt lớp điện toán (CT) để đánh giá lan truyền trong khung xương chậu, sử dụng kỹ thuật ảnh nhận phóng xạ (scintigraphy) xương để tìm các di căn đến xương, và chụp cộng hưởng từ xoắn ốc nội trực tràng (endorectal coil MRI) để xem xét cẩn thận các nang tuyến tiền liệt và túi tinh.

Sau khi làm sinh thiết tuyến tiền liệt, một nhà nghiên cứu bệnh học sẽ xem xét các mẫu dưới kính hiển vi. Nếu có sự hiện diện của ung thư, nhà nghiên cứu bệnh học sẽ báo cáo tình trạng cấp độ của khối u. Cấp độ này cho biết có bao nhiêu tế bào khối u khác nhau từ các mô tuyến tiền liệt bình thường và cho biết khối u có khả năng phát triển nhanh như thế nào. Hệ thống Gleason được sử dụng để chia cấp độ các khối u tuyến tiền liệt từ 2 cho đến 10. Chia giai đoạn theo kiểu Whitmore-Jewett là một phương pháp khác đôi khi cũng được sử dụng.


1-Thử máu PSA :

(Phương pháp thử Kháng nguyên Đặc hiệu Tuyến tiền liệt (Prostate Specific Antigen) (PSA):

Kết quả cho thấy xem có sự gia tăng nào trong chất đạm đặc hiệu này hay không.Tùy vào kết quả có thể cần các xét nghiệm khác bởi một bác sĩ chuyên khoa. Một kết quả thử PSA cao không nhất thiết là bị ung thư. Các bệnh khác của tuyến tiền liệt ngoài ung thư cũng có thể gây ra mức PSA cao hơn bình thường.

Xét nghiệm PSA làm tăng khả năng phát hiện bệnh ung thư tuy nhiên vẫn không làm giảm tỷ lệ tử vong. nếu bệnh nhân có PSA trên 20 ng/ml thì có nguy cơ cao mắc bệnh. Trường hợp nghi ngờ bị ung thư tuyến tiền liệt thường được xác định bằng cách lấy sinh thiết tuyến tiền liệt và kiểm tra dưới kính hiển vi. Các kiểm tra sau đó, chẳng hạn như quét CT và chụp cắt lớp xương, có thể được thực hiện để xác định di căn.
2-Khám trực tràng bằng ngón tay (Digital Rectal Examination (DRE):

Khám trực tràng giúp phát hiện khối u, đánh giá tuyến tiền liệt về mật độ, kích thước, mức độ xâm lấn xung quanh, tình trạng của thành trực tràng….

Do vị trí của tuyến tiền liệt, bác sĩ khám trực tràng bằng ngón tay có mang găng và bôi trơn để kiểm tra kích thước của tuyến tiền liệt và đánh giá xem có bất thường nào không. Một kết quả DRE bình thường không loại trừ khả năng có ung thư tuyến tiền liệt.
3-Sinh thiết

Nếu các xét nghiệm cho thấy quý vị có khả năng mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, giai đoạn kế tiếp là xét nghiệm sinh thiết. Sinh thiết là cách duy nhất để chẩn đoán xác định ung thư tuyến tiền liệt. Bác sĩ chuyên khoa đường tiết niệu lấy những mẫu mô nhỏ ở tuyến tiền liệt bằng những mũi kim thật nhỏ và rỗng, theo sự hướng dẫn của siêu âm. Bác sĩ tiếp cận tuyến tiền liệt qua đường trực tràng (transrectal) hoặc đáy chậu (transperineal) tức là vùng nằm giữa hậu môn và bìu dái.

Xét nghiệm sinh thiết thường là thủ thuật ngoại trú và bác sĩ sẽ có thể khuyên uống trụ sinh sau đó để giảm nguy cơ nhiễm trùng. Mô được gửi cho bác sĩ chuyên khoa bệnh học để tìm xem các tế bào là ác tính (ung thư) hay lành tính (không phải ung thư).
4-Siêu âm nội trực tràng :
Phương pháp này cho phép đánh giá rõ hơn sự lan tràn của khối u và các mạch máu lân cận.
5-Chụp cắt lớp vi tính

Chụp cắt lớp vi tính vùng tiểu khung có giá trị xác định di căn hạch vùng chậu, mức độ xâm lấn của khối u.


6-Chụp cộng hưởng từ (MRI)

Kỹ thuật chẩn đoán này mang tính chính xác cao hơn, giúp đánh giá mức độ xâm lấn của khối u vào các tổ chức xung quanh và hạch vùng.


7-Xạ hình xương

Đánh giá tình trạng di căn xương chính xác hơn so với kỹ thuật chụp X-quang thông thường.


III-ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT THEO TÂY Y :

Điều trị cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt có thể lựa chọn các phương pháp như phẫu thuật, xạ trị, xạ phẫu, và liệu pháp proton. Các phương pháp điều trị khác, chẳng hạn như liệu pháp nội tiết tố, hóa trị, phương pháp cắt lạnh, và HIFU (sóng siêu âm tập trung cường độ mạnh), tùy thuộc vào kịch bản lâm sàng và kết quả mong muốn.


Vấn đề tuổi tác và sức khỏe cơ bản của người đàn ông, mức độ di căn, hình dạng khối u dưới kính hiển vi, và đáp ứng của bệnh ung thư với các điều trị ban đầu rất quan trọng trong việc tiên lượng bệnh. Quyết định có hay không điều trị ung thư tuyến tiền liệt cục bộ (khối u được chứa trong tuyến tiền liệt) với mục đích chữa bệnh là sự đánh đổi của bệnh nhân giữa lợi ích được mong đợi và những ảnh hưởng có hại về thời hạn tồn tại và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1-Phẫu thuật

Các phương pháp điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn xương chủ yếu là:



Phẫu thuật được thực hiện để điều trị tình trạng gãy xương do ung thư di căn tới. Phẫu thuật cũng là biện pháp được áp dụng thường xuyên trong trường hợp ung thư tuyến tiền liệt di căn cột sống và chèn ép lên tủy sống. Người bệnh có thể trải qua phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn hay lấy toàn bộ tuyến tiền liệt để giảm bớt nồng độ testosterone, giúp hạn chế tình trạng đau xương do di căn và đồng thời kiểm soát sự lây lan của ung thư.

Phẫu thuật cũng được áp dụng với trường hợp u tái phát sau xạ trị ngoài, xạ áp sát, không có di căn xa. Một số trường hợp phẫu thuật kèm theo vét hạch chậu. Lợi ích của phẫu thuật bao gồm kiểm soát được ung thư lâu dài, PSA giảm rõ rệt sau phẫu thuật, tiên lượng bệnh chính xác sau mổ.


2-Điều trị nội tiết

Điều trị nội tiết nhằm mục đích loại bỏ androgen là yếu tố kích thích sự phát triển ung thư tuyến tiền liệt. Các phương thức bao gồm cắt bỏ tinh hoàn hai bên và dùng thuốc kháng androgen, có tác dụng kéo dài thời gian sống của bệnh nhân, sau khi đã cắt bỏ tinh hoàn, và có thể điều trị lâu dài.


3-Điều trị hóa chất

Chỉ định cho các trường hợp thất bại với điều trị nội tiết. Nói chung phương pháp này ít được áp dụng vì tính hiệu quả không cao.

Theo các chuyên gia, bệnh nhân có thể sử dụng thuốc docetaxel khi ở giai đoạn cuối, ung thư tuyến tiền liệt di căn tới xương để hỗ trợ giảm đau và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Các loại thuốc hóa trị khác cũng có thể được sử dụng để giảm bớt những triệu chứng khó chịu cho bệnh nhân ung thư.

Các loại thuốc làm giảm nồng độ testosterone cũng có thể được dùng để điều trị bệnh ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn cuối, khi ung thư đã di căn đến xương và nhiều vùng trên cơ thể. Các loại thuốc này có tác dụng làm chậm sự tăng trưởng của khối u nguyên phát và lây lan của tình trạng ung thư di căn, giúp kéo dài thời gian sống của bệnh nhân. Ngoài ra, thuốc điều trị nội tiết tố cũng giúp làm giảm đau xương hiệu quả cho những bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt di căn xương.
4-Điều trị tia xạ

Điều trị tia xạ bao gồm xạ trị ngoài và xạ trị áp sát. Xạ trị ngoài không chỉ định với những bệnh nhân có tiền sử xạ trị tiểu khung, viêm trực tràng, tiêu chảy mạn tính mức độ vừa và nặng, dung tích bàng quang nhỏ. Xạ trị ngoài có thể phối hợp với điều trị nội tiết, xạ trị thêm hạch chậu nếu bệnh nhân đang ở giai đoạn nặng. Xạ trị ngoài mang lại nhiều lợi ích như kiểm soát lâu dài được ung thư, giảm nguy cơ tiểu tiện không tự chủ, kiểm soát được ung thư tại vùng.



Xạ trị áp sát : chỉ định trong trường hợp điều trị đơn thuần nếu bệnh ở giai đoạn đầu. Bệnh nguy cơ cao có thể phối hợp với xạ trị ngoài. Xạ trị áp sát giúp kiểm soát u tại chỗ, đối với điều trị đơn thuần, xạ trị áp sát điều trị nhanh hơn xạ trị ngoài.
Xạ trị ngoài: là phương pháp sử dụng tia xạ xuất phát từ các máy xạ trị nằm bên ngoài cơ thể và tập trung chiếu vào khu vực di căn xương để thu nhỏ kích thước khối u, giảm chèn ép, phòng ngừa gãy xương, giảm đau xương hiệu quả.
Xạ trị trong: với phương pháp này, các bác sĩ sẽ đưa chất phóng xạ vào cơ thể bệnh nhân thông qua đường truyền tĩnh mạch và di chuyển tới những khu vực di căn xương do ung thư tuyến tiền liệt. Xạ trị trong được sử dụng với mục đích chính là giảm đau xương hiệu quả, cải thiện chất lượng sống và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.
Những phương pháp điều trị trên tuy có thể giúp người bệnh ung thư tuyến tiền liệt di căn xương kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng sống nhưng cũng đồng thời gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn như tình trạng mệt mỏi, sụt cân, tiêu hóa kém,… Do đó, khi được điều trị, bạn cần tuân thủ đúng hướng dẫn của các bác sĩ để có được hiệu quả chữa bệnh tốt nhất.
6-Cấy hạt phóng xạ :

GS-TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc BV Bạch Mai, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu đã áp dụng thử nghiệm phương pháp cấy hạt phóng xạ cho bệnh nhân ung thư tiến liệt tuyến cho biết : Phương pháp này cũng có thể điều trị ung thư vú, ung thư gan ... được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu áp dụng.

Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam điều trị thành công ung thư tuyến tiền liệt bằng phương pháp cấy hạt vi cầu phóng xạ.

Đây là một kỹ thuật hiện đại trong điều trị ung thư. Để triển khai được kỹ thuật rất phức tạp này, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa sâu như: Ung bướu, y học hạt nhân, chẩn đoán hình ảnh, thận – tiết niệu, ngoại tiết niệu, gây mê hồi sức…


Tại lễ công bố điều trị thành công cho bệnh nhân ung thư bằng phương pháp mới ngày 14/5, ông Nguyễn Đình Lộc (80 tuổi, Nghệ An) là một trong hai bệnh nhân được điều trị thành công chia sẻ: “Bản thân mắc rất nhiều bệnh, trong đó có ung thư tuyến tiền luyệt. Tôi được điều trị bằng phương pháp cấy hạt vi cầu phóng xạ. Thời gian phẫu thuật bằng phương pháp này rất nhanh, sau phẫu thuật tôi không thấy đau”.
Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt ngày càng tăng và tỉ lệ tử vong cũng rất cao. Cấy hạt phóng xạ điều trị ung thư tuyến tiền liệt là phương pháp xạ đưa các hạt phóng xạ vào trong tổ chức khối u. Phương pháp này có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư tại chỗ mà không hoặc ảnh hưởng rất ít tới mô lành xung quanh.

Phương pháp điều trị này giúp kiểm soát u tại chỗ cao (tỉ lệ kiểm soát bệnh 97%), thời gian và liệu trình điều trị ngắn, ít biến chứng, chức năng sinh lý của nam giới (liệt dương) ít hoặc không bị ảnh hưởng, tăng chất lượng cuộc sống.

Cấy hạt phóng xạ là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, tăng thời gian sống thêm, tăng chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm. Phương pháp này được chỉ định điều trị ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn sớm.

ĐIỀU TRỊ
Mặc dù các triệu chứng lâm sàng của UTTTL (ung thư tuyến tiền liệt) xuất hiện chậm, những tiến bộ trong phát hiện về chẩn đoán (PSA, siêu âm và sinh thiết) cho phép chẩn đoán ung thư trong giai đoạn khu trú để điều trị có kết quả. Hiện nay chưa có biện pháp hữu hiệu nào để điều trị UTTTL khi đã có di căn.
1.Giai đoạn ung thư khu trú
Các phương pháp:
1) Cắt bỏ toàn bộ TTL cùng với túi tinh và bóng tinh. Young (1964) đã đề xướng phương pháp này. Năm 1982, Walsh và Donker đã cải tiến phương pháp này bằng cách mổ sau xương mu, cầm máu kỹ tĩnh mạch sâu lưng dương vật và tránh làm tổn thương các cuống thần kinh mạch máu dẫn đến vật hang. Trước khi tiến hành phẫu thuật cắt bỏ TTL, cần nạo vét các hạch chậu và xét nghiệm tổ chức học tức thì. Tuy nhiên, đây là một phẫu thuật triệt để, nhưng phức tạp, tỷ lệ tử vong là 1%. Tỷ lệ đái rỉ sau mổ là 5%, tỷ lệ bất lực là 40-50%. Phẫu thuật cắt bỏ TTL cũng có thể được tiến hành qua đường tầng sinh môn. Nhìn chung phẫu thuật này chỉ dành cho những bệnh nhân dưới 60-65 tuổi.
2) Điều trị quang tuyến có khả năng điều trị triệt để, tuy thời gian sống khỏi bệnh sau 3 năm và 10 năm thấp hơn điều trị cắt bỏ bằng phẫu thuật. Điều trị quang tuyến từ bên ngoài với tổng liều diệt u là 6000-7000 rads, với liều 200 rads mỗi ngày, trong 5-6 tuần. Đây là phương pháp điều trị quang tuyến thông dụng nhất. Các biến chứng bao gồm viêm bàng quang, viêm trực tràng, phù chi dưới, ỉa chảy, bất lực.
3) Điều trị quang tuyến khác là cắm kim 1251 phóng xạ vào ngay TTL. Nhờ vậy, các tác dụng phụ được giảm bớt. Trong một số trường hợp, kết hợp 2 phương pháp trên: cắm vùng phóng xạ 198 AU với liều 3000-3500 rads kết hợp với điều trị quang tuyến từ bên ngoài (6000-7000 rads).Trong mọi trường hợp, kiểm tra hiệu quả điều trị bằng định lượng PSA huyết thanh. Trong trường hợp có ung thư xâm lấn ở rìa TTL, nên kết hợp điều trị với quang tuyến hay điều trị bằng hormon.
Chỉ định:

a) Cắt bỏ triệt để TTL được sử dụng cho các bệnh nhân tương đối còn trẻ, khỏe mạnh, kỳ vọng sống trên 10 năm, lúc ung thư ở các giai đoạn T1 và T2.


b)Điều trị quang tuyến được áp dụng cho các bệnh nhân cao tuổi hơn, lúc ung thưở giai đoạn T2 và T3.
2.Giai đoạn ung thư đã di căn
Lúc ung thư đã di căn, điều trị chỉ là tạm thời. Điều trị bằng hormon dựa trên các công trình của Huggins C.B (1941). Chuyển hóa của các tế bào UTTTL phụ thuộc vào androgen, sau khi được biến thành dihydrotestoteron.Tinh hoàn sản xuất 90% androgen, dưới dạng testosteron. Phần androgen còn lại xuất phát từ vỏ thượng thận. Hormon LH (Luteinizing hormon), dưới sự điều khiển của LHRH (LH releasing hormon), chỉ huy sự sản xuất testosteron của tinh hoàn. Để tránh tác động của androgen đối với các tế bào UTTTL, có thể cắt bỏ tinh hoàn bằng phẫu thuật, cắt bỏ tinh hoàn bằng thuốc, với estrogen steroid, ức chế các thụ thể của androgen với các lợi kháng androgen.
Các phương pháp và thuốc được sử dụng
a) Cắt bỏ tinh hoàn hai bên cũng có thể thực hiện bằng cách cắt bỏ mô của tinh hoàn dưới bao.
b) Các estrogen được sử dụng dưới dạng diethylstilboestrol, một loại estrogen tổng hợp, có tác dụng ức chế sản xuất LH của tuyến yên, do đó hạn chế sự tiết testosteron. Estrogen cũng ức chế men 5 alpha-reductase ở ngay khu vực TTL. Người ta cũng dùng diphosphat dietylstilboestrol (ST52) và chlolrotrianisen (TACE). Liều dùng duy trì là 1-2mg/ngày. Nguy cơ của loại thuốc này là gây biến chứng về tim mạch.
c) Sau khi Sally phát hiện cấu trúc của LHRH, người ta tìm ra được những chất tương tự LHRH, nhưng mạnh hơn rất nhiêu lần. Nếu được sử dụng kéo dài. LHRH sẽ gây ức chế LH, sau một đợt kích thích LH. Vì vậy nên dùng các chất kháng androgen 15 ngày trước khi dùng các loại thuốc này. Các loại thuốc thường dùng là: buserelin, leuprolid, zoladex, dưới dạng tiêm hay viên nhỏ đặt dưới da.
d) Các loại kháng androgen bao gồm các thuốc ức chế tổng hợp androgen và các thuốc ức chế tác dụng của androgen.
+Các thuốc ức chế tổng hợp androgen, bao gồm aminoglute thimide, ketoconazole, và spironnolactone. Bằng cách tác động trên các men phụ thuộc cytochrome P450, ketoconazole ức chế tổng hợp androgen của tinh hoàn và của thượng thận. Tác dụng nhanh và mạnh nhưng lại gây nhiều tác dụng phụ như nôn và độc với gan.
+Các thuốc ức chế tác dụng của androgen bao gồm loại kháng androgen steroid (cyproteron acetat) và các loại kháng androgen không steroid (nilutamid và flutamid). Bằng cách tranh giành các thụ thể của dihydrotestosteron, các thuốc này ít gây tác dụng phụ.
Chỉ định

-Lúc ung thư ở giai đoạn T3, không sử dụng phẫu thuật, mà điều trị bằng hormon hay quang tuyến.

-Khi ung thư ở giai đoạn T4, cắt tinh hoàn hai bên kết hợp với các loại kháng androgen (flutamid) là biện pháp thông dụng nhất.


3.Giai đoạn thoát ly của UTTTL
Lúc này không còn có sự đáp ứng với điều trị hormon nữa. Nên sử dụng các loại estrogen liều cao, hoặc loại kháng androgen mạnh như ketoconazol. Biện pháp cuối cùng là sử dụng các hóa chất như cyclophosphamid, 5 fluorouracil (5FU), estramustin phosphat, và thuốc mới nhất được sử dụng suramin.
4.Điều trị các biến chứng do ung thư gây nên

Bí đái-vô niệu : Cắt nội soi u TTL để bệnh nhân đi tiểu theo đường tự nhiên. Khi tắc niệu quản, dẫn lưu thận qua da hay đặt ống thông chữ J lên niệu quản.Chống đau xương do di căn. Sử dụng các thuốc chống đau, hoặc điều trị quang tuyến (2000-3000 rads). Gần đây strontium 80 được đem sử dụng có hiệu quả


KẾT LUẬN
UTTTL, đặc biệt thể tiềm tàng, khá phổ biến đã có xu hướng tăng cùng với tuổi thọ. Việc điều trị chỉ có hiệu quả lúc ung thư còn khu trú ở TTL.Các phương tiện thăm khám và xét nghiệm, đặc biệt định lượng PSA huyết thanh, cho phép chẩn đoán sớm UTTTL. Chiến thuật điều trị phải được cân nhắc thận trọng vì các phương tiện chẩn đoán và điều trị chưa thật hoàn hảo, trong khi tiến triển của UTTTL thường chậm và diễn biến khác nhau đối với từng bệnh nhân.

V-ĐIỀU TRỊ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG ĐÔNG Y
1) Phác đồ điều trị : Sâm kỳ dung tiên thang

(Phương Bá Anh, Học viện Trung Y Thượng Hải, Trung Quốc, điều tri 1 ca UTTTL di căn vào hạch lymphô hố chậu trái, khỏi trước mắt).

Dược liệu :

Sinh Hoàng kỳ, Xuyên sơn giáp, Thổ phục linh, Bạch hoa xà thiệt thảo đều 15g, Đảng sâm, Tiên linh tỳ, Kỷ tử, Hà thủ ô chế, Ngưu tất, Thất diệp nhất chi hoa, Bạch thược đều 12g, Nhục thung dung, Ba kích, Đại hoàng chế, Tri mẫu, trích Cam thảo đều 6g, Hoàng bá sao 10g.

Gia Giảm :

-Đái ra máu, thêm: Tiểu kế, Hạn liên thảo, Sinh địa, A giao.

-Tiểu khó, thêm: Trầm hương, Uất kim, Ô dược.

-Tiểu vàng đục, thêm: Xa tiền tử, Biển súc, Cù mạch, Kim tiền thảo, Hoạt thạch, Tỳ giải.


2) Phác đồ điều trị 1 của Đức Thọ Đường và Thọ Xuân Đường
2.1.Viên nang Tinh Nghệ Vàng 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

2.2.Viên nang Kháng Nham 600mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

2.3.Viên nang Kháng Nham 2 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 2 viên.

2.4.Viên nang KTTL 500mg. Ngày 4 lần, mỗi lần 3 viên.


3)Phác đồ điều trị 2 của Đức Thọ Đường và Thọ Xuân Đường
3.1.Hoàn Tinh nghệ vàng 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên

3.2.Hoàn Kháng Nham 3 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 4 viên.

3.3.Hoàn KTTL 1g. Ngày 3 lần, mỗi lần 2 viên.
Với quan điểm của y học cổ truyền trong việc nhận diện bệnh này như sau:

+ Thận Nguyên Hư Suy:

Người lớn tuổi, thân thể suy yếu hoặc phòng lao làm cho tinh bị hao tổn, âm tổn khiến cho dương và thận nguyên bị suy yếu, mệnh môn hỏa suy, không cố nhiếp được, tinh quan không vững, tinh không bế tàng được thì phải tiết ra.

+ Tinh Cung Bị Ứ Trở:

Thấp nhiệt lâu ngày không được thanh đi, tướng hỏa lâu ngày không tiết ra được, tinh bị ứ lại thành trọc, tinh ứ lâu ngày, tinh đạo, tinh cung, khí huyết bị ngưng kết gây nên.

+ Do Phế nhiệt, khí uất, không thông điều được thủy đạo, nhiệt tà rót xuống bàng quang.


Triệu Chứng :

Thường xẩy ra rối loạn về tiểu tiện ở tuổi 60-65: Nhẹ thì thường không có triệu chứng chỉ khi nào bị viêm mới thấy các triệu chứng: tiểu gắt, tiểu buốt, nhất là lúc mới bắt đầu tiểu, tiểu khó, có khi nước tiểu ra thành 2-3 tia. Cảm thấy khó tiểu hết lượng nước tiểu, tiểu không hết dễ khiến cho tiểu ra quần gây nên sự khó chịu. Đêm phải thức dậy đi tiểu 3-4 lần hoặc nhiều hơn. Vừa đi tiểu xong lại cảm thấy muốn tiểu tiếp. Lâu dần có thể bị bí tiểu. Bí tiểu xẩy ra bất thình lình, khi bị mệt mỏi, sau khi uống rượu hoặc ăn uống nhiều.

Theo YHCT, trên lâm sàng thường gặp các loại sau:




.Thấp Nhiệt Hạ Chú:

Tiểu nhiều, tiếu gắt, tiểu buốt, đường tiểu nóng, đau, đường tiểu thường có chất trắng đục dính như mỡ tiết ra, vùng hội âm trướng đau, đau lan đến bụng dưới, xuống xương cùng, âm hành và đùi, toàn thân lúc nóng lúc lạnh, nước tiểu vàng, đỏ hoặc đau, tiểu ra máu, táo bón, miệng khô, đắng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bệu, mạch Hoạt Sác.


Điều trị:

Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm hóa trọc. Dùng bài Bát Chính Tán Gia giảm: (Cù mạch, Mộc thông, Xa tiền tử, Biển súc, Hoạt thạch, Đăng tâm, Chi tử, Đại hoàng, Cam thảo. Sắc uống.

Cù mạch lợi thấp thông lâm, thanh nhiệt lương huyết; Mộc thông, Đăng tâm thanh tâm hỏa, mà hóa thấp trọc; Xa tiền tử, Biển súc, Chi tử thanh Can nhiệt, thông Bàng quang; Đại hoàng thông phủ tả nhiệt; Cam thảo hoãn cấp chỉ thống.




Bạn có thể tham khảo bài thuốc này nhé:

Thanh nhiệt giải độc, tiết hỏa thông lâm. Dùng bài Hoàng Liên Giải Độc Thang hợp với Ngũ Thần Thang và Bát Chính Tán. Hoàng liên, Hoàng cầm, Hoàng bá, Chi tử, Kim ngân hoa, Địa đinh, Xa tiền tử, Xích linh, Ngưu tất, Mộc thông, Biển súc, Hoạt thạch, Đại hoàng, Cam thảo, Cù mạch, Đăng tâm.


(Hoàng liên, Hoàng bá, Hoàng cầm, Chi tử, Kim ngân hoa, Địa đinh thanh tả hỏa độc ở Tam tiêu; Xa tiền tử, Xích linh, Mộc thông, Biển súc, hoạt thạch, Cù mạch, Đăng tâm, Cam thảo để tiết hỏa thông lâm, khiến cho độc nhiệt theo đường tiểu thoát ra ngoài; Đại hoàng thông phủ tả hỏa, tán nhiệt kết, trừ trọc độc; Ngưu tất dẫn thuốc đi xuống bên dưới).

Bài này chủ trị nhiệt Độc thấp Thịnh:

Lạnh nhiều, sốt cao, khát muốn uống, vùng hội âm sưng đỏ, nóng, đau, tiểu nhiều, tiểu gắt, đường tiểu buốt, đi tiểu không thấy thoải mái, tiểu ra mủ máu, táo bón, bụng dưới đau, hậu môn nặng, đau, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền, Hoạt Sác.




Dùng Vương bất lưu hành25g, Xích thược 15g, Nguyên hồ sách 15g, Mộc thông 10g, Cam thảo 5-10g, Hoàng bá 25g, Bại tương thảo 25g, Bồ công anh 25g, Đan sâm 15g, Xuyên sơn giáp 15g, Tạo giác thích 15g. Nếu thuộc dạng âm hư thêm Quy bản, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử để bổ Thận âm. Nếu dương hư thêm Bổ cốt chỉ, Nhục thung dung, Ba kích thiên để giúp cho thận dương


Phản hồi :

Chồng em cũng bị ung thư ( viết tắt là k,) tuyến tiền liệt 3 năm nay rồi, cách đây 4 tháng em được giới thiệu một địa chỉ có bài thuốc đông y của Trung Hoa rất hay ở Hà Nội, em lấy thuốc cho chồng em uống đến nay là 8 tháng và sức khỏe chông em đã rất ổn, đi chụp lại thấy khối u giảm đi rất nhiều. Mọi biểu hiện bí tiểu cũng như tiểu ra máu đã gần như không còn, có điều cảm giác đau bụng dưới vẫn chữa hết hẳn. Bác sĩ viện k khuyên tiếp tục uống vì so với kết quả trước thấy rất khả quan.


Năm ngoái ông nội mình cũng bị những triệu chứng như trên, nhưng đi khám thì lại có kết quả là bị phì đại lành tính tuyến tiền liệt. Sau đó uống viên crili và crila của công ty dược phẩm thiên dược,loại thuốc này được làm từ cây trinh nữ hoàng cung nghe nói chữa bệnh này rất tốt.Ông uống được 6 tháng nhưng chẳng có biến chuyển gì, các triệu chứng bí tiểu và tiểu ra máu ngày càng nhiều và nặng hơn. Sau đó gia đình mình mới cho ông đi khám lại thì hóa ra ông bị ung thư tuyến tiền liệt. Được một bác cũng bị bệnh này đi khám lại định kỳ cho địa chỉ đúng như địa chỉ bạn ( thanhmappr ) chia sẻ ở trên. Bố mình cũng lấy thuốc ở đây cho ông uống được 7 tháng. Đến nay đi kiểm tra xét nghiệm chỉ số tế bào ác tính chỉ còn 10% so với ngày đầu uống thuốc, khối u cũng giảm đáng kể. Đi tiểu không còn buốt và cũng không còn máu, nhìn chung là sức khỏe của ông rất tốt. Bố mình cũng đang uống thuốc chữa bệnh thoát vị đĩa đệm ở đây cũng thấy rất hiệu nghiệm. Rất vui được chia xẻ, chúc bạn sẽ sớm gặp thầy gặp thuốc.


Thêm phương thuốc điều trị bệnh tiền liệt tuyến :


- Thận Dương Suy Yếu:

Tiểu nhiều, nước tiểu trong, nước tiểu ra không hết, lưng đau, hoạt tinh, bạch trọc, cơ thể nặng, chân tay lạnh, liệt dương hoặc phù thũng, nước da trắng nhạt, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế Trì

Điều trị: Ôn bổ Thận dương. Châm Mệnh môn, Thận du, Quan nguyên, Thái khê (Th 3), Âm cốc (Bí Cấp Châm Cứu).


Nhĩ Châm: Thận, Tiền liệt tuyến, Sinh dục ngoài, Thủy đạo, Giao cảm, Tam tiêu. Kích thích mạnh, lưu kim 30 phút. Ngày châm một lần, mười ngày là một liệu trình (Bí Cấp Châm Cứu).


Đầu Châm: Khu Sinh Dục. Sau khi châm kim vào, vê liên tục 200 cái. Ngày châm một lần, mỗi lần lưu kim 20 phút, mười ngày là một liệu trình (Bị Cấp Châm Cứu).


Thủy Châm: Bàng quang du (Bq 28), Thủy đạo (Ty 28) Quan nguyên (Nh 4). Dùng 10ml nước muối sinh lý (3%) chích vào mỗi huyệt 2ml. Mỗi lần chích 2 huyệt. 10 ngày là một liệu trình. (Bị Cấp Châm Cứu).


CHÂM CỨU
Cấp tính: Thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, đạo trệ.

Dùng huyệt Trung liêu, Khúc cốt, Âm lăng tuyền, Chi câu, Đại đôn. Nếu sốt thêm Đại chùy, Khúc trì Tiểu ra máu thêm Huyết hải. Tiểu buốt nhiều thêm Thủy đạo. Châm tả, lưu kim 30 phút, mỗi ngày châm một lần, 10 ngày là một liệu trình (Bí Cấp Châm Cứu).


Nhĩ Châm: Tiền liệt tuyến, Bàng quang, Cao hoàn, Thận thượng tuyến, Nhĩ tiêm. Kích thích vừa, lưu kim 30 phút. Ngày một lần, 10 ngày là một liệu trình (Bí Cấp Châm Cứu).
Nhĩ Châm: Tiền liệt tuyến, Dịch hoàn, Bàng quang, Niệu đạo, Thượng Thận, Nhĩ tiêm. Kích thích vừa, lưu kim 30 phút. Ngày châm 1 lần, 10 lần là một liệu trình (Bí Cấp Châm Cứu).

+ Mạn Tính


Hàn Ngưng Ở Kinh Can:

Bụng dưới đau lan đến dịch hoàn, chườm ấm thì dễ chịu, bụng lạnh, vùng cơ quan sinh dục lạnh, phân lỏng, nát, có khi tiểu ra chất dính đục, rêu lưỡi trắng nhuận, mạch Trầm, Trì, Huyền.

Điều trị:

Hoãn Can, hòa lạc. Dùng huyệt Đại đôn, Khúc tuyền, Quan nguyên, Tề hạ tam giác cứu.

.Thấp Nhiệt Hạ Chú:

Tiểu ít, ngắn, tiểu buốt, nước tiểu vàng đậm hoặc có lẫn máu, miệng khô mà đắng, vùng hội âm đau, có khi bị di tinh, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, bệu, mạch Hoạt Sác.

Điều trị: Thanh lợi thấp nhiệt. Châm Trung Cực, Âm lăng tuyền, Tam âm giao, Tinh cung (Bị Cấp Châm Cứu).


.Thận Âm Bất Túc: Thắt lưng đau, chân mỏi yếu không có sức, lòng bàn tay bàn chân nóng, mồ hôi trộm, di tinh, đầu váng, mắt hoa, vùng sinh dục đau, có lúc cảm thấy đường tiểu nóng rát, lưỡi đỏ xậm, rêu lưỡi trắng, mạch Tế Sác.


Điều trị:

Dưỡng âm, ích Thận. Châm Thận du, Quan nguyên du, Tam âm giao, Thái khê, Trung Cực (Bí Cấp Châm Cứu).




Bạn
Hà Linh nói đúng lắm, đã may mắn hợp thuốc thì cố gắng ổn định tinh thần và niềm tin mà điều trị, thực sự là có được may mắn này không phải ai muốn mà có được. Bố tôi mới bị ở giai đoạn 2 thôi, nhưng vì ông bị huyết áp cao, tiểu đường và tim mạch nên bệnh viện không can thiệp. Cũng uống thuốc nhiều nơi nhưng không được, uống thuốc của anh Thanh Mai được 1 tháng anh ấy thấy không hiệu quả nên yêu cầu dừng lại vì bố mình không hợp với thuốc của anh ấy. Mình giới thiệu cho một anh cùng khu phố làm ở bộ LĐTBXH có bố bị bệnh này ở giai đoạn 3, đã sang Singapor nhưng không được, bệnh chuyển sang giai đoạn 4. Khi uống thuốc của anh Thanh Mai lại hợp thuốc vô cùng, sức khỏe được cải thiện rất nhiều, bệnh giảm trông thấy.

Thuốc hay, thầy giỏi mà cơ thể bệnh nhân không phù hợp thì cũng không có tác dụng. Ở Singapor đã nổi tiếng về chữa bệnh ung thư, có nhiều bệnh nhân điều trị thành công ở đây và sau này sống rất khỏe. Nhưng bố của anh bạn mình lại không có duyên may mắn với các cách điều trị của các bác sĩ ở đây nên cũng đành chấp nhận. Còn với bố tôi cũng vì điều kiện kinh tế không cho phép tôi đưa bố tôi sang đó.Bây giờ cả nhà đang rất bối rối về hướng điều trị cho bố mà mọi vấn đề rối tung rối mù cả lên.

Chiên, rán các thực phẩm ở nhiệt độ cao có thể kích hoạt sự hình thành chất gây ung thư trong cơ chế thực phẩm, đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ ung thư. Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng khi dầu được đun nóng đến nhiệt độ thích hợp để nấu chín thực phẩm các hợp chất gây ung thư trong thực phẩm dễ dàng được hình thành như: acrylamide (hình thành trong các thực phẩm giàu carbohydrate như khoai tây, các amin dị vòng và các hydrocacbon thơm đa vòng (hóa chất được hình thành khi thịt được nấu ở nhiệt độ cao), aldehyde (một hợp chất hữu cơ được tìm thấy trong nước hoa) và acrolein (một chất hóa học được tìm thấy trong thuốc diệt cỏ). Những hợp chất độc hại được tăng lên khi thời gian chiên kéo dài, và dầu được sử dụng lại nhiều lần.
Đặc biệt, những người đàn ông ăn một hoặc nhiều hơn một lần/1 tuần những thực phẩm được chế biến theo hình thức chiên, rán thì nguy cơ mắc ung thư tiền liệt tuyến cao hơn từ 30 đến 37% so với những người không ăn hoặc ăn ít. Các nhà nghiên cứu đã kiểm soát các yếu tố như tuổi tác, chủng tộc, gia đình, chỉ số ung thư tuyến tiền liệt, khối lượng cơ thể và PSA sàng lọc lịch sử khi tính liên quan giữa ăn thực phẩm chiên và nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt.

Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra lời khuyên cho một chế độ ăn lành mạnh: tiêu thụ nhiều rau xanh, hoa quả tươi, các loại thức ăn nên chế biến dưới dạng hấp, luộc hạn chế hình thức chiên, rán.


VI-BỆNH VỂ TUYẾN TIỀN LIỆT




1-QÚA TRÌNH TĂNG TRƯỞNG CỦA TUYẾN TIỀN LIỆT :
Tuyến Tiền Liệt được hình thành ở thai nhi nam từ tuần lễ thứ 12, đến tuổi trưởng thành, nó có hai công dụng như một cửa ngõ đóng mở cho nước tiểu hoặc cho tinh trùng phóng ra ngoài.

Tuyến ngưng tăng trưởng ở độ tuổi 45 và bắt đầu nẩy sinh ra những bệnh chứng làm trở ngại đường tiết niệu.



2-NGUYÊN NHÂN

Tuyến Tiền Liệt làm trở ngại đường tiểu do ảnh hưởng thay đổi, xáo trộn mất quân bình âm dương của 2 loại kích thích tố âm dương (Oestrogène và Androgène)

Nguyên nhân khác do thói quen thủ dâm, tinh trùng thoát ra bị giữ nghẽn lại tại ngả ba ống dẫn tiếu và ống thoát tinh, khiến sưng tuyến tiền liệt khiến đi tiếu rắt buốt và sau này đôi khi đi tiểu có lẫn tinh dịch.

3-TRIỆU CHỨNG

Qúa trình lão hóa của Tuyến Tiền Liệt là u xơ tuyến tiền liệt ở tuổi 65, tỷ lệ bệnh càng cao khi tuổi càng cao, nhất là ở lứa tuổi 80.

Bệnh u xơ tuyến tiền liệt chia làm 3 giai đoạn :

A-Gai đoạn 1 : Chưa có tổn thương thực thể :

Rối loạn đường tiểu như tiểu khó, tiểu ra chậm ít một, tiểu xong còn nhỏ giọt, mắc tiểu phải tiểu vội, nhưng cứ ra ít một và phải đi nhiều lần trong ngày và đêm, nhất là lúc gần sáng.



B-Giai đoạn 2 : Có tổn thương thực thể .

Bàng quang giãn làm ứ đọng nước, tiểu không thông, không ra hết, muốn đi tiểu nữa mà không ra, tiểu càng ngày càng khó, tiểu buốt, nước tiểu đục .



C-Giai đoạn 3 : Tổn thương nặng, xáo trộn chức năng thận.

Nước tiểu ứ đọng nhiều, có nhiễm khuẩn, cơ bàng quang mất trương lực, tiểu khó, rát, nhưng cứ rỉ ra liên tục và bàng quang bị căng, tràn đầy.

Có kèm theo dấu hiệu rõ rệt như thiếu máu, buồn nôn, kém ăn, phù, mệt mỏi, ưa buồn ngủ, cao áp huyết. Đông y gọi là tắc đưòng tiết niệu do thận suy ứ nước.

U xơ tuyến tiền liệt thì khối u mềm không đau, ngược lại khối u rắn chắc như đá, rờ nổi cục cứng là đã bị ung thư tuyến tiền liệt.

Trừ trường hợp ung thư phải cắt bỏ, còn các trường hợp khác như khó tiểu do tuyến tiền liệt bị sưng ở ngay chỗ cửa ngõ đóng mở thành khối u mềm, đông y xếp vào loại bệnh viêm tuyến tiền liệt.

CHỮA BẰNG HUYỆT

Day bổ là ấn ngón tay vào vị trí huyệt day thuận theo chiều kim đồng hồ 18 lần vừa bổ khí và huyết,

Day tả là ấn ngón tay vào vị trí huyệt day ngược chiều kim đồng hồ 6 lần.

1-VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT DO LÃO HÓA U XƠ :

Day tả Bàng Quang Du (BQ.28) Day bổ Thận Du (BQ.23)

Day tả Khúc Cốt (MN.2) Day bổ Tam Âm Giao (Tỳ 6)

Day bổ Quan Nguyên (MN.4) Day tả Đại Đôn (C.1)

Day tả Trường Cường (MN. 1) Châm Thứ Liêu nặn máu (BQ.32)











2-VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT MẠN TÍNH :

Chân nặn máu Yêu Du (MĐ.2) Day bổ Trung Cực (MN. 3)

Day bổ Bách Hội (MĐ.20) Day bổ Đại Hách (Th.12)

Day bổ Tam Âm Giao (Tỳ 6) Day tả Thứ Liêu (BQ.32)














3-VIÊM TUYẾN TIỀN LIỆT CẤP TÍNH :

Day bổ Khí Hải (MN.6) Day tả Huyết Hải (Tỳ 10)

Day tả Âm Lăng Tuyền (Tỳ 9) Day tả Tam Âm Giao (Tỳ 6)

Day tả Thái Khê (Th.3) Day tả Chiếu Hải (Th.6)

Châm nặn máu Thứ Liêu (BQ.32)





























VII-CÁCH CHỮA THEO Y HỌC BỒ SUNG THỰC DỤNG :
A-TẬP 3 BÀI KHÍ CÔNG CĂN BẢN :
1-Bài Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mền Bụng 300 lần/ngày, ngày 3-5 lần
Công dụng : Tiêu ứ thấp, thông khí huyết toàn thân trao đổi tế bào chất, phục hồi chức năng tế bào.

DC40-1 Kéo ép gối thở ra làm mềm bụng

https://www.youtube.com/watch?v=pkms8wHh5Tk


https://www.youtube.com/watch?v=sV3jh2zXRZs&t=2s
Nằm ngửa :
Hai bàn tay đan lại với nhau, cầm đầu gối bên trái trước. Khi bắt đầu cầm đầu gối thì miệng thổi hơi ra tù từ và bụng hóp dần xuống cùng lúc kéo đầu gối vào chạm đến bụng thì vừa hết 1 hơi đã vừa thổi ra, lúc đó hai tay vẫn giữ cho đầu gối sát bụng, bụng hóp vào thả lỏng mềm, hơi mở miệng ra nghỉ 1-2 giây không hít vào thở ra gì cả. Đó là xong động tác kéo 1 bện gối trái, rồi bỏ tay cho chân duỗi thẳng, nghỉ.

Hai tay lại cầm sang đầu gối phải bắt đầu thổi hơi trong miệng ra từ từ kéo từ từ đầu gối phải vào sát bụng giữ lại là hết 1 hơi thổi ra thì thả lỏng miệng, bụng cũng hóp vào không được làm cơ bụng căng cứng hay phồng lên, mà thả lỏng, là xong động tác kéo gối phải thì duỗi chân phải xuống, lại bắt đầu kéo đầu gối trái thổi hơi trong miệng ra cùng lúc kéo ép sát gối trái vào sát bụng giữ nguyên, thả lỏng miệng, lỏng cơ bụng xong, lại bắt đầu kéo đầu gối bên phải, cứ kéo bên này 1 lần đến bên kia 1 lần, khi bắt đầu kéo thì miệng thổi hơi ra cho đến khi đầu gối ép sát bụng mới hết 1 hơi, như vậy chỉ có miệng thổi hơi ra rồi ngh3 thổi hơi khác cho mỗi chân, mà không có thì hít vào.

Tập sai là thổi hơi hết ra xong mới kéo gối, hay kéo gối xong mới thổi hơi trong miệng ra vô tình ép thức ăn lên cổ họng làm trào nước chua hay thức ăn và dồn khí ép vào tim ngực gây khó thở.

Thở ra thì bụng phải xẹp xuống, không gồng. Bụng cần phải được xẹp xuống sâu và mềm. - Thổi hơi ra bằng miệng cho cả 2 loại áp huyết cao hay thấp, bài tập chỉ chú trọng ép bao tử, gan, ruột chuyển hóa thức ăn và cho đường glucose chuyển hóa thành glycoprotein và glycolpid



Cứ thay phiên đổi chân (bên chân trái 1 lần xong chân bên phải 1 lần) có công dụng thông khí huyết toàn thân, chuyển hóa thức ăn bổ thành chất bổ là máu và mỡ lỏng, máu nuôi thịt, mỡ nuôi gân xương, giúp chức năng hoạt động co bóp của gan, bao tử, ruột, thận làm việc đồng bộ, thay cũ đổi mới máu cho các tế bào, chữa được bệnh ăn không tiêu, đau gan, bao tử, ruột, thận, chữa được bệnh đau đầu gối, đau lưng, xệ ruột, bệnh trĩ, tử cung, tuyến tiền liệt, táo bón, tiêu chảy, rối loạn đường tiểu, tiểu ít tiểu nhiều, tiểu đêm, sạn thận, sạn bàng quang, chóng mặt, nhức đầu, tê đau lạnh đầu ngón tay chân.
2-Nạp Khí Trung Tiêu 3 động tác :
Nạp Khí Trung Tiêu 3 động tác : Bài tập tiêu mỡ bụng, chữa sưng phù, mạch phì đại. Mỗi lần tập 5 lần. Mỗi ngày tập 3-5 lần
https://youtu.be/tkcnZdHP_oc
3-Đứng Tấn Ngũ Hành :
Chữa bệnh tuyến tiền liệt, mỗi lần tập đứng lâu từ 1 phút đến 10 phút, mỗi ngày tập 3-5 lần, đo PSA sẽ giảm thấp dần. Bài tập này chữa bệnh hay bị đi tiều đêm, hay bị vãi đái không tự chủ.
https://www.youtube.com/watch?v=7Zb8mQiqihQ
B-DÙNG THUỐC VIÊN : KIM TIỀN THẢO
Là thuốc dược thảo tên Lá Cỏ Đồng Tiền, mua ở tiệm thuốc bắc đã làm thành viên, mang tên thương mại là Kim Tiền Thảo, là loại thuốc thông tiểu, chữa ứ tắc đường tiểu, chữa sạn thận bàng quang và tuyến tiền liệt, làm hạ PSA.
Mỗi tối uống 5 viên trước khi đi ngủ, sáng dậy uống 5 viên trước khi đi tiều. Khi đi tiểu thông bình thường, ấn đè tuyến tiền liệt không con sưng đau, tiểu hết rát, hết ra máu, nước tiểu hết vẩn đục thì ngưng.
Có thể ngừa bệnh mỗi tháng uống 3 ngày.
Bệnh tiểu nhiều, tiểu ít, tiểu đêm cũng liên quan đến đường-huyết thấp, cần kiểm soát lượng đường, trước khi đi ngủ đường-huyết 140mg/dL=8.0mmol/l thì tốt, khi ngủ dậy sẽ còn 100mg/dL=6.0mmol/l thì ngủ ngon thẳng giấc không bi đi tiểu đêm, sáng dậy không mệt mỏi.
Nếu trước khi đi ngủ đường-huyết dưới 100mg/dL= 6.0mmol/l sẽ ngủ không ngon giấc hay đi tiểu đêm, và sáng ngủ dậy mệt mỏi bần thần mệt tim không muốn dậy, nếu đo đường-huyết sẽ thấp khoảng 80mg/dL= 5.0mmol/l.

Каталог: 2017
2017 -> Trần thế phi ẩn dụ Ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng việT
2017 -> Đề tài: “Tư tưởng Nho giáo của Nguyễn Công Trứ và ý nghĩa của nó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam”
2017 -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn nguyễn Thanh Huyền
2017 -> Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống
2017 -> Bác Hồ tham gia Tết trồng cây tại Bất Bạt
2017 -> Bộ y tế HƯỚng dẫn giám sát trọng đIỂm lồng ghéP
2017 -> Bộ giao thông vân tải cục hàng không việt nam
2017 -> Số: /TTr-btc
2017 -> Bộ thông tin và truyềN thôNG
2017 -> Phát biểu khai mạc kỳ HỌp thứ , quốc hội khóa XIV của chủ TỊCH quốc hội nguyễn thị kim ngâN

tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương